Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Phật học khái lược 1

Phật học khái lược 1

Tác giả: Tỷ-kheo Thích Quang Nhuận. Năm xuất bản: 2004. Số trang: 294.

Chương 24: 23. Đạo Đế (tt) (Trang 226 - 232)



ĐẠO ĐẾ (tt)
(Nirodha Gamadukkha)
          A. MỞ ĐỀ
            Chúng ta đã học các phần: Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần và Tứ như ý túc, hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu ba khoa tiếp theo của 37 phẩm trợ đạo trong Đạo đế. Đó là: Ngũ căn, Ngũ lực và Thất Bồ đề. Đối với những phần trước, ba phần này cũng quan trọng không kém, chúng có khả năng đưa hành giả từ địa vị phàm phu lên địa vị của bậc Thánh, là phương tiện trang nghiêm, có hiệu lực giúp người thẳng tiến trên bước đường tu đạo. Vậy, Phật tử chúng ta không thể không biết về ba phần này để hành trì.
          B. CHÁNH ĐỀ
      I. Ngũ căn:
            Ngũ căn là gì? Là năm căn. Căn là căn bản, là gốc rễ, là nguồn gốc để các thiện pháp phát sanh.
Luận Trí Độ ghi: "Năm căn này là năm căn bản để phát sanh tất cả các thiện pháp, nên gọi là ngũ căn”. Năm căn ấy là Tín căn, Tấn căn, Niệm căn, Định căn và Huệ căn.
      a. Tín căn: tức là tin lý Tứ đế, tin Tam Bảo.
 
  • • Tin Phật: tin có Phật là đấng đã giác ngộ hoàn toàn, Ngài là tấm gương sáng suốt để cho chúng ta noi theo.
  • • Tin Pháp: tin giáo lý đức Phật thuyết ra là hành trang, là phương tiện tuyệt vời cho người tu hành tiến tới chân lý.
  • • Tin Tăng: tin Tăng là hiện thân của Phật, là những vị Thầy sáng suốt có thể dẫn dắt chúng sanh. Tăng là những người thừa kế sứ mạng hoằng dương chánh pháp để hóa độ quần sanh.
b. Tấn căn: tức là dũng mãnh tu tập các pháp lành. Tấn ở đây là lòng tin không thối chuyển, vững chắc, bền bỉ để không rơi vào mê tín. Theo Luận Nhiếp Đại thừa, Tấn có ba loại:
  • • Bị giáp tinh tấn: người tu tập như chiến sĩ ra trận, phải mặc áo giáp tinh tấn để khi diệt giặc "phiền não" không bị ma quân hãm hại.
  • • Gia hạnh tinh tấn: nghĩa là luôn gắng sức không bao giờ dừng nghỉ, càng tiến lại càng hăng...
  • • Vô hỷ túc tinh tấn: nghĩa là tinh tấn mà không bao giờ cảm thấy tự mãn, đầy đủ. Người Phật tử khi chưa chứng ngộ thì phải cố gắng tu luyện không thể tự thoả mãn với một quả vị chưa rốt ráo.
c. Niệm căn: nghĩa là luôn luôn nhớ nghĩ chánh pháp. Có ba điều cần nhớ nghĩ.
  • • Niệm thí: nghĩa là nhớ nghĩ việc tu bố thí, đem của cải giúp đỡ người nghèo, lấy chánh pháp độ người si mê...
  • • Niệm giới: nghĩa là nhớ trì tịnh giới để đoạn trừ phiền não. Niệm giới có ba cấp bậc.
       1/ Nhiếp luật nghi giới, tức là trì giới để ngăn ngừa điều ác.
       2/ Nhiếp thiện pháp giới, nghĩa là làm mọi việc thiện để tăng trưởng công đức, thành tựu pháp lành.
       3/ Nhiêu ích hữu tình giới, tức là những điều giới làm lợi lạc quần sanh.
  • • Niệm thiên: Luận Nhiếp Đại thừa ghi: "Thiên niệm trụ là an trụ bốn món thiền
định". Vậy, niệm thiên là nhớ tu các niệm thiền định để gạn sạch phiền não, thể chứng chân như.
 
d. Định căn: nghĩa là làm cho tâm dừng lại ở một chỗ, không để tán loạn mà chỉ chú trọng vào chánh pháp. Luận Nhiếp đại thừa chia Định thành ba loại:
  • • An trú định: định an trú vào một cảnh, không cho tán động, do đó phiền não được tiêu trừ.
  • • Dẫn phát định: do đoạn sạch phiền não nên được phát sanh thần thông là các món công đức thù thắng.
  • • Thành sở tác định: do định phát khởi thần thông nên thường làm lợi ích cho chúng sanh, độ chúng sanh giải thoát sanh tử, chứng được Niết-bàn.
e. Huệ căn: nghĩa là ở trong định khởi trí quán, rõ biết chân lý. Huệ là trí sáng suốt, thâm nhập chân tướng của vạn pháp. Huệ cũng được chia làm 3 cấp bậc.
  • • Vô phân biệt gia hạnh huệ: trí này không còn phân biệt nhưng phải gắng công tu tập để đạt được vô phân biệt trí.
  • • Vô phân biệt huệ: trí này không còn phân biệt và cũng không cần phải gia hạnh vì đã thuần thục, không có mê lầm.
  • • Vô phân biệt hậu đắc huệ (hậu đắc trí): trí này là vô lậu trí, có được sau khi chứng đạt chân như. Chư Phật nhờ trí hậu đắc này mà thi tác vô lượng công đức để hóa độ chúng sanh.
II. Ngũ lực:
            Ngũ lực là năm lực vĩ đại, năm thần lực có thể phá trừ điều ác, duy trì sự tu hành. Năm lực này xuất phát từ năm căn. Nói cách khác, năm căn là năm cánh tay còn năm lực là sức mạnh của năm cánh tay. Năm lực này là:
  1. 1. Tín lực: sức mạnh do đức tin làm phát sanh, có thể phá trừ tà tín.
  2. 2. Tấn lực: sức mạnh của sự tinh tấn do tấn căn phát sanh.
  3. 3. Niệm lực: sức mạnh của sự ghi nhớ phát sanh từ niệm căn.
  4. 4. Định lực: sức mạnh của sự thiền định do định căn sanh ra.
  5. 5. Huệ lực: là sức mạnh của trí tuệ được phát sanh từ Huệ căn.
III. Thất Bồ đề phần
            Phạn ngữ là Saptabodhyangani Tàu dịch là Thất giác chi, còn gọi là Thất Bồ đề phần, Thất giác phần, Thất giác ý, gọi tắt là Thất giác. Đây là hành pháp
thuộc nhóm thứ sáu của 37 phẩm trợ đạo trong Đạo đế. Giác là trí tuệ bồ đề. Bảy pháp này có công năng giúp Trí tuệ Bồ đề phát triển nên gọi là Giác chi. Giác chi có 7 gọi là Thất giác chi:
  1. 1. Niệm giác chi: trong tâm sáng suốt thường nhớ nghĩ trí tuệ và thiền định. Ví như đất hoang, không trồng cây cối tức cỏ sẽ mọc, người tu hành luôn nhớ nghĩ chánh pháp, nếu không phiền não sẽ xâm chiếm.
  2. 2. Trạch pháp giác chi: dùng trí tuệ để lựa chọn chân pháp, xả bỏ pháp hư ngụy. Phật dạy: "Hãy dùng trí tuệ suy nghiệm, giản trạch các pháp, rồi sẽ tin thọ, thực hành theo".
  3. 3. Tinh tấn giác chi: tinh tấn không lười biếng đối với việc tu hành Chánh pháp.
  4. 4. Hỷ giác chi: tâm vui mừng khi phiền não được đoạn trừ, sanh tâm phấn chấn, quyết chí tu hành.
  5. 5. Khinh an giác chi: còn gọi là Ỷ giác chi, tức là cảm thấy thân khoan khoái, an ổn.
  6. 6. Định giác chi: nhập thiền định, tâm không tán loạn, tập trung vào việc tu hành.
  7. 7. Xả giác chi: tâm không thiên lệch, không chấp trước mà chỉ giữ sự bình đẳng. Xả
tức là hành xả tâm sở, một trong 11 món Thiện tâm sở. Hành xả tâm sở là một tâm sở vô cùng quan trọng, vì muốn có tất cả thì phải xả bỏ tất cả. Kinh Kim Cang có nói: "Người tu hành phải như người nương thuyền qua sông, khi thuyền đã cập bến nếu ta không bỏ nó để lên bờ thì đừng hòng đến đâu và biết gì được. Người muốn thành đấng siêu việt tự tại, cần phải từ khước mọi đắm say."
 
          C. KẾT LUẬN
            Một một phần trong 7 phần của 37 phẩm trợ đạo đều vô cùng quan trọng và liên hệ mật thiết với nhau. Chúng ta xét thấy: pháp môn nào cũng có giá trị giải thoát và hướng tới mục đích cứu cánh. Đức Phật phân chia như thế là để phù hợp với căn cơ của chúng sanh. Đúng như thế, mỗi người hãy tự lựa chọn cho mình một pháp môn phù hợp để tu tập. Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực hay Thất bồ đề đều là những phương tiện quyền xảo, là chuyến xe an toàn, hỷ lạc có thể chở chúng ta đến cảnh giới Niết-bàn như nhiên, tự tại.
/31
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »