Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Phật học khái lược 1

Phật học khái lược 1

Tác giả: Tỷ-kheo Thích Quang Nhuận. Năm xuất bản: 2004. Số trang: 294.

Chương 25: 24. Đạo Đế(tt) (Trang 233 - 240)

 

ĐẠO ĐẾ (tt)
(Niroddha Gamadukkha)
Bát Thánh Đạo
A. MỞ ĐỀ
Bát Thánh đạo là khoa cuối cùng trong bảy khoa của 37 phẩm trợ đạo. Nó được xem là pháp môn căn bản và được nhắc đến nhiều nhất trong kho tàng giáo lý Phật giáo. Bát Thánh đạo là giáo lý bao hàm hết tất cả bảy khoa mà chúng ta đã được học từ trước. Vì thế, thay vì nói đầy đủ 37 phẩm trợ đạo, chúng ta trình bày Bát Thánh đạo thì cũng đã đầy đủ tất cả ý nghĩa của Đạo đế. Con đường tám chi này là con đường trung đạo, phù hợp với mọi căn cơ, mọi thời đại, phương sở. Đối với tiểu thừa cũng như đại thừa, Tây phương cũng như Đông phương ai ai cũng đều công nhận giá trị cao quý, vi diệu của Bát Thánh đạo. Chúng ta có thể đi đến giải thoát, Niết-bàn bằng các pháp môn khác như Tịnh độ tông, Mật tông... Nhưng xét cho cùng thì hành giả vẫn vận dụng các chi phần của Bát Thánh đạo. Vì thế, chúng ta có thể quả quyết rằng; Bát Thánh đạo là con đường độc nhất để đi đến Niết-bàn bằng những bước đi an lạc, giải thoát.
B. CHÁNH ĐỀ
I. Bát Thánh đạo là gì?
Tiếng Phạn gọi là Ayàstàngika - màrga, Tàu dịch là Bát Thánh đạo, còn gọi là Bát Thánh đạo phần, Bát Chánh đạo, Bát đạo hạnh...là con đường bao gồm tám chi: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định. Con đường tám ngành này có thể đưa hành giả vào suối Thánh, chảy về Niết-bàn nên gọi là Thánh đạo.
1) Chánh kiến: Chánh là ngay thẳng, đúng đắn, kiến là thấy, nhận biết. Thấy biết ngay thẳng, đúng sự thật gọi là Chánh kiến. Chánh kiến còn gọi là Đế kiến, tức là thấy Tứ đế Khổ, Tập, Diệt và Đạo. Cuộc sống chúng ta thường bị dục vọng, phiền não che lấp, nếu không có Chánh kiến soi xét chúng ta sẽ dễ bị lầm đường lạc lối. Vì thế, Chánh kiến được gọi là năng lực bạt trừ nghiệp chướng, cho chúng ta biết được người tu hành sẽ được phước báo, được sanh vào cõi lành,ở đời này đời sau thành tựu tự giác, tự chứng, người ác sẽ bị sa đọa, gặp ác báo, không gặp Phật pháp...Kinh Chánh tri kiến định nghĩa: "Khi một vị Thánh đệ tử biết được bất thiện và căn bản của bất thiện, biết được thiện và căn bản của thiện, này chư Hiền, khi ấy vị Thánh đệ tử có
Chánh kiến, có tri kiến Chánh trực, có lòng tin pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này". (Trung Bộ I, tr 47).
2) Chánh tư duy: suy nghĩ một cách đúng đắn về khổ, tập, diệt và đạo cũng như các loại nghiệp thiện, ác...gọi là Chánh tư duy. Chánh tư duy còn được gọi là Chánh giác, Chánh phân biệt hay Đế niệm, nghĩa là không còn dục, sân và hại. Người tu theo pháp Chánh tư duy thường nghĩ đến những nghĩa lý cao siêu, nhiệm mầu, biết ăn năn sám hối...
3) Chánh ngữ: lời nói đúng đắn, công bình, ngay thẳng, hợp tình, hợp lý, xa rời ác khẩu, vọng ngữ, lưỡng thiệt và ỷ ngữ là Chánh ngữ. Người tu tập Chánh ngữ sẽ không thấy dỡ nói hay, thấy hay nói dỡ, thấy có nói không, thấy không nói có...biết suy nghĩ phải chăng trước khi xuất ngôn nên còn gọi là Đế ngữ. Cổ nhân có dạy: trước khi nói phải uốn lưỡi bảy lần, đó cũng là để có Chánh ngữ vậy.
4) Chánh nghiệp: nghiệp là hành động có tác ý, nguyên Phạn ngữ là Karma, nghĩa là sự tạo tác. Chánh nghiệp là hành động, là việc làm có ý nghĩa, lợi lạc chúng sanh. Người có Chánh nghiệp sẽ luôn luôn thận trọng giữ gìn mọi lời nói, cử chỉ, không làm tổn hại đến đến địa vị,
danh vọng, hạnh phúc, tánh mạng của kẻ khác. Hơn thế nữa, nếu có thể hy sinh vì lợi ích cho chúng sanh thì người tu theo Chánh nghiệp cũng không khước từ. Chánh nghiệp còn gọi là Đế hạnh, tức xa lìa sát sanh, trộm cắp...
5) Chánh mạng: mạng là mạng sống, Chánh mạng là nuôi dưỡng mạng sống bằng nghề nghiệp chánh đáng, lương thiện, trong sạch. Người theo Chánh mạng sống cuộc đời ngay thật, không gian tham, hoàn toàn tự lực, không phụ thuộc người khác, không làm đau khổ kẻ khác. Chánh mạng còn gọi là Đế thọ, tức là lìa bỏ tà mạng như các chú thuật, bói toán, tướng số...Chánh mạng là cầu y phục, ăn uống, giường chiếu, thuốc men và các đồ dùng sinh sống khác một cách đúng pháp.
6) Chánh tinh tấn: tinh cần siêng năng làm việc thiện, làm lợi lạc chúng sanh hữu tình gọi là Chánh tinh tấn. Chánh tinh tấn còn gọi là Chánh phương tiện, Chánh trị, Đế trị, bao hàm ý nghĩa của Tứ chánh cần và Tấn căn trong Ngũ căn, tức là phát nguyện ác pháp đã sanh được đoạn trừ, ác pháp chưa sanh khiến chẳng khởi, thiện pháp chưa sanh khiến đặng sanh, thiện pháp đã sanh khiến tăng trưởng đầy đủ. Người có Chánh tinh tấn thường gieo nhân vô lậu xuất thế gian và
sống một cách mạnh mẽ, có dũng khí tiến thân trên con đường đạo, nỗ lực không lùi bước cho đến khi nào thành chánh quả mới thôi. Kinh Trung Bộ định nghĩa: “Tinh tấn nỗ lực đoạn trừ tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà niệm, tà định, để thành tựu chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh mạng, chánh niệm và chánh định gọi là chánh tinh tấn”.
7) Chánh niệm: niệm là ghi nhớ, nhớ nghĩ. Ghi nhớ những điều thiện, ghi nhớ những việc làm lợi lạc chúng sanh, ghi nhớ những đạo lý chân chính, cao siêu... Gọi là Chánh niệm. Chánh niệm còn gọi là Đế y, tức là sự quán sát tổng tướng hay biệt tướng của Tứ niệm xứ: Thân, Thọ, Tâm và Pháp. Chánh niệm có hai phần:
  • • Chánh ức niệm: là nhớ nghĩ đến các điều lỗi lầm để thành tâm ăn năn sám hối, đồng thời nhớ nghĩ đến tứ trọng ân: ân cha mẹ, ân tổ quốc, ân chúng sanh và ân Tam Bảo.
  • • Chánh quán niệm: là dùng tâm từ bi xét nghĩ cuộc đời là sanh lão bệnh tử, chúng sanh mê mờ, ngu muội mà mở rộng lòng thương và quyết ra tay cứu độ.
Người theo đúng Chánh niệm thường quán cảnh chân đế, năng tưởng niệm các pháp trợ đạo, bất kỳ ở thời điểm, địa điểm nào cũng đều quán tưởng cảnh giới vô lậu
và quả vị xuất thế gian, dù trải qua số kiếp như sông hằng thì bồ đề tâm vẫn không thối chuyển.
8) Chánh định: định là tập trung tư tưởng vào một chỗ, không để tán loạn. Chú tâm vào một vấn đề chính đáng, đúng với chân lý , có lợi ích cho mình và tha nhân gọi là Chánh định. Người tu Chánh định thường tập trung quán sát những vấn đề sau:
  • • Quán bất tịnh: tức là quán tưởng thân này không thanh tịnh, là tổ hợp của sanh tử, khổ đau.
  • • Quán từ bi: quán tưởng chúng sanh hữu tình đồng có Phật tánh, chân tâm bình đẳng để đoạn trừ tâm thù hận, mở rộng lòng thương để hóa độ chúng sanh.
  • • Quán nhân duyên: quán vạn pháp là duyên sanh, vô thường, vô ngã, giả danh chứ không thật có để đoạn trừ ngu si, chấp trước.
  • • Quán giới phân biệt: tức là quán sự giả hợp của sáu xứ, 18 giới, để thấy ngã không, pháp không, ngỏ hầu đoạn trừ chấp ngã, chấp pháp.
  • • Quán sổ tức: tức là chú tâm quán niệm hơi thở để đối trị sự tán loạn của tâm.
Năm phép quán trên đây là năm phép quán căn bản gọi là "Ngũ đình tâm quán", chúng ta sẽ được học vào những tiết sau.
Bát Thánh đạo là Trung đạo, là diệu pháp, là phương tiện tối hậu để đưa hành giả đi đến cảnh giới Niết-bàn bằng những bước đi an lạc. Thánh đạo tám ngành này được dụ như con thuyền chở chúng sanh khỏi bến mê để đến bờ giác ngộ nên còn có tên là Bát đạo thuyền, Bát phiệt. Tám chi này hỗ trợ nhau, xoay vòng quanh nhau nên còn được gọi là Bát luân. Hơn nữa, đây là chỗ dạo chơi của các bậc Thánh nên còn được gọi là Bát du hành...
Đức Phật khi thì trình bày Đạo đế là 37 phẩm trợ đạo, lúc thì đề cập Đạo đế dưới dạng thức Bát Thánh đạo, vì thế Bát Thánh đạo được xem là Đạo đế và cũng là 37 phẩm trợ đạo. Chánh niệm trong Bát Thánh đạo là nội dung của Tứ niệm xứ, Chánh tinh tấn là nội dung của Tứ chánh cần, Chánh niệm là nội dung của Niệm căn, Niệm lực, Niệm giác chi, Chánh kiến là Tuệ căn, tuệ lực, Trạch pháp giác chi...
Giáo lý Phật giáo có thiên Kinh vạn quyển nhưng đều qui về ba pháp môn chính gọi là Tam vô lậu học Giới, Định và Tuệ. Mặt khác, Tam vô lậu lại được gói gọn trong Bát Thánh đạo. Chánh kiến, Chánh tư duy thuộc Tuệ, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng thuộc Giới, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định
thuộc Định. Cho nên chúng ta có thể quả quyết rằng Bát Thánh đạo là cốt tủy của giáo lý Phật giáo.
          C. KẾT LUẬN
            Bát Thánh đạo là một pháp môn thông dụng và phổ quát dễ hành trì. Tu tập Bát Thánh đạo sẽ gặt hái được lợi ích thiết thực, sự thiết thực ấy được thể hiện trên ba phương diện: 1 - cải tạo bản thân, 2 - cải thiện hoàn cảnh, 3 - chứng quả Bồ đề. Trong kho tàng giáo lý nguyên thủy, sau mỗi một bài pháp, đức Thế Tôn không quên hướng dẫn pháp môn tu tập cho đối tượng nghe pháp và lúc nào Thế Tôn cũng giới thiệu Bát Thánh đạo để họ tu tập. Cho nên có thể nói; Bát Thánh đạo là suối nguồn của giải thoát. Vì những lợi ích như trên, một người Phật tử không thể không tu tập Bát Thánh đạo./.
/31
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »