Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Kinh Trung A-Hàm Tập 1

Kinh Trung A-Hàm Tập 1

Tác giả: Hán Dịch: Tam Tạng Tăng-Già-Đề-Bà. Dịch giả: Việt Dịch: Tuệ Sỹ. Năm xuất bản: 2008. Số trang: 1150.

Kinh Trung A-Hàm (Madhyama Āgama) thuộc A-hàm bộ trong hệ thống Hán tạng (Bắc truyền Phật giáo / Kinh điển Nguyên thủy). Trong bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, bộ kinh này nằm ở Quyển thứ 1 và Quyển thứ 2 (Kinh số 26), gồm 60 quyển chia thành 5 tập (Thiên) và 18 phẩm, chứa tổng cộng 222 bài kinh.
Bộ kinh này do hai ngài Tăng-già-đề-bà (Saṅghadeva) và Đàm-ma-nan-đề (Dharmanandi) dịch từ chữ Phạn sang chữ Hán vào thời Đông Tấn.

Vị trí và Bản chất giáo lý

• Bản chất giáo lý Nguyên thủy: Dù được lưu giữ bằng chữ Hán trong Hán tạng, nhưng Kinh Trung A-hàm không mang tư tưởng phát triển của Đại thừa. Đây là một trong bốn bộ kinh A-hàm nền tảng chứa đựng những lời dạy nguyên sơ, chân thực nhất của Đức Phật Thích Ca và các đại đệ tử.
• Ý nghĩa tên gọi "Trung": Chữ "Trung" ở đây chỉ độ dài mang tính chất trung bình (vừa phải) của các bài kinh. Bộ kinh này tập hợp những bài giảng không quá dài (như Trường A-hàm) nhưng cũng không quá ngắn (như Tạp A-hàm hay Tăng Nhất A-hàm).
• Bản dịch đối chiếu: Bộ Kinh Trung A-hàm của Hán tạng có nội dung hoàn toàn tương đồng và đối chiếu trực tiếp với bộ Kinh Trung Bộ (Majjhima Nikāya, gồm 152 bài kinh bản Pali) của Phật giáo Nam truyền (Nguyên thủy). Tuy nhiên, số lượng bài kinh và sự sắp xếp các phẩm giữa bản Hán dịch và bản Pali có một số điểm khác biệt do xuất phát từ các bộ phái kết tập khác nhau thời Ấn Độ cổ đại.
Tại Việt Nam, bản dịch đầy đủ, chính thức và uy tín nhất của bộ Kinh Trung A-hàm (Hán dịch) sang tiếng Việt thuộc về công trình dịch thuật vĩ đại của Cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ.
Nếu bạn muốn tìm hiểu kỹ hơn về bộ kinh này, hãy cho tôi biết:
• Bạn có muốn đối chiếu một bài kinh cụ thể xem nó nằm ở đâu giữa Trung A-hàm (Hán tạng) và Trung Bộ (Pali) không?
• Hoặc bạn muốn tìm hiểu về phương pháp phân loại kinh văn của hệ thống A-hàm?

Chương 15: 11. Kinh Diêm Dụ (Trang 79 - 82)

11. KINH DIÊM DỤ
[433a13] Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo rằng:
"Nếu con người tạo nghiệp như thế nào, nó lãnh thọ nghiếp ấy như thế (1) ; như vậy không có sự thực hành phạm hạnh, không thể diệt tận khổ. Nếu nói như vậy: 'Nếu con người tạo nghiệp như thế nào, nó lãnh thọ quả báo của nó như thế (2) ; như vậy, có sự tu hành phạm hạnh, có được dự diệt tận được khổ.
(1.a) "Vì sao như vậy? Giả sử có người tạo nghiệp bất thiện, tất phải thọ quả khổ là quả báo của địa ngục (3) . Thế nào là người tạo nghiệp bất thiện tất phải thọ quả khổ là quả báo của địa ngục? Ở đây, nếu có người không tu thân, không tu giới, không tu tâm, không tu tuệ, thọ mạng rất ngắn (4) ; người ấy tạo nghiệp bất thiện tất phải thọ quả khổ là quả báo của địa ngục.
"Ví như có người đem một lạng muối bỏ vào một chút nước, muốn làm cho nước mặn không thể uống được, các ngươi nghĩ sao, một lạng muối đó có thể làm cho một ít nước mặn đi không thể uống được chăng?"
________________________
(1) Hán: thọ kỳ báo受其報. Hán có thể nhầm, vì trùn lặp với khẳngđịnh tiếp theo. Đấy sửa lai theo bản Pāli. Xem thêm cht. 2 tiếp theo. A. i. 248: yathā yathāyaṃ puriso kammaṃ karoti tathā tathā taṃ paṭisaṃvediyatī ti etaṃ santaṃ, bhikkhave, brahmacariyavāso na hoti, okāso na paññāyati sammā dukkhassa antakiriyāya, "Nếu nói rằng: 'Con người này tạo tác nghiệp như nào, nó sẽ cảm thọ nghiệp ấy như thế'. Nếu vậy, này các Tỳ-kheo,... không có đời sống phạm hạnh; không có cơ hội nêu rõ sự diệt tận khổ một cách chân chánh".
(2) Hán: thọ kỳ báo 受其報. Pl.: tathā tathāssa vipākaṃ paṭisaṃvediyati, cảm thọ dị thục của nó như thế như thế. Trong bản Hán, nguyên văn lặp lại, xem cht. 1 trên. Nhưng trong bản Pāli: yathā yathā vedanīyaṃ ayaṃ pruriso kammaṃ karoti tathā tathā tassa vipākaṃ paṭisaṃvediyati, "Con người này tạo tác nghiệp được cảm thọ như thế như thế, nó sẽ cảm thọ dị thục của nghiệp ấy như thế như thế..."
(3) Bản Pāli: appamattakaṃ pi pāpakammaṃ kataṃ tam enaṃ nirayaṃ upaneti, "chỉ tạo nghiệp ác dù chỉ chút ít, nhưng nghiệp ấy dẫn đến địa ngục".
(4) Pāli: paritto appātumo (Sớ giải: ātumā vuccati attabhāvo) appadukkhavihārī, "hạn hẹp, tự ngã nhỏ mọn, sống ít khổ". Có lẽ bản Hán đọc: appa-āyusmā, có tuổi thọ thấp, thay vì: appa-ātumā, có tự ngã nhỏn mọn.
Đáp rằng:
"Đúng như vậy, bạch Thế Tôn, vì sao thế? Vì muối nhiều, nước ít, nên có thể làm cho mặn đi không thể uống được".
"Cũng vậy, nếu có người tạo nghiệp bất thiện, tất phải thọ quả khổ là quả báo của địa ngục.
"Thế nào là có người tạo nghiệp bất thiện tất phải thọ quả khổ là quả báo của địa ngục? Ở đây, có một người không tu thân, không tu giới, không tu tâm, không tu tuệ, thọ mạng rất ngắn; người ấy tạo nghiệp bất thiện tất phải thọ quả khổ là quả báo của địa ngục.
(1.b) "Lại nữa, có [433b] người tạo nghiệp bất thiện (5) , tất phải thọ quả khổ là quả báo trong đời hiện tại. Thế nào là có người tạo nghiệp bất thiện tất phải thọ quả khổ là quả báo trong đời hiện tại? Ở đây, có một người tu thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ, thọ mạng rất dài (6) ; người ấy tạo nghiệp bất thiện, tất phải thọ quả khổ là quả báo trong đời hiện tại.
"Cũng như có người đem một lạng muối bỏ vào sông Hằng, muốn làm cho nước mặn không thể uống được. Các ngươi nghĩ sao? Một lạng muối đó, lại có thể làm cho nước sông Hằng mặn không thể uống được chăng?
Đáp rằng:
"Không thể được, bạch Thế Tôn, vì sao vậy? Vì nước sông Hằng rất nhiều mà một lạng muối thì quá ít, do đó không thể làm mặn đi đến không uống được".
"Cũng vậy, có người tạo nghiệp bất thiện, tất phải thọ quả khổ là quả báo trong đời hiện tại. Thế nào là có người tạo nghiệp bất thiện tất phải thọ quả khổ là quả báo trong đời hiện tại? Ở đây, có một người tu thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ, thọ mạng rất dài; người ấy tạo nghiệp bất thiện tất phải thọ quả khổ là quả báo trong đời hiện tại.
(2.a) "Lại nữa, có người tạo nghiệp bất thiện tất phải thọ quả khổ là quả báo trong địa ngục. Thế nào là có người tạo nghiệp bất thiện tất phải thọ quả khổ là quả báo trong địa ngục? Ở đây, có một người
_________________________
(5) Pāli: tādisaṃyeva appamattakaṃ pāpakammaṃ kataṃ, "tạo ác nghiệp chút ít tương tợ (như trường hợp trên)".
(6) Pāli: apparitto mahatto appamāṇavihārī, "không hạn hẹp, tự ngã quảng đại, sống đời không hạn lượng".
không tu thân, không tu giới, không tu tâm, không tu tuệ, thọ mạng rất ngắn; người ấy tạo nghiệp tất phải thọ quả khổ là quả báo trong địa ngục.
"Ví như một người đoạt lấy con dê của người khác. Thế nào là một người đoạt lấy con dê của người khác? Ở đây, người đoạt dê ấy, hoặc vua, hoặc quan, là người có nhiều uy thế. Người chủ dê kia thì nghèo hèn, không thế lực. Người này vì không thế lực nên van lơn đủ thứ, chắp tay cầu xin, nói như thế này: 'Thưa Tôn giả, xin ngài trả lại dê cho tôi. Hoặc trả tôi đúng giá tiền'. Như người đoạt dê của kẻ khác là như vậy. Cũng vậy, có người tạo nghiệp bất thiện tất phải thọ quả khổ là quả báo trong địa ngục. Thế nào là có người tạo nghiệp bất thiện tất phải thọ quả khổ là quả báo trong địa ngục? Ở đây, có một người không tu thân, không tu giới, không tu tâm, không tu tuệ, thọ mạng rất dài; người ấy tạo nghiệp bất thiện tất phải thọ quả khổ là quả báo trong địa ngục.
(2.b) "Lại nữa, có người tạo nghiệp bất thiện, tất phải thọ quả khổ là quả báo ngay trong đời hiện tại. Thế nào là có người tạo nghiệp bất thiện tất phải thọ quả khổ là quả báo trong đời hiện tại? Ở đây, có một người tu thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ, thọ mạng rất dài. Đó là có người tạo nghiệp bất thiện, tất phải thọ quả khổ là quả báo trong đời hiện tại.
"Cũng như có [433c] tuy người trộm được dê của kẻ khác, nhưng chủ dê đoạt lại. Thế nào là như người trộm được dê của kẻ khác, nhưng chủ dê đoạt lại? Ở đây, người trộm dê kia nghèo hèn, không thế lực; còn người chủ dê kia hoặc vua, hay quan, có rất nhiều uy lực. Vì có nhiều uy lực nên bắt trói người lấy trộm và đoạt lại dê. Đó là có người dù trộm được dê của kẻ khác, nhưng bị chủ đoạt trở lại. Cũng vậy, có người tạo nghiệp bất thiện, chắc chắn phải thọ quả khổ là quả báo trong đời hiện tại báo. Thế nào là có người tạo nghiệp bất thiện, tất phải thọ quả khổ là quả báo trong đời hiện tại? Ở đây, có một người tu thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ, thọ mạng rất dài; người ấy tạo nghiệp bất thiện, tất thọ quả khổ là quả báo trong đời hiện tại.
(3.a) "Lại nữa, có người tạo nghiệp bất thiện, tất phải thọ khổ là quả báo trong địa ngục. Thế nào là có người tạo nghiệp bất thiện tất phải thọ quả khổ là quả báo trong địa ngục? Nghĩa là, có một người không tu thân, không tu giới, không tu tâm, không tu tuệ, thọ mạng rất ngắn. Đó là có người tạo nghiệp bất thiện tất phải thọ quả khổ là quả báo trong địa ngục. Cũng như có người nợ kẻ khác năm tiền, bị chủ bắt trói; cho đến chỉ nợ một tiền cũng như bị chủ nợ bắt trói. Thế nào là có
người nợ kẻ khác năm tiền, bị chủ nợ bắt trói; cho đến chỉ nợ một tiền cũng bị chủ nợ bắt trói? Đó là, người mắc nợ kia nghèo, không có thế lực. Người kia vì nghèo và không có thế lực nên nợ kẻ khác năm tiền liền bị chủ nợ bắt trói; cho đến chỉ nợ một tiền cũng bị chủ nợ bắt trói. Cũng vậy, có người tạo nghiệp bất thiện phải thọ quả khổ là quả báo trong địa ngục. Thế nào là có người tạo nghiệp bất thiện tất phải thọ quả khổ là quả báo trong địa ngục? Ở đây, có một người không tu thân, không tu giới, không tu tâm, không tu tuệ, thọ mạng rất ngắn; người ấy tạo nghiệp bất thiện tất phải thọ quả khổ là quả báo trong địa ngục.
(3.b) "Lại nữa, có người tạo nghiệp bất thiện tất phải thọ quả khổ là quả báo trong đời hiện tại. Thế nào là có người tạo nghiệp bất thiện tất phải thọ quả khổ là quả báo trong đời hiện tại? Ở đây, có một người tu thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ, thọ mạng rất dài; người ấy tạo nghiệp bất thiện tất phải thọ quả khổ là quả báo trong đời hiện tại.
"Cũng như có người dù mắc nợ một trăm tiền nhưng không bị chủ nợ bắt trói; cho đến nợ ngàn vạn tiền cũng không bị chủ nợ bắt trói? Nghĩa là người mắc nợ có vô lượng tài sản và thế lực rất lớn. Người ấy nhờ vậy dù mắc nợ trăm ngàn tiền vẫn không bị chủ nợ bắt trói. Đó là người mặc dù mắc nợ trăm tiền vẫn không bị chủ nợ bắt trói, cho đến nợ ngàn vạn tiền cũng không bị chủ nợ bắt trói. Cũng vậy, có người tạo nghiệp bất thiện, tất phải thọ quả khổ là quả báo trong đời hiện tại. Thế nào là có người tạo nghiệp bất thiện tất phải thọ quả khổ là quả báo trong đời hiện tại? Nghĩa là, có một người tu thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ, thọ mạng rất dài; người ấy tạo nghiệp bất thiện tất phải thọ quả khổ là quả báo trong đời hiện tại. Người ấy ở trong đời hiện tại giả sử có thọ báo của thiện hay ác nhưng chỉ nhẹ nhàng, chút ít thôi".
Phật thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
/166
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »