18. KINH SƯ TỬ
Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật trú tại nước Tì-xá-li, bên bờ ao Di hầu (1), trong một ngôi nhà sàn (2) .
(i) Bấy giờ một số đông bộ tộc Li-xa (3) ở Tì-xá-li vân tập nơi sảnh đường, nhiều lần tán thán Phật, nhiều lần tán thán Pháp và Chúng Tỳ-kheo. Lúc ấy Đại thần Sư Tử, đệ tử Ni-kiền (4) , cũng ở trong chúng đó. Bấy giờ đại thần Sư Tử muốn đến thăm viếng Đức Phật để cúng dường lễ bái. Đại thần Sư Tử trước hết đi đến chỗ các Ni-kiền, thưa với các Ni-kiền rằng:
"Thưa chư Tôn, tôi muốn thăm viếng Sa-môn Cù-đàm".
Khi ấy các Ni-kiền quở Sư Tử rằng:
"Ông chớ đến thăm Sa-môn [441a] Cù-đàm. Vì sao vậy? Sa-môn Cù- đàm có tông chỉ bất khả tác (5) , và cũng giảng cho mọi người về pháp bất khả tác (6) . Này Sư Tử, nếu thăm viếng người có tông chỉ bất khả tác sẽ không được may mắn; cúng dường lễ bái cũng sẽ không được may mắn". Số đông Li-xa ở Tì-xá-li ba lần vân tập nơi thính đường, nhiều lần tán thán Phật, nhiều lần tán thán Pháp và Chúng Tỳ-kheo. Lúc ấy đại thần SưTử, đệ tử Ni-kiền, cũng ba lần ở trong chúng đó. Bấy giờ đại thần Sư Tử cũng lại ba lần muốn đến thăm viếng Đức Phật, cúng dường, lễ bái.
(ii) Rồi Đại thần Sư Tử không cáo từ các Ni-kiền nữa, mà đi thẳng đến
______________________
(1) Hán: Di hầu thủy biên 彌猴水邊. Không thấy địa danh này trọng Pāli.
(2) Hán: Cao lâu đài quán 高樓臺觀. Pāli: kūṭagārasāla, ngôi nhà lầu, thường gọi là Trùng các giảng đường 重閣講堂.
(3) Lệ-xế 麗掣: Li-xa 離 車 hoặc Lê-xa 梨 車. Pāli: Licchavi.
(4) Hán: Ni-kiền đệ tử Sư Tử đại thần 尼乾弟師子大臣. Tứ phần 42 (tr. 871b10): Tư-ha tướng quân 私呵將軍. Pāli: Tướng quân Sīha đệ tử của Nigaṇṭha.
(5) Hán: tông bổn bất khả tác 宗本不可作. Pāli: akiriyavāda, chủ trương phi tác nghiệp, không hành động hay không thực tiễn. Trong kinh, hàm ý "điều không nên làm" hay "không có tác dụng", tức chủ trương không hành động.
(6) Hán: bất khả tác pháp 不可作法. Pāli: akiriyāya dhammam.
chỗ Phật, cùng chào hỏi rồi ngồi xuống một bên và nói như vầy:
(ii.1) "Tôi nghe rằng Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ bất khả tác, và cũng đem pháp bất khả tác giảng cho người khác. Thưa Cù-đàm, nếu có người nói như vầy: 'Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ bất khả tác; cũng đem pháp bất khả tác giảng cho người khác'. Người đó há không hủy báng Sa-môn Cù-đàm chăng? Người ấy có nói đúng sự thật không? Người ấy nói có đúng pháp chăng? Người ấy nói đúng pháp và như pháp (7) chăng? Đối với như pháp, không có sai lầm và không bị chỉ trích chăng?"
Đức Thế Tôn đáp:
(ii.2.1) "Này Sư Tử, nếu có ai nói như vầy: 'Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ bất khả tác, và cũng đem bất khả tác giảng cho mọi người', người ấy không hủy báng Sa-môn Cù-đàm, người ấy nói sự thật, người ấy nói đúng pháp, người ấy nói pháp như pháp, đối với như pháp không có sai lầm, cũng không bị chỉ trích. Vì sao vậy, này Sư Tử, có một sự kiện mà, nhân sự kiện đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng, khi nói rằng: 'Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ bất khả tác, và cũng đem pháp bất khả tác ấy nói cho người khác'.
"Này Sư Tử, lại có một sự kiện nữa mà nhân sự kiện đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng, khi nói rằng: 'Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ khả tác (8) và cũng đem pháp khả tác ấy nói cho người khác'.
"Này Sư Tử, lại có một sự kiện nữa mà nhân sự kiện đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng, khi nói rằng: 'Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ đoạn diệt (9) và cũng đem pháp kinh tởm ấy nói cho người khác'.
"Này Sư Tử, lại có một sự kiện nữa mà nhân sự kiện đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng, khi nói rằng: 'Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ kinh tởm (10) và cũng đem pháp kinh tởm ấy nói cho người khác'.
__________________
(7) thuyết pháp như pháp 法 如 法. Pāli: dhammassa cānudhammaṃ vyākarontu, thuyết minh tùy pháp của pháp, tức là nói theo điều đã được Phật nói (Sớ giải: bhagavā vuttakāraṇassa anukāraṇaṃ kathenti).
(8) Hán: tông bổn khả tác 宗 本 可 作. Pāli: kiriyavāda.
(9) Hán: tông bổn đoạn diệt 宗 本 斷 滅. Pāli: ucchedavāda.
(10) Hán: tông bổn khả (tắng) ố 宗 本 可 (憎) 惡. Pāli: jigucchī, tức chủ trương khổ hạnh.
"Này Sư Tử, lại có một sự kiện nữa mà nhân sự kiện đó, đối với pháp
như thật, không thể hủy báng, khi nói rằng: 'Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ pháp luật (11) và cũng đem pháp về pháp luật ấy nói cho người khác'.
"Này Sư Tử, lại có một sự kiện nữa mà nhân sự kiện đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng, khi nói rằng: 'Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ khổ hành (12) và cũng đem [44ab] pháp khổ hành ấy nói cho người khác'.
"Này Sư Tử, lại có một sự kiện nữa mà nhân sự kiện đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng, khi nói rằng: 'Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ không nhập thai (13) và cũng đem pháp không nhập thai ấy nói cho người khác'.
"Này Sư Tử, lại có một sự kiện nữa mà nhân sự kiện đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng, khi nói rằng: 'Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ an ổn (14) và cũng đem pháp an ổn ấy nói cho người khác'.
(iii.1) "Này Sư Tử, thế nào là 'Có một sự kiện mà nhân sự kiện đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng, khi nói rằng: 'Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ bất khả tác, và cũng đem pháp bất khả tác ấy nói cho người khác'? Này Sư Tử, Ta nói thân ác hành là không nên làm, (15) khẩu và ý ác hành cũng không nên làm. Này Sư Tử, nếu có vô lượng pháp cấu uế bất thiện tương tự như vậy, làm cội gốc cho các hữu trong tương lai, làm nhân cho quả báo khổ, nóng bức, và làm nhân cho sanh, già, bệnh, chết, này Sư Tử, Ta nói pháp ấy hết thảy không nên làm. Này Sư Tử, đó là có một sự kiện mà nhân sự kiện đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng, khi nói rằng: 'Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ bất khả tác, và cũng đem pháp bất khả tác ấy nói cho người khác'.
(iii.2) "Này Sư Tử, thế nào là có một sự kiện mà nhân sự kiện đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: 'Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ khả tác và cũng đem tông chỉ khả tác ấy nói cho người khác'? Này Sư Tử, Ta nói thân diệu hành là nên làm, khẩu và ý diệu
____________________
(11) Hán: tông bổn pháp luật 宗 本 法 律. Pāli: venayika, sự chế ngự.
(12) Hán: tông bổn khổ hành 宗 本 苦 行. Pāli: tapassī.
(13) Hán: tông bổn bất nhập thai 宗 本 不 入 胎. Pāli: apagabbo.
(14) Hán: tông bổn an ổn 宗 本 安 隠. Pāli: assattha, tô tức, an tức, sự nghỉ ngơi.
(15) Thân ác hành là bất khả tác. Pl.: akiriyaṃ kāyaduccaritassa.
hành là nên làm. Này Sư Tử, nếu có vô lượng pháp thiện tương ứng như vậy, sẽ mang lại lạc quả, được thọ lạc báo, sanh về thiện xứ để được trường thọ. Này Sư Tử, Ta nói, tất cả những pháp này đều nên làm. Này Sư Tử, đó là có một sự kiện mà nhân sự kiện đó, đối với pháp như thật không thể hủy báng rằng: 'Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ khả tác và cũng đem pháp khả tác ấy nói cho người khác'.
(iii.3) "Này Sư Tử, thế nào là có một sự kiện mà nhân sự kiện đó, đối với pháp như thật không thể hủy báng rằng: 'Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ đoạn diệt và cũng đem pháp đoạn diệt ấy nói cho người khác'? Này Sư Tử, Ta nói thân ác hành nên đoạn diệt; khẩu, ý ác hành nên đoạn diệt. (16) Này Sư Tử, nếu có vô lượng pháp cấu uế, bất thiện như vậy, làm cội gốc cho cội hữu trong tương lai, làm nhân cho khổ báo, phiền nhiệt, và cho sanh, già, bệnh, chết. Này Sư Tử, Ta nói tất cả các pháp ấy nên đoạn diệt. Này Sư Tử, đó là có một sự kiện mà, nhân sự kiện đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ đoạn diệt, và cũng đem pháp đoạn diệt ấy nói cho người khác'.
(iii.4) "Này Sư Tử, thế nào là có một sự kiện mà nhân sự kiện ấy, đối với pháp như thật không thể hủy báng rằng: 'Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ kinh tởm và cũng đem pháp kinh tởm ấy [441c] nói cho người khác'? Này Sư Tử, Ta nói thân ác hành, nên kinh tởm; khẩu, ý ác hành nên kinh tởm. Này Sư Tử, nếu có vô lượng pháp cấu uế bất thiện tương tự như vậy, làm cội gốc cho hữu trong tương lai, làm nhân cho khổ báo, phiền nhiệt, và cho sanh, già, bệnh, chết. Này Sư Tử, Ta nói những pháp ấy đều nên kinh tởm. Này Sư Tử, đó là có một sự kiện mà nhân sự kiện đó, đối với pháp như thật không thể hủy báng rằng: 'Sa- môn Cù-đàm có tông chỉ kinh tởm, và cũng đem pháp kinh tởm ấy nói cho người khác'.
(iii.5) "Này Sư Tử, thế nào là có một sự kiện, nhân sự kiện đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: 'Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ pháp luật cũng đem pháp luật ấy nói cho người khác'? Này Sư Tử, vì mục đích đoạn tham dâm mà Ta nói pháp luật. Vì mục đích đoạn sân nhuế và ngu si mà Ta nói là pháp luật. Này Sư Tử, nếu vô lượng pháp cấu uế bất thiện, tương tự như vậy, làm cội gốc cho hữu trong tương lai, làm nhân cho khổ báo, phiền nhiệt, và cho sanh, già, bệnh, chết, này Sư Tử, vì mục đích đoạn trừ những sự kiện ấy mà Ta
____________________
(16) Pl.: ucchedaṃ vādāmi rāgassa dosassa mohassa, "Ta nói đoạn diệt tham, đoạn diệt sân, đoạn diệt si."
nói pháp luật. Này Sư Tử, đó là có một sự kiện mà nhân sự kiện ấy, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: 'Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ pháp luật, cũng đem tông chỉ pháp luật ấy nói cho người khác'.
(iii.6) "Này Sư Tử, thế nào là có một sự kiện mà nhân sự kiện đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: 'Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ khổ hành và cũng đem pháp khổ hành ấy nói cho người khác'? Này Sư Tử, hoặc có Bà-la-môn Sa-môn lõa hình, không y phục (17) hoặc dùng tay làm y phục, hoặc lấy lá làm y phục, hoặc lấy hạt châu làm y phục; hoặc không múc nước bằng bình, hoặc không múc nước bằng gáo; không ăn đồ ăn xốc xỉa bằng dao gậy, không ăn đồ ăn lừa dối, không tự mình đến, không làm khách được mời (18) , không làm khách được chào đón (19) , không làm khách được lưu (20) , không ăn từ giữa hai người đang ăn, không ăn tại nhà có thai (21), không ăn từ nhà có nuôi chó, không ăn từ nhà có lằng xanh bay đến; không ăn cá, không ăn thịt, không uống rượu, không uống nước dấm (22) , hoặc không uống gì cả, học tập hạnh không uống; hoặc ăn một miếng, cho một miếng là đủ (23) , hoặc ăn hai, ba, bốn, cho đến bảy miếng, và cho bảy miếng là đủ, hoặc ăn bởi một lần nhận được (24) , và cho đến một lần nhận được là đủ, hoặc ăn bởi hai, ba bốn cho đến bảy lần nhận được và cho bảy lần nhận được là đủ, hoặc ăn ngày một lần và cho một lần là đủ, hoặc hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy ngày, nửa tháng, hay một tháng, ăn một lần và cho một lần là đủ; hoặc ăn cỏ (25) , hoặc ăn
__________________________
(17) Đoạn trình bày các lối khổ hạnh này giống kinh 104 ở sau. Bản Pāli tương đương không có đoạn này. Các chú thích dưới đây tham chiếu D.24 Udumbarikasīhanāda-suttanta. Xem thêm No 1(25): Lõa hinh phạm chí (tr.103btt).
(18) Hán: bất lai tôn 不來尊. Pāli: na-ehi-bhadantika, "không là Tôn giả được gọi: Mời đến đây!"
(19) Hán: bất thiện tôn 不善尊. Không thấy có Pāli tương đương. Có lẽ: na-sādhu-bhadantika, "không là Tôn giả được chào đón: Lành thay, Tôn giả!"
(20) Hán: bất trụ tôn 不 住 尊. Pāli: na-tiṭṭha-bhadantika, "không là Tôn giả được mời mọc: Hãy ở lại đây, Tôn giả!"
(21) Hán: bất hoài nhâm gia thực 不懷妊家食. Pāli: na gabbhiniyā (paṭigaṇhāti), không (nhận thức ăn) từ người đàn bà mang thai.
(22) Hán: ác thủy 惡水. Pāli: thusodaka, nước lên men.
(23) Pāli : ekāgāriko vā hoti ekālopiko, mỗi nhà chỉ nhận một miếng ăn.
(24) Hán: thực nhất đắc 食一得. Pāli: ekissāpi dattiyā yāpeti, chỉ sống bằng một vật được cho.
(25) Hán: thái như 菜茹. Pāli: sākabhakkho.
lúa cỏ (26) , hoặc ăn nếp tuế, hoặc ăn [442a] cám, hoặc ăn gạo đầu-đầu-la (27) , hoặc ăn đồ ăn thô; hoặc đến chỗ vô sự (28) , y nơi vô sự; hoặc ăn rễ, hoặc ăn trái, hoặc ăn quả tự rụng; hoặc mặc áo khâu đủ thứ vải (29) , hoặc mặc áo lông, hoặc mặc áo vải đầu-xá (30) , hoặc mặc áo vải đầu-xá bằng lông, hoặc mặc bằng da nguyên, hoặc mặc da có xoi lỗ, hoặc mặc da toàn xoi lỗ; hoặc để tóc xõa, hoặc để tóc bện, hoặc để tóc vừa xõa vừa bện, hoặc chỉ cạo tóc, hoặc chỉ cạo râu, hoặc cạo cả râu tóc, hoặc nhổ tóc, hoặc nhổ râu, hoặc nhổ cả râu tóc, hoặc chỉ đứng thẳng không hề ngồi, hoặc đi chồm hỗm, hoặc nằm gai, lấy gai làm giường; hoặc nằm trái (31) , lấy trái làm giường; hoặc thờ nước, ngày đêm lấy tay vọc; hoặc thờ lửa, ngày đêm đốt lên; hoặc thờ mặt trời, mặt trăng, thờ Đấng Tôn Hựu Đại Đức, chắp tay hướng về. So như vậy thời phải chịu vô lượng khổ, học hạnh phiền lao.
"Này Sư Tử, có những khổ hành như vậy, chứ Ta chẳng nói là không có. Này Sư Tử, nhưng những khổ hành như vậy là những nghiệp hạ tiện, rất khổ, rất khốn, là sự thực hành của người phàm phu, không phải Thánh đạo. Này Sư Tử, nếu có Sa-môn, Bà-la-môn đối với các pháp khổ hành ấy mà biết rõ, đoạn trừ, diệt tận và nhổ sạch gốc rễ của chúng đến rốt cùng, không cho sanh ra, Ta nói rằng những người kia là khổ hành (32) . Này Sư Tử, Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, đối với các pháp khổ hành ấy đã biết rõ, đã đoạn trừ, diệt tận, nhổ tất cả gốc rễ của chúng đến rốt cùng không cho sanh ra nữa, do đó Ta là người khổ hành. Này Sư Tử, đó là sự kiện mà nhân sự kiện đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng rằng: 'Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ khổ hành, và cũng đem pháp khổ hành ấy nói cho người khác'.
___________________
(26) Hán: bại tử 稗子, loại cỏ giống như lúa. Pāli: sāmāka.
(27) Hán: đầu-đầu-la 頭頭邏. Pāli: daddula.
(28) Hán: chí vô sự xứ 至無事處, đến nơi rừng vắng? Không thấy Pāli tương đương. Tham chiếu: vana-mla-palāhāro yāpeti.
(29) Hán: liên hiệp y 連合衣. Pāli: masāṇāni, vải gai lẫn các vải khác.
(30) Hán: đầu-xá y 頭舍衣. Pāli: dussa, vải thô chưa nhuộm màu.
(31) Hán: ngọa quả 臥果. Pāli: phalaka, (nằm trên) tấm ván. Bản Hán hiểu phala(ka) là trái cây.
(32) Pāli: yassa... tapaniyā pāpakā akusalā dhammā pahīnā... tam ahaṃ 'tapassī' ti vadāmi, "ai đoạn trừ những pháp ác bất thiện thiêu đốt hành hạ này, Ta gội đó la ngfời khổ hành." Từ tapassī, người khổ hành, owr đây được hiểu do ggốc đông từ tappati: bị thiêu đót, binh hành hạ.
(iii.7) "Này Sư Tử, thế nào là có một sự kiện mà nhân sự kiện đó, đối
vời pháp như thật, không thể hủy báng khi nói rằng: 'Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ không nhập thai, và cũng đem pháp không nhập thai ấy nói cho người khác?' Này Sư Tử, nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nào đối với sự thai sanh trong tương lai (33) mà biết rõ, đoạn trừ, diệt tận, nhổ tuyệt gốc rễ của nó, cho đến rốt cùng không cho sanh ra nữa, Ta nói rằng người kia không còn vào thai. Này Sư Tử, Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, đối với thai sanh trong tương lai đã biết rõ, đã đoạn trừ, diệt tận, nhổ tuyệt gốc rễ của nó, cho đến rốt cùng không cho sanh ra nữa, do đó Ta không còn vào thai nữa. Này Sư Tử, đó là một sự kiện mà nhân sự kiện đó, đối với pháp như thật, không thể hủy báng khi nói rằng: 'Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ không nhập thai và cũng đem pháp không nhập thai đó nói cho người khác'.
(iii.8) "Này Sư Tử, thế nào là có một sự kiện, mà nhân sự kiện đó đối với pháp như thật, không thể hủy báng khi nói rằng: 'Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ an ổn và cũng đem pháp an ổn đó nói cho người khác'? [442b]
Này Sư Tử, có một thiện gia nam tử nào đó cạo bỏ râu tóc, mặc áo cà sa, chí tín, lìa bỏ gia đình, sống không gia đình, xuất gia học đạo, chỉ vì mục đích thành tựu phạm hạnh vô thượng, ở ngay trong hiện tại này mà tự tri, tự giác, tự tác chứng, thành tựu và an trụ, biết như thật rằng: 'Sự sanh đã dứt, phạm hạnh đã vững, việc cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa'. Ta tự an ổn và cũng an ổn cho các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di khác. Ta đã an ổn và làm cho chúng sanh lệ thuộc vào sự sanh giải thoát sự sanh ấy; chúng sanh lệ thuộc vào già, tật bệnh, sự chết, ưu sầu, ô nhiễm, được sự giải thoát khỏi ưu sầu nhiễm ô ấy. Này Sư Tử, đó là có một sự kiện mà nhân sự kiện đó không thể hủy báng đối với pháp như thật rằng: 'Sa-môn Cù-đàm có tông chỉ an ổn và cũng đem pháp an ổn ấy nói cho người khác'."
(v) Bấy giờ, Đại thần Sư Tử bạch Thế Tôn rằng:
"Bạch Cù-đàm, con đã biết. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu. Bạch Cù-đàm, cũng như người có mắt tỏ, cái gì úp thì giở lên, cái gì che kín thì mở ra, chỉ đường cho người mê, đem ánh sáng đến chỗ tối, để cho ai có mắt sáng liền thấy màu sắc. Sa-môn Cù-đàm cũng lại như vậy, bằng vô lượng phương tiện, để thuyết pháp cho con, bày tỏ nghĩa lý,
__________________________
(33) Pl.: āyatiṃ gabbhaseyyā punabbhavābhinibbatti, sự chuyển sanh của đương lai hữu dẫn đến nhập thai trong tương lai.
tùy theo các đạo (34).
"Bạch Cù-đàm, nay con xin quy y Phật, quy y Pháp và Chúng Tỳ-kheo, cúi mong Thế Tôn nhận con làm Ưu-bà-tắc; kể từ hôm nay, trọn đời tự quy y, cho đến khi mạng chung.
"Bạch Thế Tôn, cũng như có người nuôi một con ngựa bất lương, mà mong được sự lợi ích, chỉ uổng công nhọc nhằn mà chẳng được sự lợi ích gì cả. Thế Tôn, con cũng như vậy. Các Ni-kiền ngu si kia, con không khéo hiểu biết, không thể tự biết, không nhận được đâu là ruộng tốt, mà lại không tự suy xét, mãi thờ kính, cúng dường, lễ bái để trông được lợi ích, chỉ nhọc mà vô ích. Bạch Thế Tôn, nay con một lần nữa xin tự quy Phật, Pháp và Chúng Tỳ-kheo. Cúi mong Đức Thế Tôn nhận con làm Ưu-bà-tắc, kể từ hôm nay, trọn đời tự quy y, cho đến mạng chung.
"Bạch Thế Tôn, con vốn không hiểu nên đối với các Ni-kiền ngu si kia có sự tin tưởng và kính trọng, và từ nay chấm dứt. Vì sao thế? Vì họ lừa dối con. Bạch Thế Tôn, nay con lần thứ ba, xin tự quy y nơi Phật, quy y Pháp, và Chúng Tỳ-kheo. Cúi mong Thế Tôn nhận con làm Ưu-bà-tắc, kể từ hôm nay, trọn đời tự quy y, cho đến mạng chung". (35)
Phật thuyết như vậy. Đại thần Sư Tử và các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
_______________________
(34) Hán: tùy kỳ chư đạo 隨其諸道. Đoạn văn tương tự trong thành cú Pāli không tìm thấy ý nghĩa tương đương: (¼) evamevaṃ bhotā gotamena anekapariyāyena dhammo pakāsito, "bằng vô số phương tiện Tôn Giat Gotama đã soi sáng pháp như vậy như vậy."
(35) Pāli (A.iv. 185) và Tứ phần 42 (tr.871c21) đều có thêm đoạn Phật khuyên Sư Tử thận trọng trước khi cải giáo. Tứ phần: "Ông là Đại thần của một nước, được mọi người biết đến, đang hữu ích cho nhiều người, chớ có hành động khinh suất mà sau này hối hận."