LƯỢC SỬ ĐỨC PHẬT A-DI-ĐÀ
VÀ 48 LỜI NGUYỆN
A. Lược Sử:
Phạn ngữ Amita, Tàu phiên âm là A-di-đà, dịch là Vô lượng quang, Vô lượng thọ và Vô lượng công đức, nghĩa là Phật A-di-đà có hào quang vô lượng, thọ mạng vô lượng và công đức vô lượng. Ngài là vị Phật thuộc đời quá khứ, đã thành Phật và hóa độ vô lượng, vô biên chúng sanh, hiện là Giáo chủ cõi nước Cực Lạc ở phương tây. Cõi nước ấy có trí tuệ vô lượng, công đức trang nghiêm, người sống trong cõi nước này an lạc đến vô cực cho nên gọi là Cực Lạc.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Phẩm Thí Dụ nói: Đức Phật A-di-đà kiếp trước là con của Đức Đại Thông Trí Thắng Như Lai. Ngài nhờ công đức thường giảng Kinh Pháp Hoa cho chúng sanh nghe nên sau này thành Phật hiệu là A-di-đà ở cõi Tây Phương Cực Lạc.
Kinh Quán Phật Tam Muội Hải ghi rằng: Đời quá khứ Ngài làm Tỳ kheo chuyên trì quán tưởng tướng lông mày trắng của Đức Phật Không Vương, nên được tho ký làm Phật hiệu là A-di-đà.
Kinh Bi Hoa chép rằng: Hằng hà sa số kiếp quá khứ có vua Chuyển luân tên là Vô Tránh Niệm, Ngài
có một quan đại thần tên là Bảo Hải giàu lòng tín ngưỡng. Một hôm vua nghe đức Phật Bảo Tạng đến thuyết pháp, Vua và quan đại thần Bảo Hải đến nghe pháp. Vua đã phát tâm cung thỉnh Phật và đại chúng vào vương cung để cúng dường trọn trong ba tháng. Lúc đó, Phật Bảo Tạng khuyên Vua nên phát tâm cầu Vô Thượng Chánh Đẳng Giác. Đức Phật liền phóng hào quang soi khắp tất cả các thế giới của chư Phật cho chúng hội thấy. Liền sau đó, Vua đã quỳ gối chắp tay phát lời nguyện, cầu xin sau khi tu thành Phật, quốc độ và nhân dân trong cõi nước Ngài đều được thanh tịnh, trang nghiêm. Do nhân duyên ấy mà sau này vua thành Phật hiệu A-di-đà và cõi nước của Ngài là Tây Phương Cực Lạc.
Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni dạy: Đời quá khứ lâu xa có nước tên Diệu Hỷ, vua là Nguyệt Thượng Luân Vương, Hoàng hậu là Thù Thắng Diệu Nhân, có ba người con là Nhật Minh, Kiều-thi-ca và Nhật Đế Chúng. Khi ấy có Đức Phật ra đời hiệu là Thế Tự Tại Vương Như Lai. Kiều-thi-ca đã xuất gia theo Phật hiệu là Pháp Tạng tỳ kheo. Ngài Pháp Tạng đối trước Phật phát 48 lời nguyện rộng lớn, độ cả 10 phương chúng sanh, nếu có nguyện nào chưa viên mãn thì chẳng thể thành Phật, khi ấy chư Thiên rải hoa tán thán, quả đất rung động và giữa không trung có tiếng khen rằng: "Pháp Tạng quyết định sẽ thành Phật hiệu là A-di-đà."
Như vậy, theo 4 thuyết trên, chúng ta có thể biết được xuất xứ và hạnh nguyện của Đức Phật A-di-đà.
B. Lược nói 48 lời nguyện của Đức Phật A-di-đà.
-
1. Quốc vô ác đạo: (Lúc tôi thành Phật, nếu trong nước tôi còn có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì tôi chẳng thành Phật).
-
2. Bất cánh ác đạo: (Lúc tôi thành Phật, nếu hàng trời, người trong nước tôi sau khi mạng chung mà còn bị sa vào ba ác đạo thì tôi chẳng thành Phật).
-
3. Thân chơn kim sắc: (Lúc tôi thành Phật, nếu hàng trời, người trong nước tôi thân chẳng có sắc vàng sáng chói thì tôi chẳng thành Phật).
-
4. Hình sắc tương đồng: (Lúc tôi thành Phật, nếu hàng trời, người trong nước tôi thân hình có tốt xấu không đồng nhau thì tôi chẳng thành Phật).
-
5. Túc mệnh trí thông: (Lúc tôi thành Phật, nếu hàng trời, người trong nước tôi chẳng có Túc mệnh thông thì tôi chẳng thành Phật).
-
6. Thiên nhãn phổ kiến: (Lúc tôi thành Phật, nếu hàng trời, người trong nước tôi chẳng có Thiên nhãn thông thì tôi chẳng thành Phật).
-
7. Thiên nhĩ phổ văn: (Lúc tôi thành Phật, nếu hàng trời, người trong nước tôi chẳng được Thiên nhĩ thông thì tôi chẳng thành Phật).
-
8. Tha tâm tất tri: (Lúc tôi thành Phật, nếu hàng trời, người trong nước tôi chẳng đặng Tha tâm thông thì tôi chẳng thành Phật).
-
9. Thần túc vô ngại: (Lúc tôi thành Phật, nếu hàng trời, người trong nước tôi chẳng được Thần tâm thông thì tôi chẳng thành Phật).
-
10. Bất tham kế thân: (Lúc tôi thành Phật, nếu hàng trời, người trong nước tôi còn có tham chấp lấy thân thì tôi chẳng thành Phật).
-
11. Trú định chứng diệt: (Lúc tôi thành Phật, nếu hàng trời, người trong nước tôi chẳng trụ vào định, tu đến diệt độ thì tôi chẳng thành Phật).
-
12. Quang minh vô lượng: (Lúc tôi thành Phật, nếu hàng trời, người trong nước tôi hào quang chiếu sáng còn hữu hạn thì tôi chẳng thành Phật).
-
13. Thọ mạng vô lượng: (Lúc tôi thành Phật, nếu hàng trời, người trong nước tôi thọ mạng còn hữu hạn thì tôi chẳng thành Phật).
-
14. Thanh Văn vô số: (Lúc tôi thành Phật, chúng Thanh Văn trong nước tôi nếu có ai tính đếm được số bao nhiêu thì tôi chẳng thành Phật).
-
15. Trừ biệt nguyện tu: (Lúc tôi thành Phật, nếu hàng trời, người trong nước tôi [ngoại trừ những người có thệ nguyện riêng] mà thọ mạng còn hữu hạn thì tôi chẳng thành Phật).
-
16. Bất văn ác danh: (Lúc tôi thành Phật, nếu hàng trời, người trong nước tôi còn có người nghe tiếng ác thì tôi chẳng thành Phật).
-
17. Chư Phật xưng thán: (Lúc tôi thành Phật, nếu vô lượng chư Phật trong mười phương thế giới không ca ngợi, tán thán danh hiệu tôi thì tôi chẳng thành Phật).
-
18. Thập niệm tất sanh: (Lúc tôi thành Phật, có chúng sanh nào muốn sanh vào cõi nước tôi nhẫn đến niệm danh hiệu tôi 10 lần mà không vãng sanh thì tôi chẳng thành Phật).
-
19. Lâm chung tiếp dẫn: (Lúc tôi thành Phật, có chúng sanh nào phát tâm bồ đề, tu các công đức, nguyện sanh về nước tôi, sau khi lâm chung nếu tôi cùng đại chúng chẳng hiện thân tiếp dẫn người đó thì tôi chẳng thành Phật).
-
20. Dục sanh quả toại: (Lúc tôi thành Phật, có chúng sanh nào phát tâm bồ đề, tu các công đức, chuyên niệm danh hiệu tôi, chí tâm hồi hướng, nguyện sanh về nước tôi, mà không được toại nguyện thì tôi chẳng thành Phật).
-
21. Tam thập nhị tướng: (Lúc tôi thành Phật, nếu hàng trời, người trong nước tôi không đủ 32 tướng của Bậc Đại Nhơn thì tôi chẳng thành Phật).
-
22. Nhất sanh bổ xứ: (Lúc tôi thành Phật, các vị đại Bồ tát sanh về nước tôi đều là "Nhất sanh Bồ tát([1])" [trừ những Bồ tát có thệ nguyện riêng([2])] nếu không như vậy thì tôi chẳng thành Phật).
-
23. Cúng dường Chư Phật: (Lúc tôi thành Phật, các Bồ tát trong nước tôi thừa oai thần Phật mà đi cúng dường chư Phật trong mười phương, trong một bửa ăn nếu các vị Bồ tát ấy không đi đến vô lượng thế giới thì tôi chẳng thành Phật).
-
24. Cung cụ tùy ý: (Lúc tôi thành Phật, nếu hàng Bồ tát trong nước tôi đối trước chư Phật hiện công đức của mình, muốn có những vật cúng dường, nếu không được toại nguyện thì tôi chẳng thành Phật).
-
25. Diễn thuyết diệu trí: (Lúc tôi thành Phật, nếu hàng Bồ tát trong nước tôi không diễn thuyết được Nhất thiết trí thì tôi chẳng thành Phật).
([1]) Bồ-tát còn tu một kiếp nữa là thành Phật
([2]) Bồ-tát du hóa 10 phương để độ chúng sanh như Ngài Quán Thế Âm, Ngài Địa Tạng
-
26. Na-la-diên thân: (Lúc tôi thành Phật, nếu hàng Bồ tát trong nước tôi chẳng được thân Kim Cang Na-la-diên thì tôi chẳng thành Phật).
-
27. Nhất thiết nghiêm tịnh: (Lúc tôi thành Phật, tất cả các vật dụng của hàng trời người trong nước tôi đều phải sáng đẹp, sạch sẽ, vi diệu không ai có thể tính biết, nếu không như vậy thì tôi chẳng thành Phật).
-
28. Đạo thọ cao hiển: (Lúc tôi thành Phật, nếu hàng Bồ tát trong cõi nước tôi dầu là người ít công đức nhất chẳng thấy biết cội đạo tràng cao bốn muôn do tuần, vô lượng quang sắc thì tôi chẳng thành Phật).
-
29. Tụng kinh đắc tuệ: (Lúc tôi thành Phật, nếu hàng Bồ tát trong cõi nước tôi nếu thọ trì, đọc tụng, giảng thuyết kinh pháp mà chẳng được trí tuệ biện tài thì tôi chẳng thành Phật).
-
30. Tuệ biện vô ngại (hạn): (Lúc tôi thành Phật, nếu có ai hạn lượng được trí tuệ biện tài của hàng Bồ tát trong nước tôi thì tôi chẳng thành Phật).
-
31. Chiếu kiến thập phương: (Lúc tôi thành Phật ánh sáng cõi nước tôi nếu không soi thấu mười phương thế giới thì tôi chẳng thành Phật).
-
32. Bảo hương diệu nghiêm: (Lúc tôi thành Phật, trong cõi nước tôi từ mặt đất đến không trung,
mọi vật đều là những thứ châu báu, hương thơm xông ngát mười phương thế giới, nếu không như vậy thì tôi chẳng thành Phật).
-
33. Mông quang nhu nhuyến: (Lúc tôi thành Phật, chúng sanh trong mười phương thế giới được hào quang của tôi chiếu đến tấm thân họ khiến thân họ trở nên nhẹ nhàng, thanh thoát hơn nhân thiên, nếu chẳng như vậy thì tôi chẳng thành Phật).
-
34. Văn danh đắc nhẫn: (Lúc tôi thành Phật, chúng sanh trong vô lượng thế giới nghe danh hiệu tôi mà không được Vô Sanh Pháp Nhẫn thì tôi chẳng thành Phật).
-
35. Thoát ly nữ thân: (Lúc tôi thành Phật, nữ giới ở mười phương nghe danh hiệu tôi, nhàm chán thân nữ, phát tâm Bồ đề, nếu sau khi mạng chung mà còn làm thân nữ thì tôi chẳng thành Phật).
-
36. Thường tu phạm hạnh: (Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ tát trong vô lượng thế giới nghe danh hiệu tôi, thường tu phạm hạnh cho đến thành Phật, nếu không như vậy thì tôi chẳng thành Phật).
-
38. Thiên nhân trí kỉnh: (Lúc tôi thành Phật, hàng trời người trong vô lượng thế giới nghe danh hiệu tôi, cúi đầu đảnh lễ, năm vóc gieo xuống
đất, vui mừng tu Bồ tát hạnh thì chư thiên và loài người đều kính trọng người đó, nếu chẳng như vậy thì tôi chẳng thành Phật).
38. Y phục tùy niệm: (Lúc tôi thành Phật, nếu hàng trời, người trong nước tôi muốn có y phục, thì y phục đúng pháp liền theo tâm niệm của người đó mà đến trên thân, nếu không như vậy thì tôi chẳng thành Phật).
39. Lạc chư lậu tận: (Lúc tôi thành Phật, nếu hàng trời, người trong nước tôi không được an lạc như lậu hoặc được đoạn tận thì tôi chẳng thành Phật).
40. Thụ trung hiện sát: (Lúc tôi thành Phật, nếu hàng trời, người trong nước tôi muốn thấy vô lượng thế giới nghiêm tịnh của chư Phật mười phương, liền được thấy cả thân cây báu nơi chư Phật thiền toạ, nếu không như vậy thì tôi chẳng thành Phật).
41. Chư căn vô khuyết: (Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ tát ở mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi, từ đó cho đến khi thành Phật mà các căn còn thiếu thì tôi chẳng thành Phật).
42. Thanh tịnh giải thoát: (Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ tát ở mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi thảy đều được giải thoát tam
muội, nếu chẳng như vậy thì tôi chẳng thành Phật).
43. Văn danh đắc phước: (Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ tát ở mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi, sau khi mạng chung được phước đức vô lượng, thác sanh vào các nhà tôn quí, nếu chẳng như vậy thì tôi chẳng thành Phật).
44. Tu hành túc đức: (Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ tát ở mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi vui mừng hớn hở, tu Bồ tát hạnh, trọn đủ công đức, nếu chẳng như vậy thì tôi chẳng thành Phật).
45. Phổ đẳng Tam muội: (Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ tát ở mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi đều chứng lý Tam muội như nhau, ở địa vị Tam muội này thường được thấy vô lượng bất tư nghì chư Phật, nếu không như thế thì tôi chẳng thành Phật).
46. Tuỳ nguyện văn pháp: (Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ tát ở trong nước tôi muốn nghe loại pháp gì thời liền tự nhiên đặng nghe pháp ấy, nếu chẳng như vậy thì tôi chẳng thành Phật).
47. Văn danh bất thối: (Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ tát ở mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi mà chẳng được đến bậc "bất thối chuyển" thì tôi chẳng thành Phật).
48. Đắc tam pháp nhẫn: (Lúc tôi thành Phật, chúng Bồ tát ở mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi mà chẳng được ba thứ nhẫn([1]) thì tôi chẳng thành Phật).
C. KẾT LUẬN
Qua sự tìm hiểu lịch sử đức Phật A-di-đà và 48 lời nguyện của Ngài chúng ta thấy công đức và nguyện lực cũng như hạnh nguyện độ tha của Ngài rất lớn. Nhờ nguyện lực đó mà Ngài đã trở thành vị Giáo chủ của cõi nước Cực Lạc, công đức trang nghiêm.
Phật tử Việt Nam ta nói riêng và cả Đông Nam Á nói chung phần lớn tu theo Pháp môn Tịnh Độ, tức là cầu vãng sanh về cõi nước Tây Phương Cực Lạc, cần phải tu tập theo hạnh nguyện của đức Phật A-di-đà, phát thệ nguyện rộng lớn, độ hết thảy chúng sanh và đạt đến bực Bất thối chuyển, cùng tất cả chúng sanh, đều trọn thành Phật đạo./.
([1]) Nại oán hoại nhẫn, Kham thọ khổ nhẫn và Vô sanh pháp nhẫn.