Tìm kinh sách
 
        Kinh Sách FULL
Kinh Trung A-Hàm Tập 1

Kinh Trung A-Hàm Tập 1

Tác giả: Hán Dịch: Tam Tạng Tăng-Già-Đề-Bà. Dịch giả: Việt Dịch: Tuệ Sỹ. Năm xuất bản: 2008. Số trang: 1150.

Kinh Trung A-Hàm (Madhyama Āgama) thuộc A-hàm bộ trong hệ thống Hán tạng (Bắc truyền Phật giáo / Kinh điển Nguyên thủy). Trong bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, bộ kinh này nằm ở Quyển thứ 1 và Quyển thứ 2 (Kinh số 26), gồm 60 quyển chia thành 5 tập (Thiên) và 18 phẩm, chứa tổng cộng 222 bài kinh.
Bộ kinh này do hai ngài Tăng-già-đề-bà (Saṅghadeva) và Đàm-ma-nan-đề (Dharmanandi) dịch từ chữ Phạn sang chữ Hán vào thời Đông Tấn.

Vị trí và Bản chất giáo lý

• Bản chất giáo lý Nguyên thủy: Dù được lưu giữ bằng chữ Hán trong Hán tạng, nhưng Kinh Trung A-hàm không mang tư tưởng phát triển của Đại thừa. Đây là một trong bốn bộ kinh A-hàm nền tảng chứa đựng những lời dạy nguyên sơ, chân thực nhất của Đức Phật Thích Ca và các đại đệ tử.
• Ý nghĩa tên gọi "Trung": Chữ "Trung" ở đây chỉ độ dài mang tính chất trung bình (vừa phải) của các bài kinh. Bộ kinh này tập hợp những bài giảng không quá dài (như Trường A-hàm) nhưng cũng không quá ngắn (như Tạp A-hàm hay Tăng Nhất A-hàm).
• Bản dịch đối chiếu: Bộ Kinh Trung A-hàm của Hán tạng có nội dung hoàn toàn tương đồng và đối chiếu trực tiếp với bộ Kinh Trung Bộ (Majjhima Nikāya, gồm 152 bài kinh bản Pali) của Phật giáo Nam truyền (Nguyên thủy). Tuy nhiên, số lượng bài kinh và sự sắp xếp các phẩm giữa bản Hán dịch và bản Pali có một số điểm khác biệt do xuất phát từ các bộ phái kết tập khác nhau thời Ấn Độ cổ đại.
Tại Việt Nam, bản dịch đầy đủ, chính thức và uy tín nhất của bộ Kinh Trung A-hàm (Hán dịch) sang tiếng Việt thuộc về công trình dịch thuật vĩ đại của Cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ.
Nếu bạn muốn tìm hiểu kỹ hơn về bộ kinh này, hãy cho tôi biết:
• Bạn có muốn đối chiếu một bài kinh cụ thể xem nó nằm ở đâu giữa Trung A-hàm (Hán tạng) và Trung Bộ (Pali) không?
• Hoặc bạn muốn tìm hiểu về phương pháp phân loại kinh văn của hệ thống A-hàm?

Chương 12: 9. Kinh Thất Xa (Trang 61 - 70)

9. KINH THẤT XA
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật trú tại thành Vương Xá, trong tinh xá Trúc Lâm, cùng an cư mùa mưa [430a] với đại chúng Tỳ-kheo.
Tôn giả Mãn Từ Tử (1) cũng an cư mùa mưa tại sinh quán mình. Lúc bấy giờ các Tỳ-kheo địa phương, sau khi đã trải qua ba tháng an cư mùa mưa, khâu vá lại các y đã xong, xếp y, cầm bát, từ sinh quán đi về phía thành
Vương Xá. Lần lượt đi về phía trước, đến thành Vương Xá, trú ở tinh xá Trúc Lâm, tại thành Vương Xá.
Bấy giờ các Tỳ-kheo địa phương tới trước Thế Tôn, cúi đầu lễ bái rồi ngồi sang một bên. Thế Tôn hỏi rằng:
"Các Tỳ-kheo, các ngươi từ đâu đến đây? An cư mùa mưa ở đâu?"
Các Tỳ-kheo địa phương ấy thưa rằng:
"Bạch Thế Tôn, chúng con từ sinh quán tới đây và an cư mùa mưa tại sinh quán".
Thế Tôn hỏi:
"Trong các Tỳ-kheo địa phương, Tỳ-kheo nào được các Tỳ-kheo khen ngợi rằng: 'Tự mình thiểu dục, tri túc và khen ngợi thiểu dục, tri túc; tự mình độc cư (2) và khen ngợi độc cư; tự mình tinh tấn và khen ngợi tinh tấn; tự mình chánh niệm và khen ngợi chánh niệm; tự mình nhất tâm và khen ngợi nhất tâm; tự mình có trí tuệ và khen ngợi trí tuệ; tự mình lậu tận và khen ngợi lậu tận; tự mình khuyến phát, khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ (3) và khen ngợi khuyến phát, khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ' chăng?"
Các Tỳ-kheo địa phương bạch rằng:
"Bạch Thế Tôn, Tôn giả Mãn Từ Tử ở nơi sinh quán của mình, được các Tỳ-kheo khen ngợi rằng: 'Tự mình thiểu dục, tri túc và khen ngợi
______________________
(1) Mãn Từ Tử 滿慈子 (Phú-lâu-na Di-đa-la-ni Tử). Pāli: Puṇṇa Mantāṇiputta.
(2) Hán: nhàn cư 閑居. Pāli: paviveka, (sống) độc cư, nhàn cư, ẩn dật.
(3) Hán: tự khuyến phát, khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ 自勸發渴仰成就歡喜. Pāli: ovādako viññāpako sandassako samādapako samuttejako sampahaṃsako: vị giáo giới, vị giáo thọ, vị khai thị, vị khích kệ (sách tấn), vị làm cho các đồng phạm hạnh hoan hỷ.
thiểu dục tri túc; tự mình độc cư và khen ngợi độc cư; tự mình tinh tấn và khen ngợi tinh tấn; tự mình chánh niệm và khen ngợi chánh niệm; tự mình nhất tâm và khen ngợi nhất tâm; tự mình có trí tuệ và khen ngợi trí tuệ; tự mình lâu tận và khen ngợi lâu tận; tự mình khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ và khen ngợi khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ'."
Lúc bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất (4) đang ngồi giữa đại chúng. Tôn giả Xá-lợi-phất suy nghĩ như vầy: "Thế Tôn theo sự thật mà hỏi các Tỳ-kheo địa phương kia. Các Tỳ-kheo địa phương vô cùng khen ngợi Hiền giả Mãn Từ Tử, là người 'Tự mình thiểu dục, tri túc và khen ngợi thiểu dục, tri túc; tự mình độc cư và khen ngợi độc cư; tự mình tinh tấn và khen ngợi tinh tấn; tự mình chánh niệm và khen ngợi chánh niệm; tự mình nhất tâm và khen ngợi nhất tâm; tự mình có trí tuệ và khen ngợi trí tuệ; tự mình lậu tận và khen ngợi lậu tận; tự mình khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ và khen ngợi khuyến phát khát ngưỡng, thành tựu hoan hỷ'."
Tôn giả Xá-lợi-phất lại suy nghĩ: "Biết lúc nào tôi mới gặp Hiền giả Mãn Từ Tử để hỏi một vài nghĩa lý? Hiền giả ấy hoặc có thể nghe và trả lời những điều tôi hỏi".
Bấy giờ Thế Tôn, [430b] sau khi trải qua ba tháng an cư mùa mưa ở thành Vương Xá, khâu vá y xong, bèn xếp y, ôm bát, từ thành Vương Xá đi đến nước Xá-vệ, lần lượt tiến về phía trước, đến nước Xá-vệ, trú trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Tôn giả Xá-lợi-phất và các Tỳ-kheo địa phương cùng ở lại Vương Xá vài ngày, rồi xếp y, ôm bát, đi đến nước Xá-vệ, lần lượt tiến về phía trước, đến nước Xá-vệ, cùng ở tại rừng Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Lúc bấy giờ Tôn giả Mãn Từ Tử ở tại sinh quán mình, sau khi đã trải qua ba tháng an cư mùa mưa, đã khâu vá lại các y, rồi xếp y, ôm bát, từ quê quán mình đi đến nước Xá-vệ, lần lượt tiến về phía trước, đến nước Xá-vệ, cùng ở trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Tôn giả Mãn Từ Tử đến chỗ Thế Tôn, cúi đầu làm lễ, rồi trải ni-sư-đàn phía trước Như Lai mà ngồi kiết già.
Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất hỏi các Tỳ-kheo rằng:
_______________________
(4) Nguyên bản: Xá-lợi-phất 舍梨子. Pāli: Sāriputta.
"Này Chư Hiền, vị nào là Hiền giả Mãn Từ Tử?"
Các Tỳ-kheo bạch Tôn giả Xá-lợi-phất:
"Xin thưa, vị ngồi trước Như Lai, trắng trẻo, mũi cao như mỏ chim oanh vũ, là vị ấy".
Tôn giả Xá-lợi-phất đã biết đúng mặt Mãn Từ Tử, liền ghi nhớ kỹ. Tôn giả Mãn Từ Tử sau khi qua đêm, trời hừng sáng, xếp y, cầm bát, đi vào Xá-vệ để khất thực. Sau khi ăn trưa xong lại, thâu dọn y bát, rửa tay chân, vắt ni-sư-đàn lên vai, đến rừng An-đà (5) , chỗ đi kinh hành. Tôn giả Xá-lợi-phất cũng sau khi qua đêm, trời hừng sáng, xếp y, cầm bát, đi vào Xá-vệ để khất thực. Sau khi ăn trưa xong lại, thâu dọn y bát, rửa tay chân, vắt ni-sư-đàn lên vai, đến rừng An-đà, chỗ đi kinh hành.
Bấy giờ Tôn giả Mãn Từ Tử đến rừng An-đà, trải Ni-sư-đàn dưới một gốc cây, ngồi kiết già. Tôn giả Xá-lợi-phất cũng đến rừng An-đà, cách
Tôn giả Mãn Từ Tử không xa, trải Ni-sư-đàn dưới một gốc cây ngồi kiết già.
Tôn giả Xá-lợi-phất vào lúc xế chiều, rời chỗ thiền tọa, đi đến chỗ Mãn Từ Tử, cùng chào hỏi nhau rồi ngồi sang một bên, và hỏi Tôn giả Mãn Từ Tử rằng:
"Này Hiền giả, phải chăng Hiền giả theo Sa-môn Cù-đàm tu phạm hạnh?"
Đáp rằng:
"Đúng vậy"
"Này Hiền giả, vì lý do gì, có phải vì giới thanh tịnh (6) nên ngài theo Sa-môn Cù-đàm tu phạm hạnh chăng?"
Đáp rằng:
"Thưa, không phải vậy".
"Vì tâm thanh tịnh (7) , vì kiến thanh tịnh (8) , vì nghi thanh tịnh (9) , vì [430c] đạo
_______________________-
(5) An-đà lâm 安陀林. Pāli: Andhavana.
(6) Hán: giới tịnh cố 戒淨故. Pāli: sīlavisuddhattham: mục đích là sự thanh tịnh của giới đức.
(7) Hán: tâm tịnh 心淨. Pāli: cittavisuddha.
(8) Hán: kiến tịnh 見淨. Pāli: diṭṭhivisuddha.
(9) Hán: nghi cái tịnh 疑蓋淨. Pāli: kaṅkhāvitaraṇavisuddha, độ nghi tịnh, trừ nghi tịnh:
phi đạo tri kiến thanh tịnh (10) , vì đạo tích tri kiến (11) thanh tịnh, vì đạo tích đoạn trí thanh tịnh (12) nên Hiền giả theo Sa-môn Cù-đàm tu phạm hạnh chăng?"
Đáp: "Không phải vậy"
Lại hỏi:
"Tôi vừa hỏi Hiền giả rằng: 'Phải chăng Hiền giả theo Sa-môn Cù-đàm tu phạm hạnh?' Hiền giả đáp: 'Đúng vậy'. Rồi tôi hỏi Hiền giả: 'Có phải vì giới thanh tịnh nên Hiền giả theo Sa-môn Cù-đàm tu phạm hạnh chăng?' thì Hiền giả đáp: 'Không phải vậy'; 'Có phải vì tâm thanh tịnh, vì kiến thanh tịnh, vì nghi thanh tịnh, vì phi đạo tri kiến thanh tịnh, vì đạo tích tri kiến thanh tịnh, vì đạo tích đoạn trí thanh tịnh nên Hiền giả theo Sa-môn Cù-đàm tu phạm hạnh chăng?' thì Hiền giả cũng lại đáp rằng 'Không phải vậy'. Nhưng theo ý nghĩa nào (13) mà Hiền giả theo Sa-môn Cù-đàm tu phạm hạnh?"
Đáp: "Này Hiền giả, vì Vô dư Niết-bàn vậy (14) ".
Lại hỏi:
"Thế nào, này Hiền giả, có phải vì giới thanh tịnh nên Sa-môn Cù-đàm
thi thiết Vô dư Niết-bàn chăng?" (15)
"Đáp: "Không phải vậy".
Lại hỏi:
"Vì vì tâm thanh tịnh, vì kiến thanh tịnh, vì nghi thanh tịnh, vì đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh, vì đạo tích tri kiến thanh tịnh, vì đạo tích đoạn
_________________________
"thanh tịnh do vượt qua sự hoài nghi". Bản Hán đọc là kaṅkhāvaraṇavisuddha, "thanh tịnh đối với sự bao trùm của hoài nghi". (10) Hán: đạo phi đạo tri kiến tịnh 道非道知見淨. Pāli: maggāmaggañāṇa-dassanavisuḍha, thanh tịnh do thấy và biết về đạo và phi đạo.
(11) Hán: đạo tích tri kiến tịnh 道跡知見淨. Pāli: paṭipadāñāṇadassanavisuddha, thanh tịnh do tri kiến về phương pháp hành trì (đạo tích).
(12) Hán: đạo tích đoạn trí tịnh 道跡斷智淨, sự thanh tịnh do nhận thức toàn diện về đường lối hành trì. Pāli: ñāṇadassanavisuddha, thanh tịnh do tri kiến.
(13) Hán: dĩ hà nghĩa 以何義. Pāli: kim attham, có mục đich gì?
(14) Hán: Vô dư Niết-bàn 無餘涅槃. Pāli: anupādāparinibbāna, Niết-bàn không còn chấp thủ.
(15) Hán: dĩ ¼ cố 以 ¼故, vì mục đích. Nhưng, theo bản Pāli (M. i. 148): kiṃ nu kho sīlavisuddhi anupādāparinibbānaṃ, phải chăng (Thế Tôn nói) sự giới tịnh là vô thủ trước Niết-bàn? Xem thêm cht, tiêp theo.
trí thanh tịnh nên Hiền giả theo Sa-môn Cù-đàm thi thiết Vô dư Niết-bàn chăng?"
"Đáp: "Không phải vậy".
Lại hỏi:
"Tôi vừa hỏi Hiền giả, 'Thế nào, này Hiền giả, có phải vì giới thanh tịnh nên Sa-môn Cù-đàm thi thiết Vô dư Niết-bàn chăng?' Hiền giả đáp: 'Không phải vậy'. 'Vì tâm thanh tịnh, vì kiến thanh tịnh, vì nghi thanh tịnh, vì đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh, vì đạo tích tri kiến thanh tịnh, vì đạo tích đoạn trí thanh tịnh nên Sa-môn Cù-đàm thi thiết Vô dư Niết-bàn chăng?' Vậy những điều Hiền giả nói có ý nghĩa gì? Làm thế nào để biết được?"
Đáp rằng:
"Này Hiền giả: Nếu vì giới thanh tịnh mà Thế Tôn, Sa-môn Cù-đàm thi thiết Vô dư Niết-bàn, thì đó là lấy hữu dư mà gọi vô dư. Nếu vì tâm thanh tịnh, vì tri kiến thanh tịnh, vì nghi cái thanh tịnh, vì đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh, vì đạo tích tri kiến thanh tịnh, vì đạo tích đoạn trí thanh tịnh mà Thế Tôn Sa-môn Cù-đàm thi thiết Vô dư Niết-bàn, thì tức là lấy hữu dư mà gọi là vô dư (16) .
"Này Hiền giả, nếu ngoài những pháp đó (17) mà Thế Tôn thi thiết Vô dư Niết-bàn thì phàm phu cũng sẽ Bát-niết-bàn, bởi vì phàm phu cũng ở ngoài các pháp đó (18) .
"Này Hiền giả, nhưng do giới thanh tịnh, cho nên tâm thanh tịnh; do tâm thanh tịnh cho nên kiến thanh tịnh; do kiến thanh tịnh cho nên nghi cái [431a] thanh tịnh; do nghi cái thanh tịnh cho nên đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh; do đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh cho nên đạo tích tri kiến thanh tịnh; do đạo tích tri kiến thanh tịnh cho nên đạo tích đoạn trí thanh tịnh; do đạo tích đoạn trí tịnh, cho nên Thế Tôn Sa-môn Cù-đàm thi thiết Vô dư Niết-bàn.
"Hiền giả, xin hãy nghe thêm. Xưa, vua xứ Câu-tát-la là Ba-tư-nặc ở
_____________________
(16) So sánh bản Pāli: sīlavisuddhiñ ce āvuso Bhagavā anupādāparinibbānaṃ paññāpeyya, sa-upādānaṃ yeva samānaṃ anupādā parinibbānaṃ paññāpeyya, ... "Nếu Thế Tôn tuyên bố (thi thiết) giới thanh tịnh là Vô dư Niết-bàn thì Ngài cũng tuyên bố Vô dư Niết-bàn bình đẳng với Hữu dư..."
(17) Tức ngoài những pháp đã kể: giới tịnh, cho đến, tri kiến tịnh.
(18) Nghĩa là, phàm phu không có giới tịnh, cho đến, tri kiến tịnh.
nước Xá-vệ, có việc ở Sa-kê-đế (19) . vua suy nghĩ như vầy: 'Dùng phương tiện gì để trong một ngày đi từ Xá-vệ đến Sa-kê-đế được?' Lại suy nghĩ như vầy: 'Nay ta nên từ Xá-vệ đến Sa-kê-đế, ở giữa đường đó, bố trí bảy cỗ xe'. Rồi thì, từ Xá-vệ đến Sa-kê-đế, ở giữa đường đó, vua bố trí bảy cỗ xe. Bố trí bảy cỗ xe xong, từ Xá-vệ vua đi đến cỗ xe thứ nhất, ngồi trên cỗ xe thứ nhất đi đến cỗ xe thứ hai. Rồi bỏ cỗ xe thứ nhất cỡi cỗ xe thứ hai đến xe thứ ba; bỏ cỗ xe thứ hai ngồi trên cỗ xe thứ ba đến cỗ xe thứ tư; bỏ cỗ xe thứ ba ngồi trên cỗ xe thứ tư đến cỗ xe thứ năm; bỏ cỗ xe thứ tư ngồi trên cỗ xe thứ năm đến cỗ xe thứ sáu; bỏ cỗ xe thứ năm ngồi trên cỗ xe thứ sáu đến cỗ xe thứ bảy; bỏ cỗ xe thứ sáu ngồi trên cỗ xe thứ bảy; trong một ngày là đến Sa-kê-đế.
"Sau khi làm việc xong ở Sa-kê-đế, ngồi trong chánh điện của vua, với các đại thần vây quanh. Quần thần tâu rằng:
"Tâu Thiên vương, phải chăng chỉ trong một ngày mà Thiên vương đi từ Xá-vệ đến Sa-kê-đế?
"Vua nói: Đúng vậy.
"Tâu Thiên vương, có phải Thiên vương cỡi cỗ xe thứ nhất mà trong một ngày đi từ Xá-vệ đến Sa-kê-đế?
"Vua nói:
"Không phải vậy.
"Có phải Ngài cỡi cỗ xe thứ hai, cỗ xe thứ ba cho đến cỗ xe thứ bảy từ
Xá-vệ đến Sa-kê-đế?
"Không phải vậy.
"Thế nào, này Hiền giả, nếu quần thần lại hỏi nữa, Ba-tư-nặc quốc vương xứ Câu-tát-la sẽ đáp thế nào? Có phải vua trả lời cho quần thần rằng:
"Ta ở Xá-vệ có việc ở Sa-kê-đế, ta nghĩ thế này: 'Dùng phương tiện gì để trong một ngày đi từ Xá-vệ đến Sa-kê-đế được?' Lại suy nghĩ như vầy:
'Nay ta nên từ Xá-vệ đến Sa-kê-đế, ở giữa đường đó, bố trí bảy cỗ xe'. Rồi thì, từ Xá-vệ đến Sa-kê-đế, ở giữa đường đó, ta bố trí bảy cỗ xe. Bố trí bảy cỗ xe xong, từ Xá-vệ ta đi đến cỗ xe thứ nhất, ngồi trên cỗ xe thứ nhất đi đến cỗ xe thứ hai. Rồi bỏ cỗ xe thứ nhất cỡi cỗ
____________________
(19) Sa-kê-đế 娑雞帝; các bản Hán đều viết Bà-kê-đế 婆雞帝. Nay theo âm Pāli tương đương sửa lại. Pāli: Sakēta, một thành phố ở phía Bắc Kosala.
xe thứ hai đến cỗ xe thứ ba; bỏ cỗ xe thứ hai [431b] ngồi trên cỗ xe thứ ba đến cỗ xe thứ tư; bỏ cỗ xe thứ ba ngồi trên cỗ xe thứ tư đến cỗ xe thứ năm; bỏ cỗ xe thứ tư ngồi trên cỗ xe thứ năm đến cỗ xe thứ sáu; bỏ cỗ xe thứ năm ngồi trên cỗ xe thứ sáu đến cỗ xe thứ bảy; bỏ cỗ xe thứ sáu ngồi trên cỗ xe thứ bảy; trong một ngày là đến Sa-kê-đế.
"Như vậy! Thưa Hiền giả, Ba-tư-nặc, vua xứ Câu-tát-la, trả lời câu hỏi của quần thần như vậy.
"Cũng vậy, thưa Hiền giả, vì giới thanh tịnh mà tâm thanh tịnh, vì tâm thanh tịnh nên tri kiến thanh tịnh, vì tri kiến thanh tịnh nên nghi cái thanh tịnh, vì nghi cái thanh tịnh, nên đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh, vì đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh nên đạo tri kiến thanh tịnh, vì đạo tích tri kiến thanh tịnh nên đạo tích đoạn trí thanh tịnh, vì đạo tích đoạn trí thanh tịnh nên Thế Tôn thi thiết Vô dư Niết-bàn".
Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất hỏi Tôn giả Mãn Từ Tử:
"Hiền giả tên là gì? Các đồng phạm hạnh (20) gọi Hiền giả như thế nào?" Tôn giả Mãn Từ Tử trả lời rằng:
"Hiền giả, tôi hiệu (21) là Mãn. Thân mẫu tôi tên Từ, do đó các đồng phạm
hạnh gọi tôi là Mãn Từ Tử".
Tôn giả Xá-lợi-phất tán thán rằng:
"Lành thay! Lành thay! Tôn giả Mãn Từ Tử! Là đệ tử của Đức Như Lai, trí biện hoàn hảo (22) , thông minh, quyết định, an lạc vô úy, thành tựu sự chế ngự, đạt đến đại biện tài, được phướn cam lồ (23) , ở trong cam lồ giới (24) tự mình đã chứng ngộ, thành tựu và an trụ. Vì khi hỏi Hiền giả những ý nghĩa vô cùng sâu xa thảy đều được trả lời. Hiền giả Mãn Từ Tử, những đồng phạm hạnh sẽ được nhiều lợi ích, nếu gặp được Tôn giả Mãn Từ Tử, tùy thời mà thăm viếng, tùy thời mà lễ bái. Nay tôi cũng được lợi ích, tùy thời mà thăm viếng, tùy thời mà lễ bái. Những đồng phạm hạnh nên quấn y trên đầu để đội Hiền giả Mãn Từ
___________________
(20) Hán: phạm hạnh nhân 梵行人. Pāli: sabrahmacarī, đồng phạm hạnh, bạn đồng tu.
(21) Hán: ngã hiệu 我號, bản Tống: ngã phụ hiệu 我父號, tên cha. Pāli: Puṇṇo... me... Nāmaṃ, tên tôi là Puṇṇa.
(22) Hán: sở tác trí biện 所作智 辯.
(23) Hán: cam lộ tràng 甘 露 幢. Pāli: amataketu (?); từ điển Pāli không có từ này.
(24) Hán: cam lộ giới 甘露界, đồng nghĩa với Niết-bàn giới. Pāli: amatadhātu: bất tử giới
Tử, vì để được nhiều lợi ích. Nay tôi cũng được nhiều lợi ích, tùy thời mà thăm viếng, tùy thời mà lễ bái".
Tôn giả Mãn Từ Tử hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
"Hiền giả tên gọi là gì? Các đồng phạm hạnh gọi Hiền giả như thế nào?"
Tôn giả Xá-lợi-phất trả lời rằng:
"Tôi tự là Ưu-ba-đề-xá (25) . Thân mẫu tôi là Xá-lợi (26) , nên những đồng phạm hạnh gọi tôi là Xá-lợi-phất".
Hiền giả Mãn Từ Tử tán thán rằng:
"Hôm nay tôi đã bàn luận với vị đệ tử ngang hàng Thế Tôn (27) mà không biết, cùng với bậc Đệ nhị tôn (28) luận bàn mà không biết, cùng với vị Pháp tướng (29) luận bàn mà không biết, cùng luận bàn với vị đệ tử tiếp tục vận chuyển pháp luân đã được vận chuyển (30) mà không biết. Nếu tôi biết Tôn giả là [431c] Xá-lợi-phất thì tôi đã không trả lời nổi một câu, huống chi lại luận bàn sâu xa như thế. Lành thay! Lành thay! Tôn giả Xá-lợi-phất, là đệ tử của Đức Như Lai, trí biện hoàn hảo, thông minh, quyết định, an lạc vô úy, thành tựu sự chế ngự, đạt đến đại biện tài, được phướn cam lồ, ở trong cam lồ giới tự mình đã chứng ngộ, thành tựu và an trụ. Vì Hiền giả đã hỏi những ý nghĩa vô cùng sâu xa. Hiền giả Xá-lợi-phất, những đồng phạm hạnh sẽ được nhiều lợi ích, nếu gặp được Tôn giả Xá-lợi-phất, tùy thời mà thăm viếng, tùy thời mà lễ bái. Nay tôi cũng được lợi ích, tùy thời mà thăm viếng, tùy thời mà lễ bái. Những đồng phạm hạnh nên quấn y trên đầu để đội Hiền giả Xá-lợi-phất, vì để được nhiều lợi ích. Nay tôi cũng được nhiều lợi ích, tùy thời mà thăm viếng, tùy thời mà lễ bái".
Hai vị Hiền giả khen ngợi nhau như vậy. Cùng khen ngợi nhau như
_________________________
(25) Ưu-ba-đề-xá 優波鞮舍. Pāli: Upatissa.
(26) Xá-lê 舍梨. Pāli: Sāri.
(27) Để bản: Thế Tôn đệ tử 世尊弟子. TNM: Thế Tôn đẳng đệ tử 世尊等弟子. Pāli: satthukappena vata kira bho sāvakena, (cùng với) vị đệ tử được xem là ngang hàng với Đạo Sư.
(28) Đệ nhị tôn 弟 二尊. Nói như vậy, vì Ngài Xá-lợi-phất được kính trọng dưới Đức Phật chỉ một bậc.
(29) Pháp tướng 法 將, vị tướng quân của Chánh pháp. Pāli: dhammasenapāti.
(30) Hán: chuyển pháp luân phục chuyển đệ tử 轉法輪復轉弟子, nghĩa là hỗ trợ Phật chuyển pháp luân.
vậy rồi, hoan hỷ phụng hành, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trở về chỗ nghỉ của mình.
/166
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »