113. KINH CHƯ PHÁP BỔN
[602c1] Tôi nghe như vầy.
Một thời Đức Phật trú tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
"Nếu có Dị đạo đến hỏi các ông 'Tất cả các pháp lấy gì làm gốc?' Các ông nên trả lời họ như thế này: 'Tất cả các pháp lấy dục làm gốc'.
"Nếu lại hỏi, 'Lấy gì làm hòa hiệp?' Hãy trả lời như vầy, 'Lấy xúc làm hòa hiệp (1) '.
"Nếu lại hỏi, 'Lấy gì làm dẫn khởi?' Hãy trả lời như vầy, 'Lấy thọ làm dẫn khởi (2) '.
"Nếu lại hỏi, 'Lấy gì làm hiện hữu?' Hãy trả lời như vầy, 'Lấy tác ý làm hiện hữu (3) ".
"Nếu lại hỏi, 'Lấy gì làm thượng thủ?' Hãy trả lời như vầy: "Lấy niệm làm thượng thủ'.
"Nếu lại hỏi, 'Lấy gì làm tiền đạo?' Hãy trả lời như vầy, 'Lấy định làm tiền đạo". (4)
"Nếu lại hỏi, 'Lấy gì làm tối thượng?' Hãy trả lời như vầy, 'Lấy tuệ làm tối thượng.'
"Nếu lại hỏi, 'Lấy gì làm chắc thật?' Hãy trả lời như vầy, 'Lấy giải thoát làm chắc thật'. (5)
"Nếu lại hỏi, 'Lấy gì làm cứu cánh?' Hãy trả lời như vầy, 'Lấy Niết-bàn làm cứu cánh'.
"Tỳ-kheo, đó là, dục là gốc của các pháp, xúc là hòa hiệp của các pháp, thọ là dẫn khởi của các pháp, tác ý là hiện hữu của các pháp, niệm là
_______________
(1) Hán: dĩ cánh lạc vi hòa 以 更 樂 為 和. Pāli: vedanā-samosaraṇā, hòa hiệp (kết hợp) là thọ. Xem cht. dưới.
(2) Dĩ hà vi lai 以何為來. Pāli: phassa-samudayā, xúc là tập khởi. Xem cht. trên.
(3) Dĩ tư tưởng vi hữu 以思想為有. Pāli: manasikāra-saṃbhavā, tác ý là sanh khởi (hữu).
(4) Pl.: samādhippamikhā.
(5) Hán: giải thoát vi chân 解脫為真.Pl.: vimuttisārā.
thượng thủ của các pháp, định là tiền đạo của các pháp, tuệ là tối thượng của các pháp, giải thoát là chắc thật của các pháp, và Niết-bàn là cứu cánh của các pháp. Tỳ-kheo, hãy nên học tập như vậy.
"Tích tập tâm xuất gia học đạo (6) , tích tập tưởng vô thường, (7) tích tập tưởng vô thường nên khổ, tích tập tưởng khổ nên vô ngã, tích tập tưởng bất tịnh, tích tập tưởng thức ăn ghê tởm (8) , tích tập tưởng tất cả thế gian không có gì hoan lạc, tích tập tưởng về sự chết. (9)
"Biết sự tốt xấu của thế gian (10) ; tâm được tích tập với tưởng như vậy (11) . Biết tập hữu của thế gian (12) ; tâm được tích tập với tưởng như vậy. Biết như thật sự tập khởi, diệt tận, vị ngọt, tai hoạn và sự xuất yếu của thế gian; tâm được tích tập với tưởng như vậy. Nếu Tỳ-kheo tích tập được tâm xuất gia học đạo, tích tập được tưởng vô thường, tích tập được tưởng vô thường nên khổ, tích tập được tưởng khổ nên vô ngã, tích tập được tưởng bất tịnh, tích tập được tưởng thức ăn ghê tởm, tích tập được tưởng tất cả thế gian không có gì hoan lạc, tích tập được tưởng về sự chết. Biết sự tốt xấu của thế gian; tâm đã được tích tập với tưởng như vậy. Biết tập hữu của thế gian; tâm đã được tích tập với tưởng như vậy. Biết như thật sự tập khởi, diệt tận, vị ngọt, tai hoạn và sự xuất yếu của thế gian; tâm đã được tích tập với tưởng như vậy; đó được gọi là Tỳ-kheo đoạn ái, trừ kết; đã chánh tri, chánh quán các pháp rồi liền được tận cùng sự khổ. (13)
Phật thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo sau khi nghe Phật thuyết, hoan hỷ phụng hành.
_______________
(6) Tập đắc xuất gia học đạo chi tâm 習得出家學道之心. Pāli (A. v. 106)): yathāpabbajjā paricitañca cittam. Tập trong bản Hán phù hợp với paricita trong bản Pāli, nên hiểu là tích tập, thay vì là tập khởi.
(7) Pl. ibid.: aniccasaññāparicitañca no ciattaṃ bhavissati: tâm sẽ được tích tập với tưởng vô thường.
(8) Ác thực tưởng 惡食想. Pl.: ādinavasaññā, tương về sự nguy hại.
(9) Từ đoạn này trưở lên, tương đương Pāli, A. 8. 63 (iv. 338): Mūlakasuttaṃ.
(10) Tri thế gian hảo ố 知世間好惡. Pāli: lokassa samañ ca asamañ ca ñatvā, biết sự chánh hay bất chánh (bình đẳng hay không bình đẳng) của thế gian.
(11) Tập như thị tưởng tâm 習如是想心. Pāli: taṃsaññāparicitañca cittaṃ: tâm được tích tập với tưởng ấy.
(12) Tri thế gian tập hữu 知世間習有. Pāli: lokassa samudayañ ca atthaṅgamañca ñatvā, biết sự tập khởi và hoại diệt của thế gian.
(13) Từ đoạn này trở lên, tương đương Pāli, A. 10. 59 (A. v. 108): Pabbajjāsuttaṃ.