PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ
A. MỞ ĐỀ
Tịnh Độ là cõi nước ở Tây phương của Đức Phật A-di-đà. Cõi nước ấy là cõi nước thanh tịnh, trang nghiêm đầy đủ công đức vô lậu. Pháp môn Tịnh Độ là một pháp môn tu tập nhằm để sau khi chết được sanh về cõi nước Tịnh Độ của Đức Phật A-di-đà. Tôn chỉ của pháp môn này là phép tu niệm Phật. Pháp môn này có từ thời Đức Phật Thích Ca còn tại thế, hiện còn các Kinh như Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, Kinh Di Đà...là những Kinh xiển dương giáo nghĩa Tịnh Độ. Các vị Luận sư nổi tiếng như Ngài Mã Minh, Vô Trước, Thế Thân... đều ca ngợi giáo nghĩa Tịnh Độ. Tuy nhiên, pháp môn này cực thịnh khi nó được truyền sang Trung Hoa vào thời nhà Đường[1], dưới triều Đường Huyền Tôn - Đường Minh Hoàng. Các Ngài Đạo Xước, Thiện Đạo là những bậc làm rạng danh Tịnh Độ tôn ở trung hoa. Tuy nhiên phải kể đến Ngài Huệ Viễn ở thời Đông Tấn[2], Ngài là bậc tiên phong xiển dương Tịnh Độ Tông và tu trì nghiêm mật Pháp môn Tịnh Độ. Hiện nay ở Trung Hoa và Việt Nam,
[1] Nhà Đường (618 - 906)
Pháp môn Tịnh Độ là pháp môn thiết yếu và phổ quát nhất. Đi đâu chúng ta cũng nghe được tiếng niệm Phật. Câu ''Nam mô A-di-đà Phật" đã trở thành câu chào nhau của các Phật tử xuất gia cũng như tại gia. Pháp môn Tịnh Độ là pháp môn được kết hợp bởi nhiều pháp môn khác kể cả Thiền tông, vì thế, tu Tịnh Độ là phải tu nhiều pháp môn kết hợp lại. Những Thiền sư Thiền tông như ngài Nguyên Chiếu, Trí Giả Đại Sư, Viên Chiếu, Thiên Nhu...tuy hoằng dương Thiền tông nhưng đều ca ngợi Pháp môn Tịnh Độ. Với thời đại ngày nay, không có pháp môn nào hữu hiệu bằng Pháp môn Tịnh Độ. Vì thế, chúng ta cần tìm hiểu và tu tập Pháp môn Tịnh Độ.
B.CHÁNH ĐỀ
I. Tìm hiểu về cõi nước Tịnh Độ
Vũ trụ chúng ta có hằng hà sa số thế giới, trong đó có thế giới của Đức Phật A-di-đà ở Tây phương là Thế giới an lạc hơn cả, vì thế nó có tên là Tịnh Độ hay Cực Lạc trong Kinh Di-đà miêu tả cảnh giới Tịnh Độ như sau: "Cảnh giới ấy vô cùng đẹp đẽ, thanh tịnh, xán lạn, vui tươi. Phong cảnh toàn cõi như là một tường hoa, những dây rủ xuống như là gấm lụa, nước trong các hồ có đầy đủ tám thứ công đức...chim chóc ở đây toàn là những chim chóc quý giá như Bạch Hạc, Khổng Tước, Anh Vũ, Xá Lợi...ngày đêm sáu thời hót lên những tiếng vi diệu làm cho ai nghe cũng sanh tâm hoan hỷ mà niệm
Phật. Cảnh giới ấy trang nghiêm, huy hoàng, xinh đẹp như thế là do sức đại nguyện của Đức Phật A-di-đà, các bậc Bồ tát và Thánh chúng toàn là những bậc Thượng thiện gây nên". Trong hoàn cảnh ấy mọi người điều phát tâm tu tập và rất dễ thành đạo nghiệp.
II. Tu tập để vãng sanh về cõi nước Cực Lạc
Cảnh giới tây phương Cực Lạc là cảnh giới huy hoàng, an lạc. Tuy nhiên chúng ta muốn vào đó không phải là dễ. Những điều kiện để sanh vào cõi nước Cực Lạc được Đức Phật dạy như sau.
1. Đức tin vững chãi: Kinh Hoa nghiêm dạy: "Tín vi đạo nguyên công đức mẫu". Có nghĩa là: đức tin là mẹ của mọi nguồn công đức. Tin là nhân tố thành tựu quả Bồ đề, lòng tin có nhiều khía cạnh.
-
• Tin Phật: Tin rằng đức Phật là đấng sáng suốt, cứu khổ muôn loài, lời Đức Phật nói là hoàn toàn có thật, cõi nước Tây phương là có thật. Ngài có năng lực tiếp độ mọi loài chúng sanh.
-
• Tin Pháp: Tin rằng giáo pháp Đức Phật nói ra là hợp với chân lý, lời Ngài khuyên chúng ta tu hành Pháp môn Tịnh Độ, niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đà để được vãng sanh về cõi Tịnh Độ là sự thật. Tin rằng tu theo pháp môn Ngài dạy thì nhất định sẽ thành công.
-
• Tin Tăng: Tin rằng Tăng là người có khả năng thay mặt Đức Phật để dạy chúng ta tu tập, hướng
dẫn chúng ta tu tập Pháp môn Tịnh Độ, có khả năng giải quyết mọi khúc mắc cho chúng ta khi tu tập Pháp môn Tịnh Độ. Tăng là vị thầy sáng suốt cho chúng ta nương tựa để học hỏi, tu tập.
-
• Tin vào khả năng của mình (tự tin): Đức Phật dạy: "Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành". Chúng ta tu tập theo hạnh nguyện của Ngài thì nhất định sẽ thành Phật. Chúng ta không nên tự ti mặc cảm với chính mình để rồi thối chí trước hoàn cảnh, dễ bị cám dỗ bởi dục vọng.
2. Phát đại nguyện: Nguyện là tự nguyện, mong muốn một điều gì đó tốt đẹp. Phát đạt nguyện là lập một lời thề cao quý, tốt đẹp và có ý nghĩa. Gọi là lập nguyện thì không bị thối chí trước hoàn cảnh, vững chải tự tin, thực hành lời nguyện một cách rốt ráo. Phát nguyện vãng sanh về Cực Lạc là mục đích phát nguyện mà chúng ta trình bày trong bài này. Lập chí nguyện là thể hiện sự cương quyết, không cương quyết thì không làm được gì cả. Cổ nhân có dạy: "Thành tại nhất quyết, bại tại do dự". Câu nói ấy không bao giờ sai vậy. Bất cứ việc gì mà chúng ta nhất quyết thì nhất định sẽ thành công, nếu còn do dự thì dễ bị thất bại.
Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên.
3. Thực hành chí nguyện vãng sanh: Lập nguyện vãng sanh rồi, chúng ta phải thực hành theo đúng chí nguyện. Chúng ta phải chí tâm chú nguyện danh hiệu Đức Phật A-di-đà. Nhất cử nhất động đều phải niệm Phật, quyết niệm cho đến khi nào "nhất tâm bất loạn" thì mới thôi.
Pháp tu Tịnh Độ là pháp tu phổ cập đến tất cả mọi người, không kể giàu nghèo sang hèn, bất luận thiểu trí hay thông minh đều tu tập được. Chỉ cần có đức tin mạnh mẽ thì ai ai cũng có thể tu tập để vãng sanh về Cực Lạc. Oai lực của chư Phật trải khắp mười phương, chỉ cần chúng ta nhất tâm tưởng nhớ đến Ngài thì Ngài sẽ tiếp độ.
III. Pháp môn Niệm Phật
Có rất nhiều pháp môn tu tập để được sinh về cõi nước Cực Lạc, tuy nhiên, mọi pháp môn không ngoài pháp môn tu niệm Phật. Niệm Phật có bốn cấp độ.
1.Trì danh niệm Phật
Một lòng nhớ nghĩ danh hiệu Phật, trong tâm luôn nghĩ đến sáu chữ "Nam mô A-di-đà Phật". Khi đi đứng nằm ngồi, ăn uống trước lúc ngủ, sau khi thức dậy đều nhất tâm niệm Phật, mỗi ngày phải dành một ít thời gian để nhất tâm tịnh niệm, nhớ nghĩ danh hiệu Đức Phật A-di-đà.
2. Tham cứu niệm Phật
Niệm Phật bằng cách tham cứu, tức là không niệm bằng miệng, không cần có âm thanh nhưng tâm niệm không bao giờ rời niệm. Mỗi niệm đều theo hơi thở, quán tưởng theo sự sinh diệt của mỗi niệm và giữ cho tâm không bị tán loạn.
3. Quán tưởng niệm Phật
Quán tưởng hình dung cả Đức Phật A-di-đà đang ở trước mặt, thân cao trượng sáu, ngồi trên hoa sen. Ba hai tướng quý, tám mươi vẻ đẹp toả sáng khắp mười phương, hào quang của Ngài chiếu tận đến tâm can của chúng ta, khiến chúng ta sinh tâm hoan hỷ mà niệm Phật.
4.Thật tướng niệm Phật
Nói đủ là Thật tướng bình đẳng niệm Phật, có nghĩa là niệm Phật đồng nhất với Chân tâm. Phàm cái gì có hình tướng đều là hư vọng, chỉ có chân tâm là rốt ráo không hư vọng, không sinh không diệt, không đến không đi...nên gọi là thật tướng. Niệm Phật để thấy thật tướng các pháp là Thật tướng niệm Phật. Ba cách trước thuộc về Sự tướng niệm Phật, cách cuối cùng này thuộc về Lí tính niệm Phật, cao siêu và khó nghĩ. Phương pháp niệm Phật này là tuyệt đối pháp, có công năng đưa hành giả đến cảnh giới Cực Lạc của Đức Phật A-di-đà. Tuy nhiên, muốn đạt đến Lí tính niệm Phật thì hành giả phải thực hiện nhuần nhuyễn Sự tướng niệm Phật.
IV. Cận tử nghiệp với vấn đề niệm Phật
Cận là gần, tử là chết. Cận tử nghiệp là nghiệp khởi lên khi sắp chết.
Cận tử nghiệp là tác nhân chính dẫn dắt thần thức đi thọ sinh. Bởi thế nó có ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề luân hồi, tái sinh cũng như giải thoát. Vì vậy, Phật giáo Tịnh Độ tông lấy tiếng niệm Phật để tiếp đẫn cho người lúc lâm chung, ngõ hầu dẫn đến cận tử nghiệp tốt. Với ý nghĩa đó, người Phật tử không nên khóc than khi người thân sắp qua đời, vì như thế sẽ làm người chết luyến lưu cảnh giới Ta-bà này mà thần thức hoang mang, không chọn được hướng đi thích hợp. Tốt hơn hết, khi thấy người sắp lâm chung, Phật tử phải thành tâm chú nguyện, niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đà, cầu nguyện cho hương hồn vãng sanh Tịnh Độ. Đó là sự hộ niệm phù hợp với tinh thần Phật giáo, có ý nghĩa và hiệu nghiệm nhất.
C. KẾT LUẬN
Pháp môn tịnh độ là pháp môn tu tập hữu hiệu và dễ thực hiện, đầy đủ ý nghĩa tự lợi và lợi tha, phù hợp với thời đại. Pháp môn này không những được Đức Phật ca ngợi mà Chư Tổ của chúng ta cũng hết sức tán đồng. Chúng ta là Phật tử, luôn luôn bận rộn với cuộc sống, thế nên đối với chúng ta, không có pháp môn nào phù hợp và dễ tu tập như Pháp môn Tịnh độ. Vậy, Phật tử cần phải tu tập Pháp môn Tịnh Độ./.