6. KINH THIỆN NHÂN VÃNG
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
"Ta sẽ nói cho các ngươi biết về bảy nơi mà bậc thiện nhân đi đến và Vô dư Niết-bàn (1). Các ngươi hãy lắng nghe và hãy suy nghĩ kỹ!"
Bấy giờ các Tỳ-kheo vâng lời lắng nghe.
Phật dạy:
"Những gì là bảy? Tỳ-kheo nên thực hành như vầy: 'Ta không có ta, cũng không có cái của ta. Trong tương lai không có ta, cũng không có cái của ta. (2) Cái có thì được đoạn trừ (3). Sau khi đoạn trừ, vị ấy đạt được xả. Có lạc mà không nhiễm, hiệp hội mà không đắm trước (4). Thực hành như thế, sẽ do tuệ mà thấy được đạo lộ tịch tĩnh vô thượng (5) , nhưng vẫn chưa được chứng ngộ (6) . Tỳ-kheo thực hành như thế sẽ đi đến đâu? Ví như đốt trấu, vừa nhen đã tắt. Nên biết, Tỳ-kheo kia cũng
_____________________
(1) Vô dư Niết-bàn 無餘涅槃; Pl. anupāda-parinibbāna, Niết-bàn không chấp thủ, được hiểu là Niết-bàn không sở y (appaccaya-nibāna).
(2) Hán: ngã giả vô ngã, diệc vô ngã sở 我者無我亦無 我所 (¼). Pāli (A. iv. 70): no cassa no ca me siyā, na bhavissati na me bhavissati"nó đã không hiện hữu, và nó có thể không phải là của ta; nó sẽ không tồn tại và nó sẽ không phải là của ta." Sớ giải (AA, iv. 38): no cassa, nó đã không tồn tại, nghĩa là, nếu nghiệp tác thành ngã thể trong quá khứ (atīte attabhāvanibbattakaṃ kammaṃ) đã không tồn tại; và no ca me siyā, thì ở đây, ngã thể này có thể không tồn tại."
(3) Hán: dĩ hữu tiện đoạn 已有便斷. Pāli: yadatthi yaṃ bhūtaṃ taṃ pahajāmi, "Với cái gì đang tồn tại, hiện hữu, ta đoạn trừ cái đó". Sớ giải, ibid.: cái đang tồn tại, hiện hữu (yad atthi yaṃ bhūtaṃ), tức là năm uẩn hiện tại (paccupannakkhandhapañcakaṃ).
(4) Hán: hữu lạc bất nhiễm, hiệp hội bất trước 有樂不染合會不著. Pāli: so bhave na rajjati, sambahave na rajjati, "vị ấy không đắm trước hữu (không hoan lạc trong cái đang hiện hữu), không đắm trước sinh (không hoan lạc trong cái đang xuất sinh)".
(5) Hán: vô thượng tức tích 無上息跡. Pāli: atthuttariṃ padaṃ santaṃ sammapaññāya passati, "bằng chánh trí, vị ấy thấy con đường tịch tĩnh dẫn đến mục đích tối thượng".
(6) Pāli: taṃ ca khvassa padaṃ na sabbena sabbaṃ sacchikataṃ hoti, "Nhưng không hoàn toàn thực chứng đạo lộ ấy".
thế, chút ít mạn chưa trừ hết (7) , nhưng năm hạ phần kết (8) đã đoạn hết, chứng Trung Bát-niết-bàn (9). Đó là nơi đi đến của bậc thiện nhân thứ nhất, thế gian quả thực có người như vậy.
"Lại nữa, Tỳ-kheo nên thực hành như vậy: 'Ta không có ta, cũng không có cái của ta. Trong tương lai không có ta, cũng không có cái của ta. Cái đã có thì được đoạn trừ'. Sau khi đoạn, vị ấy đạt được xả. Có lạc mà không nhiễm, hiệp hội mà không đắm trước. Thực hành như thế, sẽ do tuệ mà thấy được đạo lộ tịch tĩnh vô thượng, nhưng vẫn chưa được chứng ngộ. Tỳ-kheo thực hành như thế sẽ đi đến đâu? Ví như đem sắt đốt cháy hừng hực rồi lấy búa đập, đóm lửa văng ra, vừa tung lên không liền tắt. Nên biết, [427b]Tỳ-kheo kia cũng lại như vậy; còn chút mạn chưa trừ hết, nhưng năm hạ phần kết đã đoạn hết, chứng Trung Bát-niết-bàn. Đó là chỗ đi đến của bậc thiện nhân thứ hai, thế gian quả thực có người như vậy.
"Lại nữa, Tỳ-kheo nên thực hành như vầy: 'Ta không có ta, cũng không có cái của ta. Trong tương lai không có ta, cũng không có cái của ta. Cái đã có thì được đoạn trừ'. Sau khi đoạn, vị ấy đạt được xả. Có lạc mà không nhiễm, hiệp hội mà không đắm trước. Thực hành như thế, sẽ do tuệ mà thấy được đạo lộ tịch tĩnh vô thượng, nhưng vẫn chưa được chứng ngộ. Tỳ-kheo thực hành như thế sẽ đi đến đâu? Ví như đem sắt đốt cháy hừng hực rồi lấy búa đập, lửa đóm tung lên không, rồi từ không rơi trở lại; rơi chưa đến đất liền tắt. Nên biết, Tỳ-kheo kia cũng giống như thế, còn chút mạn chưa đoạn hết, nhưng năm hạ phần kết đã đoạn hết, chứng Trung Bát-niết-bàn. Đó là chỗ đi đến của bậc thiện nhân thứ ba, thế gian quả thực có người như vậy. (10)
"Lại nữa, Tỳ-kheo nên thực hành như vầy: 'Ta không có ta, cũng không có cái của ta. Trong tương lai không có ta, cũng không có cái của ta. Cái đã có thì được đoạn trừ'. Sau khi đoạn, vị ấy đạt được xả. Có lạc mà không nhiễm, hiệp hội mà không đắm trước. Thực hành
________________________
(7) Hán: thiểu mạn vị tận 少慢未盡. Pāli: na sabbena sabbaṃ mānānusayo pahīno hoti, na sabbena sabbaṃ bhavarāgānusayo pahīno hoti, na sabbena sabbaṃ avijjānusayo pahīno hoti, "chưa hoàn toàn đoạn trừ mạn tùy miên; chưa hoàn toàn đoạn trừ hữu ái tùy miên; chưa hoàn toàn đoạn trừ vô minh tùy miên".
(8) Hán: ngũ hạ phần kiết 五下分結. Pāli: pañca orambhāgiya saṃyojana, 5 kết dẫn đến tái sah Dục giới.
(9)Trung Bát-niết-bàn 中般涅槃. Pāli: antarāparinibbāyī.
(10)Ba ví dụ trên tương ứng với ba cấp Trung Bát-niết-bàn: tốc, phi tốc và kinh cửu (nhanh, không nhanh và lâu); xem Câu-xá 24 (tr.125a).
như thế, sẽ do tuệ mà thấy được đạo lộ tịch tĩnh vô thượng, nhưng vẫn chưa được chứng ngộ. Tỳ-kheo thực hành như thế sẽ đi đến đâu? Ví như đem sắt đốt cháy hừng hực rồi lấy búa đập, lửa đóm tung lên không, rồi rơi xuống, tới đất thì tắt. Nên biết, Tỳ-kheo kia cũng giống như thế, còn chút mạn chưa đoạn hết, nhưng năm hạ phần kết đã đoạn hết, chứng Sanh Bát-niết- bàn (11). Đó là chỗ đi đến của bậc thiện nhân thứ tư, thế gian quả thực có người như vậy.
"Lại nữa, Tỳ-kheo nên thực hành như vầy: 'Ta không có ta, cũng không
có cái của ta. Trong tương lai không có ta, cũng không có cái của ta. Cái đã có thì được đoạn trừ'. Sau khi đoạn, vị ấy đạt được xả. Có lạc mà không nhiễm, hiệp hội mà không đắm trước. Thực hành như thế, sẽ do tuệ mà thấy được đạo lộ tịch tĩnh vô thượng, nhưng vẫn chưa được chứng ngộ. Tỳ-kheo thực hành như thế sẽ đi đến đâu? Ví như đem sắt đốt cháy hừng hực rồi lấy búa đập, lửa đóm tung lên không, rồi rơi xuống trên nhúm cỏ, liền bốc khói hoặc phụt cháy; cháy hết mới tắt.
Nên biết, Tỳ-kheo kia cũng giống như thế, còn chút mạn chưa đoạn hết, nhưng năm hạ phần kết đã đoạn hết, chứng Hành Bát-niết-bàn (12) . Đó là chỗ đi đến của bậc thiện nhân thứ năm, thế gian quả thực có người như vậy.
"Lại nữa, Tỳ-kheo nên thực hành như vầy: 'Ta không có ta, cũng không có cái của ta. Trong tương lai không có ta, cũng không có cái của ta. Cái đã có thì được đoạn trừ'. Sau khi đoạn, vị ấy đạt được xả. Có lạc mà không nhiễm, hiệp hội mà không đắm trước. Thực hành như thế, sẽ do tuệ mà thấy được đạo lộ tịch tĩnh vô thượng, [427c] nhưng vẫn chưa được chứng ngộ. Tỳ-kheo thực hành như thế sẽ đi đến đâu? Ví như đem sắt đốt cháy hừng hực rồi lấy búa đập, lửa đóm tung lên không, rồi rơi xuống trên nhiều đám cỏ, liền bốc khói hoặc phụt cháy, cháy hết mới tắt. Nên biết, Tỳ-kheo kia cũng giống như thế, còn chút mạn chưa đoạn hết, nhưng năm hạ phần kiết đã đoạn hết, chứng Vô hành Bát-niết-bàn (13) . Đó là chỗ đi đến của bậc thiện nhân thứ sáu, thế gian quả thực có người như vậy.
____________________
(11)Sanh Bát-niết-bàn 生般涅槃. Pāli: upahaccaparinibbāyī, "tổn hại bát-niết-bàn", nhập Niết-bàn do rút ngắn tuổi thọ sau khi sanh Sắc giới. Từ Pāli upahacca có nghĩa là "làm tổn hại". Bản Hán, theo từ gốc Skt. là upapadya (Pāli: upapajja) có nghĩa là "sanh".
(12) Hành Bát-niết-bàn, hay Hữu hành Bát-niết-bàn 有行般涅槃. Pāli: sasaṃkhāraparinibbāyī..
(13) Vô hành Bát-niết-bàn 無行般涅槃. Pāli: asaṃkhāraparinibbāyī. Pāli kể Vô hành trước Hữu hành.
"Lại nữa, Tỳ-kheo nên thực hành như vầy: 'Ta không có ta, cũng không có cái của ta. Trong tương lai không có ta, cũng không có cái của ta. Cái đã có thì được đoạn trừ'. Sau khi đoạn, vị ấy đạt được xả. Có lạc mà không nhiễm, hiệp hội mà không đắm trước. Thực hành như thế, sẽ do tuệ mà thấy được đạo lộ tịch tĩnh vô thượng, nhưng vẫn chưa được chứng ngộ. Tỳ-kheo thực hành như thế sẽ đi đến đâu? Ví như đem sắt đốt cháy hừng hực rồi lấy búa đập, lửa đóm tung lên không, rồi rơi xuống trên nhiều đám cỏ, liền bốc khói hoặc phụt cháy, cháy luôn cả thôn ấp, thành quách, rừng núi, đồng nội, hoặc đến đường đi, hoặc mé nước, cho đến đất bằng thì tắt. Nên biết, Tỳ-kheo kia cũng giống như thế, còn chút mạn chưa đoạn hết, nhưng năm hạ phần kết đã đoạn hết, chứng Thượng lưu A-ca-nị-trá Niết-bàn (14) . Đó là chỗ đi đến của bậc thiện nhân thứ bảy, thế gian quả thực có người như vậy.
"Vô dư Niết-bàn là gì? Tỳ-kheo nên thực hành như vầy: 'Ta không có ta, cũng không có cái của ta. Trong tương lai không có ta, cũng không có cái của ta. Cái đã có thì được đoạn trừ'. Sau khi đoạn, vị ấy đạt được xả. Có lạc mà không nhiễm, hiệp hội mà không đắm trước. Thực hành như thế, vi ấy sẽ do tuệ mà thấy được đạo lộ tịch tĩnh vô thượng, và đã được chứng ngộ. Ta nói rằng Tỳ-kheo kia không đi đến phía Đông, không đi đến phía Tây, Nam, Bắc, bốn duy hay thượng, hạ, mà ngay trong đời hiện tại này chứng được đạo lộ tịch tĩnh, diệt tận (15) .
"Ta đã nói về nơi đi đến của bảy bậc thiện nhân và Vô dư Niết-bàn xong. Nhân đó mà nói".
Phật thuyết như thế. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ
phụng hành.
____________________________
(14) Thượng lưu A-ca-nị-trá Niết-bàn 上流阿迦膩涅槃 hay thượng lưu sắc cứu cánh Niết-bàn 上流色究竟涅槃. Pāli: uddhaṃsoto akaniṭṭhagāmin.
(15) Hán: tức tích diệt độ 息跡滅度.