137. KINH THẾ GIAN
Tôi nghe như vầy:
Một thời Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
"Như Lai đã tự mình giác ngộ về thế gian và cũng nói lại cho người khác. Như Lai biết (1) thế gian. Như Lai tự giác ngộ về sự tập khởi của thế gian và cũng nói lại cho người khác. Như Lai đoạn trừ thế gian tập. Như Lai tự giác ngộ sự diệt tận của thế gian và cũng nói cho người khác. Như Lai chứng ngộ thế gian diệt. Như Lai tự giác ngộ đạo tích (2) của thế gian và cũng nói cho người khác. Như Lai tu thế gian đạo tích.
"Nếu có tất cả những gì cần đuợc hiểu biết một cách toàn diện (3) , tất cả những gì điều đó Như Lai đã biết, thấy, giác, ngộ, chứng đắc. Vì sao vậy? Như Lai từ đêm chứng ngộ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho đến ngày hôm nay vào lúc ban đêm sẽ đi vào tịch diệt trong Vô dư Niết-bàn giới (4) ; trong khoảng thời gian giữa đó, nếu những gì được nói ra, được ứng đối từ chính miệng của Như Lai, tất cả những điều ấy đều là chắc thật, không hư vọng, không ra ngoài sự Như (5) , cũng không phải là điên đảo. Đó là sự chắc thật, là sự chân thật.
"Nếu nói về sư tử như thế nào, thì hãy nói về Như Lai cũng như vậy. Vì sao vậy? Như Lai ở giữa đại chúng nếu có giảng thuyết thì đó
______________________
(1) Bốn Thánh đế, tri khổ, đoạn tập, chứng diệt và tu đạo. Pl. A. ii. 23: loko tathāgatena abhisambuddho, Như Lai đã giác ngộ thế gian; lokasamuddayotathāgatassa pahīno, Như Lai đã đoạn tập khởi của thế gian, lokanirodho tathāgatassa sacchikato, Như Lai đã tác chứng sự diệt tận của thế gian, lokanirodhagāminī paṭipadā tathāgatasa bhāvitā, Như Lai đã tu tập hành trì dẫn đén diệt tận thế gian.
(2) Đạo tích 道 跡; Pāli: paṭipāda, phương pháp, hay đường lối thực hành.
(3) Nhất thiết tận phổ chánh hữu 一切盡普正有 (?) Có lẽ là (¼) chánh tri, thay vì chánh hữu. Tham chiếu Pāli: yam¼ sadevakassa lokassa¼ sadevamanussasāya diṭṭhaṃ sutaṃ mutaṃ viññataṃ pattaṃ pariyesitaṃ anuvicaritaṃ manasā sabbaṃ taṃ tathāgatena abhisaṃbuddhaṃ, thế giới này bao gồm Thiên giới, cho đến, chư Thiên và nhân loại, những gì được thấy, được nghe, được nghĩ đến, được biết đến, được đạt đến, được tầm cầu, được suy xét bởi ý; tất cả những cái ấy đều được Như Lai giác ngộ.
(4) Vô dư Niết-bàn giới 無餘涅槃界. Pāli: anupādisesā nibbānadhātu.
chính là tiếng rống của Sư tử.
"Đối với tất cả thế gian, Thiên, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn, từ trời đến người, Như Lai là Phạm Hữu (6) . Như Lai là Bậc Chí Lãnh (7) vì không phiền cũng không nhiệt. Như Lai là Bậc Chân Thật không hư vọng (8) ."
Bấy giờ Thế Tôn liền nói bài kệ:
Biết tất cả thế gian;
Ra khỏi mọi thế gian;
Thuyết tất cả thế gian;
Trọn thế gian như thật (9)
Đấng Tối Tôn Đại Hùng
Giải thoát mọi triền phược,
[645c]Diệt tận hết thảy nghiệp,
Sanh tử đều giải thoát.
Là trời cũng là người,
Thảy đều quy mạng Phật.
Cúi đầu lễ Như Lai,
Đại dương sâu vô cực.
Chư Thiên, thần Hương âm (10) ,
Kính lạy Đấng Đã Biết.
Chúng sanh trong tử sanh,
Đều cúi đầu quy phục,
Cúi đầu lễ Trí sĩ;
Quy mạng Đấng Thượng Nhân;
Không trần lụy, vô ưu,
Vô ngại, các giải thoát;
__________________
(5) Bất ly ư như 不離於如. Pāli: sabbaṃ tam tatheva hoti, no aññathā, tất cả những điều ấy chính thực là như vậy, không đổi khác.
(6) Phạm Hữu 梵 有được hiểu là "Bậc Tối Diệu" (Pāli: Brahmabhūta), không được đề cập trong bản Pāli tương.
(7) Chí lãnh hữu 至冷有, cực kỳ mát lạnh, vì đã dập tắt các thứ lửa.
(8) Chân đế bất hư hữu 真諦不虛有, không rõ Pāli. Đoạn văn Pāli được coi tương đương: (¼) tathāgato abhibhū anabhibhūti aññadṛatthudaso vasavattī, Như Lai là Vị chiến thắng, Vị không thể bị đánh bại, là Vị thấy tất cả, biết tất cả, tự do tự tại.
(9) Pāli: sabhaṃ loke yathātatham, (biết) tất cả thế gian một cách như thật.
(10) Hương âm thần 香 音 神, hay nhạc thần, hay Càn-thát-bà; Pāli: Gandhabba.
Vì vậy, thường (11) vui thiền,
Sống viễn ly tịch tịnh.
Hãy tự mình đốt đèn,
Vì Như Lai khó gặp (12) .
Không gặp thời Như Lai,
Đời sống trong địa ngục.
Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
____________________
(11) Trong bản: đương 當. TNM: thường .
(12) Vô ngã tất thất thời 無我必失時.