Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 43 - Bộ Bảo Tích II - Số 310 (Quyển 41 - 90)

Đại Tập 43 - Bộ Bảo Tích II - Số 310 (Quyển 41 - 90)

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 1118.

Chương 10: Kinh Đại Bảo Tích - Quyển 50 - Pháp Hội 12: Bồ-Tát Tạng (Phần 16) - Phẩm 10: Tĩnh Lự Ba-La-Mật-Đa (Phần 2) (Trang 198 - 217)

KINH ĐẠI BẢO TÍCH

QUYỂN 50

 
Hán dịch: Đời Đại Đường, Tam tạng Pháp sư Huyền Trang.
 
Pháp hội 12: BỒ-TÁT TẠNG (Phần 16)

Phẩm 10: TĨNH LỰ BA-LA-MẬT-ĐA (Phần 2)

 
Lại nữa, này Xá-lợi-phất! Đại Bồ-tát do tu hành Tĩnh lự ba-la-mật-đa đạt được thần thông không thoái chuyển như vậy, khéo kiến lập trí sở tác nghiệp.
Này Xá-lợi-phất! Phải biết Đại Bồ-tát được thong trí ấy là do tâm thanh tịnh, tâm trắng bóng, tâm sáng sạch, tâm không ô trược, tâm rời lìa tùy phiền não, tâm khéo tùy thuận, tâm khéo tịch tĩnh, tâm khéo sửa trị, những tâm tướng như vậy là nguyên do phát khởi tĩnh lự giải thoát định và giải thoát tuệ.
Này Xá-lợi-phất! Đại Bồ-tát ấy ở các thế giới là cố tác ý mà sinh chớ chẳng phải bị nghiệp buộc mà sinh, cũng chẳng do nghiệp buộc mạng chung mà sinh. Vì sao? Vì Đại Bồ-tát ấy đã giải thoát tất cả hư vọng phân biệt, đã giải thoát tất cả phiền não trói buộc chẳng chân thật, đã giải thoát tất cả chỗ nương tựa của những điên đảo vọng chấp. Thế nên Đại Bồ-tát ấy hiện thân thế giới, giải thoát mà sinh, giải thoát mà mạng chung, giải thoát mà thọ sinh. Thọ sinh rồi, Đại Bồ-tát ấy làm xong Đại thừa viên mãn chánh giáo của tất cả chư Phật, đi khắp mười phương rộng cầu Phật pháp. Dù chí có chỗ cầu, mà không lấy không được, tùy nhập chư Phật pháp tức là tất cả pháp, tùy nhập tất cả pháp tức là chư Phật pháp. Đại Bồ-tát ấy tùy nhập Phật pháp và tất cả pháp, nhưng chẳng tùy theo pháp hành phi pháp hành ấy.
Này Xá-lợi-phất! Các Đại Bồ-tát lúc có thể như thật cầu các pháp mà an trụ không lấy không được như vậy thì không có một

pháp nào có thể đem vào toán số. Vì sao? Vì tất cả pháp siêu quá đạo toán số. Nếu rõ thấu được pháp tánh bình đẳng thì chẳng chấp pháp cùng phi pháp. Vì sao? Vì tất cả pháp tánh không chấp. Nếu tánh cho rằng trong ấy có nghĩa thì có vô nghĩa lớn rộng. Nếu khéo chẳng tánh nơi nghĩa thì nghĩa và vô nghĩa đều không hiện tiền. Người chẳng thấy nghĩa đối với tất cả chỗ có giác tuệ vô ngại. Đại Bồ-tát ấy nếu có thể rõ biết vô ngại thì là được trí vô ngại. Nếu có trí vô ngại thì chẳng chấp trước tất cả. Nếu không chấp trước thì là không chỗ trụ. Nếu không chỗ trụ thì là không chỗ thiếu. Nếu không chỗ thiếu thì không ngu si, không nguyện cầu. Nếu không ngu si, không nguyện cầu thì không mê, không lầm. Nếu không mê, không lầm thì không ngã sở. Nếu không ngã sở thì không nhiếp thọ. Nếu không nhiếp thọ thì không chỗ chấp. Nếu không chỗ chấp thì không tranh luận. Nếu không tranh luận thì là pháp vô tránh của Sa-môn. Nếu có pháp vô tránh của Sa-môn thì là tất cả không chướng, không ngại như hư không. Nếu không chướng, không ngại như hư không thì không hệ thuộc ba cõi: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Nếu chẳng hệ thuộc các cõi thì không sắc tướng và hình lượng. Nếu đều không sắc tướng và hình lượng thì có thể tùy giác. Nếu có thể tùy giác thì có thể thông đạt.
Này Xá-lợi-phất! Thế nào gọi là tùy giác thông đạt?
Đại Bồ-tát nếu có thể liền giác ngộ thông đạt chỗ ấy không có chút pháp có được, thì gọi là tùy giác thông đạt.
Này Xá-lợi-phất! Các Đại Bồ-tát do bình đẳng chứng nhập tùy giác thông đạt như vậy, nên gọi là Đại Bồ-tát nương nơi Tĩnh lự ba-la-mật-đa được thành tựu pháp hy hữu diệu kỳ chưa từng có.
Thế nào là pháp hy hữu diệu kỳ chưa từng có?
Này Xá-lợi-phất! Đại Bồ-tát nương nơi Tĩnh lự ba-la-mật-đa, dù thực hành đại Từ mà luôn quán vô ngã. Dù thực hành đại Bi mà biết không chúng sinh. Dù thực hành đại Hỷ mà biết không thọ mạng. Dù thực hành đại Xả mà biết không hữu tình. Dù rộng thực hành đại Thí mà tâm luôn điều thuận. Dù duyên cảnh tịnh giới mà tâm thường tịch tĩnh. Dù thực hành nhẫn nhục mà tâm không ngằn mé. Dù siêng tinh tấn mà tâm hay chọn họp. Dù nhập các tĩnh lự mà
chánh tâm quán sát. Dù khắp hành trí tuệ mà tâm không sở hành. Dù hành bốn Niệm trụ mà tâm không duyên niệm cũng không tác ý. Dù hành bốn Chánh cần mà tâm không sinh diệt. Dù hành bốn Như ý túc mà tâm chẳng hý luận. Dù hành tịnh tín mà tâm không chắp trước. Dù hành tinh tấn mà tâm luôn xa rời. Dù hành nơi niệm mà tâm thường tự tại. Dù ở trong định mà tâm chứng bình đẳng. Dù hành nơi tuệ mà tâm vốn vô tướng. Dù hành năm Lực mà tâm không dẹp phục. Dù hành giác phần mà phân tích Bồ-đề. Dù tu đạo phần mà tâm không tu. Dù hành chỉ mà tâm luôn tịch diệt. Dù hành quán mà tâm không định quán. Dù tu hành Thánh đế mà cứu cánh biến tri. Dù thành thục chúng sinh mà tâm vốn thanh tịnh. Dù nhiếp thọ chánh pháp mà không hoại pháp tánh. Dù tịnh cõi Phật mà tâm như hư không. Dù chứng pháp vô sinh mà tâm vô sở đắc. Dù hành không thoái chuyển địa mà tâm tánh không thoái chuyển. Dù được các diệu tướng mà biết tánh không có tướng. Dù trang nghiêm đạo tràng mà tâm đi trong ba cõi thường ở khắp nơi. Dù hàng phục quân ma mà đối với tất cả hữu tình không có xô dẹp. Dù biết các pháp là tánh Bồ-đề mà tâm liền biết rõ. Dù chuyển pháp luân mà tâm an trụ pháp tánh không hoàn không chuyển. Dù hiện Niết-bàn mà tâm thường bình đẳng đối với sinh tử.
Đây gọi là Đại Bồ-tát bình đẳng chứng nhập tùy giác thông đạt. Pháp ly kỳ chưa từng có ấy phải biết là do tu hành Tĩnh lự ba-la-mật-đa mà thành tựu.
Lại nữa, này Xá-lợi-phất! Những gì gọi là tướng của Đại Bồ-tát nương nơi Tĩnh lự ba-la-mật-đa tu học Bồ-tát tĩnh lự?
Này Xá-lợi-phất! Bồ-tát tĩnh lự chẳng trụ tự tánh, vì để đầy đủ những chánh định như. Bồ-tát tĩnh lự không có mến mùi, vì chẳng tham trước để tự an vui. Bồ-tát tĩnh lự duyên nơi đại Bi, vì dứt phiền não tất cả chúng sinh. Bồ-tát tĩnh lự chánh định không thoái chuyển, vì duyên nơi tánh dục tăng thượng. Bồ-tát tĩnh lự phát khởi thần thông vì rõ thấu các tâm hành của chúng sinh. Bồ-tát tĩnh lự tâm thích mến vui, vì khéo có thể hiển phát tâm tự tại. Bồ-tát tĩnh lự biết rõ tất cả Tam-ma-bát-đề, vì sáng che tất cả cõi Sắc, Vô sắc. Bồ-tát tĩnh lự là tịch tĩnh tối thắng, vì sáng che chánh định của Thanh văn,
Độc giác. Bồ-tát tĩnh lự không có phân biệt, vì tột cứu cánh thanh tịnh vi diệu. Bồ-tát tĩnh lự hành phẩm tối thắng, vì tập khí tương tục đã trừ diệt hẳn. Bồ-tát tĩnh lự dùng tuệ siêu độ, vì siêu độ tất cả các thế gian. Bồ-tát tĩnh lự làm đạo thủ dục giải cho các hữu tình, vì khéo độ thoát được các hữu tình. Bồ-tát tĩnh lự duy trì Tam bảo chứng dứt trừ vì lấy tĩnh lự Phật làm cứu cánh. Bồ-tát tĩnh lự tối cao hiển, vì đại tự tại thường hiện tiền. Bồ-tát tĩnh lự tự tại chuyển vận, vì những chỗ làm đều viên mãn. Bồ-tát tĩnh lự là đại ngã, vì dùng trí tuệ vi diệu để làm đại ngã.
Bồ-tát tĩnh lự có vô lượng tướng như vậy đều do Đại Bồ-tát nương nơi Tĩnh lự ba-la-mật-đa tâm chứa họp phát khởi.
Lại nữa, này Xá-lợi-phất! Pháp gì dẫn đường cho Tĩnh lự ba-la-mật-đa của Đại Bồ-tát?
Này Xá-lợi-phất! Đại Bồ-tát Tĩnh lự ba-la-mật-đa ấy, lấy tâm tĩnh quán trí dẫn đường, lấy tâm an trụ một cảnh sở duyên dẫn đường, lấy tâm không tán động dẫn đường, lấy tâm an trụ dẫn đường, lấy tâm xa-ma-tha dẫn đường, lấy tâm Tam-ma-địa dẫn đường, lấy căn tam-ma-địa dẫn đường, lấy lực Tam-ma-địa dẫn đường, lấy giác phần Tam-ma-địa dẫn đường, lấy chánh Tam-ma-địa dẫn đường, lấy giải thoát tĩnh lự dẫn đường, lấy chín định thứ lớp dẫn đường, lấy chín pháp diệt trừ dẫn đường, lấy tất cả pháp lành dẫn đường, lấy phục phiền não oán dẫn đường, lấy Tam-ma-địa đầy đủ viên mãn dẫn đường, lấy các Tam-ma-địa Đại Bồ-tát dẫn đường, lấy các Tam-ma-địa chư Phật Thế Tôn dẫn đường. Vô lượng tĩnh lự như vậy đều dẫn đường cho Tĩnh lự ba-la-mật-đa cả. Lại còn có vô lượng, vô biên pháp tịch tĩnh được chứng đều là dẫn đường cho tĩnh lự ba-la-mật-đa cả.
Đây gọi là Đại Bồ-tát tĩnh lự ba-la-mật-đa. Đại Bồ-tát vì Vô thượng Bồ-đề phải ở trong ấy phát khởi tinh tấn tu học đầy đủ, thực hành Bồ-tát hạnh.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
Tĩnh lự giải thoát đến bờ kia
Siêng tu hạnh này nhiều số kiếp
Tâm ấy tịch tĩnh không nhơ đục
Chẳng nhiễm thế pháp như hoa sen.
Có đại tĩnh định tên Biến chiếu
Nương định này tu đến bờ kia,
Có tên Nguyệt quang tịnh trang nghiêm
Lại tên Điện quang được nghiêm sức,
Hoặc tên Cao hạnh, tên Tâm dũng
Có định tên là Vô cấu quang,
Tên Giới đức biện, tên Vô ưu
Hoặc tên Chư pháp tự tại chuyển,
Tên là Pháp cự hoặc Pháp dũng
Hoặc tên Sơn oai pháp tự tại,
Hoặc Chánh pháp trí tự nhiên siêu
Hoặc Trì chánh pháp diệu thanh tịnh,
Hoặc tên Quán sát tha tâm định
Hoặc tên Chánh pháp bảo quang minh,
Hoặc tên Diệt, hoặc Nghiêm thắng tràng
Có định tên là Tồi ma lực,
Hoặc tên Đoạn nghi, tên Vô trước
Có định tên là Tịch tĩnh đăng,
Tên Lực cao thắng, tên Thập lực
Hoặc tên Kính thủ đại danh xưng,
Hoặc tên Trì sơn thiện an trụ
Tên Tu-di sơn đại minh đăng,
Hoặc tên Vô thắng thắng bỉ thắng
Hoặc tên Trí cự, tên Tuệ hành,
Tên Vô biên trí, tên Tự tại
Hoặc tên Phát tuệ tịch tĩnh định,
Hoặc tên Nguyệt tịnh nhật âm thanh
Tên Na-la-diên tồi kiêu mạn,
Tên Thiện điều long sư tử hống
Tên là Viễn ly chủng chủng tưởng,
Hoặc tên Triền chuyển, tên Phản hoàn
Tên Vô minh nhãn lực thanh tịnh,
Có định tên là Niệm chư Phật
Có tên Niệm Pháp, tên Niệm Tăng,
Hoặc tên Trí chuyển, tên Nhập không
Hoặc tên Vô tướng, tên Vô nguyện,
Tên Kim cang dụ, tên Địa tịnh
Tên Kim cang địa, tên Cao thắng,
Hoặc tên Sơn vương, tên Bất thuấn
Tên Vô biên chuyển, tên Tịnh âm,
Tên Ly phiền não, tên Quán sát
Tên Hư không diệu, tên Hư không,
Tên Phát quảng đại chư công đức
Tên Thú giác tuệ, tên Niệm tuệ,
Tên Biện vô tận, tên Tương tục
Tên Vô biên thuyết từ vô tận,
Tên Vô hoài thiện tác sở tác
Tên là Quan sát, tên Chúng duyệt,
Hoặc tên Từ hiện, tên Bi quảng
Tên Nhập hoan hỷ, tên Hân khánh,
Tên Xả, tên Thoát hai thứ ngại
Hoặc tên Pháp quang, tên Pháp nghĩa,
Tên Kim cang tràng, tên Trí hải
Tên Giải thoát kiên, tên Chúng hỷ,
Hoặc tên Trí cự vô động định
Có định tên là Thắng liên hoa,
Tên Giản tập pháp, tên Vô động
Hoặc tên Tuệ thượng, tên Tịch tĩnh,
Tên Vô biên quang, tên Phật hải
Hoặc tên Giải thoát, tên Trí thọ,
Hoặc tên Như Lai diệu trang nghiêm
Hoặc tên Vô biên thắng quang diệm,
Hoặc tên Hoan hỷ trang nghiêm độ
Hoặc tên Duyệt dự chúng sinh ý,
Có định tên là Nhất thiết thời
Thuận Bồ-đề đạo Tam-ma-địa,
Có định tên là Đáo bỉ ngạn
Giác phần hoa nghiêm thí bảo kế,
Tên Thí cam lộ kiên giải thoát
Tên Phong vô động thạnh quang minh,
Hoặc tên Hải triều Câu bảo tạng
Tên Chư kim cang sơn phong lực,
Hoặc tên Thần thông quảng đại nghĩa
Tên Thiện nhiếp thọ Tam-ma-địa,
Có định tên là Đại thông chiếu
Cảnh giới của chư Phật Như Lai.
Chứng được định tịch tĩnh dường ấy
Và câu-chi vô biên định khác
Tu hành tĩnh lự đến bờ kia
Bồ-tát công đức rộng vô lượng,
Đi đứng luôn dạo cảnh tĩnh lự
Tâm ấy không loạn thường đạm bạc
Hoặc đi, hoặc nằm ở trong định
Hoặc đứng hoặc ngồi thường tại định.
Ở định hay phát âm thanh lớn
Bởi vì pháp tánh hằng tịch tĩnh
Không dị phân biệt, không tự tại
Không ngã, không mạng, không phân biệt.
Như vậy và không biên tế khác
Vô số, vô lượng biển công đức
Bồ-tát sáng suốt thương chúng sinh
Tu hành tĩnh lự ba-la-mật-đa.
Phẩm 11: BÁT-NHÃ BA-LA-MẬT-ĐA (Phần 1)
 
Lại nữa, này Xá-lợi-phất! Thế nào là Bát-nhã ba-la-mật-đa của Đại Bồ-tát mà Đại Bồ-tát vì Vô thượng Bồ-đề nên nương theo đó siêng tu thực hành Bồ-tát hạnh?
Này Xá-lợi-phất! Đại Bồ-tát vì thực hành Bát-nhã ba-la-mật-đa nên đối với pháp môn vi diệu Bồ-tát tạng ân cần trân trọng nghe học thọ trì, hoặc đọc hoặc tụng suy gẫm nghĩa lý, tự mình được thông đạt rồi cũng vì người mà giảng dạy.
Này Xá-lợi-phất! Nếu có Đại Bồ-tát nghe Phật nói rồi theo đúng pháp mà phụng hành, đối với pháp môn vi diệu Bồ-tát tạng ân cần trân trọng nghe học thọ trì, đọc tụng, nghiên cứu tìm tòi thông đạt nghĩa lý và giảng dạy cho người, phải biết người ấy chứng được tướng vô tận tuệ như vậy.
Này Xá-lợi-phất! Tuệ ấy có những tướng gì? Làm thế nào để chứng nhập?
Này Xá-lợi-phất! Nói là tuệ là vì lấy nghe làm tướng. Bồ-tát đúng như lý mà chứng nhập nên gọi là tướng vô tận tuệ. Những tướng ấy ta sẽ nói rộng.
Này Xá-lợi-phất! Đại Bồ-tát vì cầu chánh pháp nên lấy dục lạc làm tướng, dục giải làm tướng, phương tiện làm tướng, bạn lành làm tướng, không kiêu mạn làm tướng, với người đa văn cung kính làm tướng, tôn trọng làm tướng, nhiễu quanh làm tướng, khiêm cung làm tướng, gần gũi làm tướng, nghe kỹ làm tướng, tôn thờ làm tướng, tư duy làm tướng, chẳng loạn làm tướng, tưởng như trân bảo làm tướng, tưởng là lương dược làm tướng, tưởng dứt hết bệnh làm tướng, chánh niệm làm tướng, hướng đến Bồ-đề làm tướng, lạc đại tuệ làm tướng, chứng nhập Bồ-đề làm tướng, nghe không nhàm đủ làm tướng, xả thêm lớn làm tướng, điều thuận làm tướng, thân cận người đa văn làm tướng, với những việc làm mến vui làm tướng, thân điều thích làm tướng, tâm dũng nhuệ làm tướng.
Lại nữa, này Xá-lợi-phất! Đại Bồ-tát đối với chúng nghe pháp, lắng nghe không mỏi làm tướng, nghe chánh nghĩa làm tướng, nghe chánh pháp làm tướng, nghe chánh hạnh làm tướng, nghe chứng trí

làm tướng, nghe Ba-la-mật-đa làm tướng, nghe pháp Bồ-tát tạng làm tướng, nghe các nhiếp pháp làm tướng, nghe phương tiện thiện xảo làm tướng, nghe phạm trụ làm tướng, nghe thần thông làm tướng, nghe chánh niệm chánh trí làm tướng, nghe niệm trụ làm tướng, nghe chánh thắng làm tướng, nghe thần túc làm tướng, nghe duyên khởi làm tướng, nghe vô thường làm tướng, nghe khổ làm tướng, nghe vô ngã làm tướng, nghe tịch tĩnh làm tướng, nghe không làm tướng, nghe vô tướng làm tướng, nghe vô nguyện làm tướng, nghe Không gia hạnh làm tướng, nghe thiện căn gia hạnh làm tướng.
Lại nữa, này Xá-lợi-phất! Tự tại làm tướng, nghe pháp làm tướng, đối trị tạp nhiễm làm tướng, chế phục tất cả phiền não làm tướng, khen ngợi người trí làm tướng, gần kề bậc Thánh làm tướng, rời xa kẻ chẳng phải Thánh làm tướng, lắng nghe bậc Thánh làm tướng, nghe các căn làm tướng, nghe tu tập tùy niệm làm tướng, nghe Giác phần làm tướng, nghe tám Thánh đạo làm tướng, nghe Phật lực, Vô sở úy, Vô ngại biện tài, đại Từ, đại Bi, đại Hỷ, đại Xả, mười tám pháp Phật bất cộng làm tướng.
Này Xá-lợi-phất! Phải biết Đại Bồ-tát nếu ở nơi ấy lắng nghe thì ở nơi ấy hiểu rõ. Nếu ở nơi ấy hiểu rõ thì ở nơi ấy hành động đúng. Vì sao? Vì nếu Đại Bồ-tát ở nơi pháp môn vi diệu Bồ-tát tạng nghe tướng rồi hướng vào thì có vô lượng phương tiện. Nay Phật lược nói bốn mươi mốt thứ phương tiện.
Này Xá-lợi-phất! Là những tướng gì?
1. Nếu có Đại Bồ-tát ở nơi pháp môn vi diệu Bồ-tát tạng ấy mà sinh dục lạc, phải biết rõ tức là lắng nghe, nghe liền hiểu rõ, đã hiểu rõ thì thực hành chánh hạnh.
2. Nếu có Bồ-tát ở nơi pháp môn ấy mà sinh dục giải, phải biết tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
3. Nếu có Bồ-tát ở nơi pháp môn ấy phương tiện hội nhập, phải biết tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
4. Nếu có Bồ-tát gần gũi bạn lành, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
5. Nếu có Bồ-tát đối với bậc đa văn, tâm không khinh mạn tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
6. Nếu có Bồ-tát cung kính bậc đa văn, tức là lắng nghe biểu rõ tu chánh hạnh.
7. Nếu có Bồ-tát tôn trọng bậc đa văn, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
8.Nếu có Bồ-tát quây quần cung phụng bậc đa văn, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
9. Nếu có Bồ-tát khiêm hạ đối với bậc đa văn, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
10. Nếu có Bồ-tát gần kề bậc đa văn, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
11. Nếu có Bồ-tát đối với bậc đa văn mà lắng tai để nghe, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
12. Nếu có Bồ-tát đối với bậc đa văn mà hầu hạ, ân cần tiếp rước, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
13. Nếu có Bồ-tát đối với bậc đa văn, tư duy nghĩa lý tâm định chẳng loạn, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
14. Nếu có Bồ-tát đối với bậc đa văn có ý tưởng là trân bảo, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
15.Nếu có Bồ-tát đối với bậc đa văn có ý tưởng là lương dược, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
16. Nếu có Bồ-tát đối với bậc đa văn có ý tưởng dứt diệt tham, sân, si, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
17. Nếu có Bồ-tát đối với bậc đa văn nghe rồi hay thọ trì, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
18. Nếu có Bồ-tát hướng đến giác ngộ nơi pháp, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
19.Nếu có Bồ-tát thích trí tuệ của bậc đa văn, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
20.Nếu có Bồ-tát ở chỗ bậc đa văn được nghe rồi giác ngộ, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
21.Nếu có Bồ-tát lắng nghe chẳng nhàm đủ, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
22. Nếu có Bồ-tát nghe nói Đàn-na thì tăng trưởng xả, tức là
lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
23. Nếu có Bồ-tát nghe nói Thi-la thì thủ hộ giới, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
24.Nếu có Bồ-tát nghe nói Sằn-đề thì hay tu hạnh nhẫn nhục, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
25. Nếu có Bồ-tát nghe nói Tỳ-lê-gia thì phát khởi tinh tấn không nhàm mỏi, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
26. Nếu có Bồ-tát nghe nói tĩnh lự thì nhập chánh định tâm chẳng tán, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
27. Nếu có Bồ-tát nghe nói Bát-nhã tâm liền quyết định tu trí tuệ dứt phiền não, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
28.Nếu có Bồ-tát đối với bậc đa văn lòng rất vui mừng, người này tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
29.Nếu có Bồ-tát được nghe pháp rồi thân thể điều thích, tức là Bồ-tát ấy lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
30.Nếu có Bồ-tát được nghe pháp rồi tâm liền dũng nhuệ, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
31.Nếu có Bồ-tát được nghe kinh Đại thừa tâm sinh tín nguyện, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
32. Nếu có Bồ-tát nghe nhiếp pháp rồi tâm liền hội nhập, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
33. Nếu có Bồ-tát nghe nói niệm trụ liền quán thân, thọ, tâm, pháp, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
34.Nếu có Bồ-tát nghe nói chánh cần liền đối với pháp ác dứt bỏ, với pháp lành sinh trưởng, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
35.Nếu có Bồ-tát nghe nói thần túc liền phụng hành sinh thân khinh tánh, tâm khinh tánh, dục khinh tánh, Bồ-tát ấy tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
36.Nếu có Bồ-tát nghe nói tĩnh lự thì yên tĩnh tư duy tâm hội nhập, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
37. Nếu có Bồ-tát nghe hạnh bất khinh trong các pháp, bèn đối với chúng sinh phát khởi đại Từ tâm, với kẻ thọ khổ phát khởi đại Bi tâm, với chánh pháp khởi đại Hỷ tâm, với bất thiện khởi đại Xả tâm,
tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
38.Nếu có Bồ-tát nghe nói các căn liền hội nhập các căn ấy, đó là Tín căn, Tinh tấn căn, Niệm căn, Tuệ căn và Định căn, Bồ-tát ấy tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
39. Nếu có Bồ-tát nghe nói giác phần tâm liền hội nhập giác ngộ pháp tánh, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
40. Nếu có Bồ-tát nghe nói đạo chi tâm liền hội nhập Niết-bàn chánh lộ, tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
41.Nếu có Bồ-tát nghe nói Phật lực, Vô sở úy, Vô ngại trí, đại Từ, đại Bi, đại Hỷ, đại Xả, mười tám pháp Bất cộng và vô lượng Phật pháp, đều hội nhập Vô thượng Bồ-đề, Bồ-tát ấy tức là lắng nghe hiểu rõ tu chánh hạnh.
Này Xá-lợi-phất! Ta đã nói bốn mươi mốt pháp về tướng dạng hội nhập văn tuệ. Các Đại Bồ-tát phải nên học. Đây gọi là bản tướng Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa văn tuệ.
Lại nữa, này Xá-lợi-phất! Đại Bồ-tát tu Bát-nhã ba-la-mật-đa thực hành Bồ-tát hạnh, phải ở nơi pháp môn vi diệu Bồ-tát tạng trân trọng lắng nghe thọ trì, đọc tụng, suy gẫm nghĩa lý thông đạt chỉ thú lại giảng dạy cho người về chánh hạnh tư lương ấy.
Này Xá-lợi-phất! Thế nào là Đại Bồ-tát ở pháp ấy mà khởi chánh hạnh?
Này Xá-lợi-phất! Đại Bồ-tát ở pháp ấy mà khởi chánh hạnh là đúng như lời nói mà tu hành, kiến lập mà an trụ, đây là khởi chánh hạnh. Nếu có thể chẳng lấy tất cả, đây là khởi chánh hạnh. Vì sao? Vì nếu lấy pháp thì gọi là người tà hạnh chấp lấy pháp không xứ, không vị. Không bao giờ do pháp tà hạnh ấy mà được xuất ly. Vì sao? Vì người không lấy pháp hành, ở nơi pháp không hành còn phải sinh nghi, vì không tác dụng. Huống là lấy pháp hành mà chẳng phải tà hạnh. Vì thế nên phải chẳng lấy các pháp mà làm chánh hạnh.
Lại nữa, này Xá-lợi-phất! Nếu ở nơi các pháp không có chướng ngại thì gọi là chánh hạnh. Nếu ở nơi các pháp không khinh miệt thì gọi là chánh hạnh. Nếu ở nơi các pháp chẳng lấy, chẳng bỏ, chẳng sinh, chẳng diệt thì gọi là chánh hạnh. Cho đến nếu ở nơi các pháp không hợp, không tan thì gọi là chánh hạnh.
Lại nữa, này Xá-lợi-phất! Như Phật đã nói: “Nếu có là đúng phải thì không có một chút pháp nào có thể thấy được, nghe được cũng không thể nói được. Các pháp như vậy chẳng phải có thể thấy được, chẳng phải có thể nắm lấy được. Vì sao? Vì tất cả các pháp đều là một tướng, đó là vô tướng.”
Lại nữa, này Xá-lợi-phất! Tất cả các pháp tánh vốn vô tướng. Nếu có Bồ-tát nói nơi vô tướng thì vô tướng trở lại lẽ ra là nói được. Vì sao? Vì vô tướng và hữu tướng đều là vô tướng cả. Chẳng nên nói rằng đây hữu tướng, đây vô tướng.
Này Xá-lợi-phất! Nếu có Bồ-tát tỏ ngộ được tất cả pháp tướng như vậy tức là vô tướng, chẳng thể thấy được, chẳng thể nắm lấy được, biết rõ đúng như pháp thì gọi là chánh hạnh.
Đại Bồ-tát siêng tu chánh pháp hạnh ấy rồi ở nơi các pháp sẽ chứng nhập tuệ vô chướng chiếu minh. Đây gọi là tướng dạng chánh hạnh Bát-nhã ba-la-mật-đa của Đại Bồ-tát.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
Người sáng suốt an trụ chánh hạnh
Với Bồ-tát tạng khéo quyết định
Nơi pháp người ấy chẳng khởi chấp
Hành tướng không chấp thủ như vậy.
Chứng được các pháp chẳng là không
Chẳng phải các pháp bình đẳng không
Chẳng phải pháp không có sở chấp
Tướng chánh hạnh không chấp như vậy.
Nơi pháp không chấp cũng không bỏ
Cũng chẳng lấy pháp để làm pháp
Không lấy gọi là các pháp tướng
Chánh hạnh không lấy tướng như vậy.
Với các pháp nếu trí vô ngại
Trí ấy không gì chẳng đốt cháy
Với trí đốt cháy không nắm lấy
Chánh hạnh các pháp tướng như vậy.
Người trí an trụ đức viễn ly
Với pháp phải khởi siêng tinh tấn
Nếu hay y chỉ quỹ tắc hành
Bấy giờ sẽ nhập môn thanh tịnh.
Môn thanh tịnh ấy thông các pháp
Cũng biết dục giải của hữu tình
Người trí dù biết không chỗ thấy
Mà hay diễn tuyên pháp như vậy.
Với pháp thậm thâm rõ thắng nghĩa
Với thắng nghĩa sâu thường biết rõ
Bỗng hiện vô biên công đức hạnh
Trí sáng đa văn như biển lớn
Với các văn nghĩa được nói kia
Cứu cánh không ai chứng được đó
Bởi văn nghĩa kia đều vô biên
Chánh hạnh chân thật luôn bất động.
Lại nữa, này Xá-lợi-phất! Lúc Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, với pháp môn vi diệu Bồ-tát tạng ân cần lắng nghe cho đến giảng dạy cho người rồi, phải biết Đại Bồ-tát ấy ở nơi tất cả pháp được ánh sáng lớn hay phá tất cả ám chướng vô minh và các màn lòa tăm tối. Ánh sáng ấy tức là trí tuệ. Vì sao? Vì biết rõ đúng thật các pháp thiện bất thiện. Đại Bồ-tát tu pháp ấy được minh tuệ rồi, dù có gặp nạn khổ đến chết cũng không tạo các pháp bất thiện.
Này Xá-lợi-phất! Vì muốn dứt hẳn các pháp bất thiện nên Đại Bồ-tát theo pháp được nghe rất khéo thông đạt. Đã thông đạt rồi thì nói là Mâu-ni tịch tĩnh. Đây gọi là tướng chánh hạnh lúc Đại Bồ-tát tu Bát-nhã ba-la-mật-đa.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
Như người vào nhà tối
Che bít tuyệt ánh sáng
Dù có các sắc tượng
Mắt sáng cũng chẳng thấy.
Theo như vậy có người
Tâm đủ các minh giải
Chẳng được nghe chánh pháp
Sao hiểu được thiện ác?
Đa văn hiểu rõ pháp
Đa văn chẳng tạo ác
Đa văn bỏ vô nghĩa
Đa văn được Niết-bàn.
Khéo nghe thêm lớn văn
Đa văn thêm lớn tuệ
Tuệ hay tu tịnh nghĩa
Được nghĩa thì cảm vui,
Thông tuệ được nghĩa rồi
Chứng hiện pháp Niết-bàn
Tương ưng pháp tịnh giác
Chứng được vui đệ nhất.
Nghe Bồ-tát tạng rồi
Khéo an trụ chánh pháp
Làm ánh sáng cho đời
Tu diệu hạnh Bồ-tát.
Lại nữa, này Xá-lợi-phất! Đại Bồ-tát vì tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa nên với người chánh hạnh hay thọ trì kinh Bồ-tát tạng lòng rất cung kính có ý tưởng là Thiện tri thức và càng tìm cầu pháp môn vi diệu Đại Bồ-tát tạng khiến cho pháp môn ấy càng thêm sáng sạch.
Này Xá-lợi-phất! Vì cầu Bồ-tát tạng nên Bồ-tát ấy phát sinh tín dục sách lệ tinh tấn thâu nhiếp tâm mình khiến an trụ chánh định. Đại Bồ-tát ấy phương tiện tu thành bốn Chánh cần, được không chướng ngại trong tất cả pháp. Đây gọi là tướng chánh hạnh Bát-nhã ba-la-mật-đa của Đại Bồ-tát.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa ấy mà nói kệ rằng:
Nói về người thuyết pháp
Tức là Thiện tri thức
Cung kính lắng nghe pháp
An trụ nơi chánh hạnh,
Dục giải thường không thoái
Tinh tấn thường cao dũng
Tịnh tuệ thường sửa trau
Nơi trí thường an trụ
Tự nhiên đạt các pháp
Chẳng theo nơi tín hành
Dùng trí quán các pháp
Đây là lời Phật dạy.
Người trí phân biệt câu
Lý nghĩa khéo siêng học
Nơi pháp thiện, bất thiện
Thường tu, thường viễn ly,
Tâm không hề nhàm mỏi
Với pháp không quên mất
Thân dục đều khinh an
Mau được tâm tinh tấn.
Do nghe pháp thêm trí
Trí thêm niệm không thoái
Trí luôn y niệm trụ
Biết rõ pháp tịnh uế.
Học nơi pháp vô thượng
Được sức niệm tuệ thắng
Biết dục giải chúng sinh
Tự học thời gian lâu
Học pháp đã thăng tiến
Cực tiến trí thanh tịnh
Biết dục giải chúng sinh
Theo cơ bèn khai thị.
Lại nữa, này Xá-lợi-phất! Lúc tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, Đại Bồ-tát tìm cầu pháp môn vi diệu Bồ-tát tạng như vậy thông đạt giác tuệ. Nương theo thiện pháp minh môn thanh tịnh ấy Bồ-tát phải thường tu học như vậy.
Này Xá-lợi-phất! Nếu có Bồ-tát tu học pháp thì phải suy nghĩ hai nhân duyên có thể phát sinh chánh kiến. Những gì là hai? Đó là nghe âm thanh nơi người khác và tự mình tác ý đúng lý.
Bồ-tát ấy lại suy nghĩ nghe âm thanh nơi người và tác ý đúng lý có những tướng gì, liền lại suy nghĩ nếu có sự ưa thích chánh định mà tu thì nên thực hành pháp môn vi diệu Bồ-tát tạng mà các Bồ-tát chưa từng được nghe.
Lại nếu chẳng được nghe Phật pháp luật giáo, chỉ ở trong tam-ma-địa mà sinh ý tưởng đủ rồi, nên biết người ấy do sức ngạo mạn mà phát khởi tăng thượng mạn. Ta nói người ấy không có thể giải thoát sinh, già, bệnh, chết, sầu ưu, khổ não. Đã chẳng thoát được các khổ nhiệt não, làm sao thoát được năm môn sinh tử kia, bị nó nhận chìm trôi lăn chẳng dứt.
Người ấy thật chẳng phải giải thoát mà tự nói tôi đã giải thoát, thật chưa khỏi khổ mà tự nói tôi đã khỏi khổ. Vì thế nên Đức Như Lai y cứ người ấy mà thuyết pháp như thật. Nếu có thể từ nơi người khác mà tùy thuận lắng nghe thì giải thoát được già chết, khổ não.
Bồ-tát ấy lại nghĩ rằng như tôi trước kia nghe Đức Thế Tôn nói:
Đa văn biết rõ pháp
Đa văn chẳng tạo ác
Đa văn bỏ vô nghĩa
Đa văn được Niết-bàn.
Khéo nghe thêm lớn văn
Đa văn thêm lớn tuệ
Tuệ hay tu tịnh nghĩa
Được nghĩa hay cảm vui,
Thông tuệ được nghĩa rồi
Chứng hiện pháp Niết-bàn
Nghe pháp được tịnh tuệ
Chứng được vui đệ nhất.
Này Xá-lợi-phất! Do các Đại Bồ-tát suy nghĩ như vậy rồi nên
đối với pháp môn vi diệu Bồ-tát tạng và Phật pháp luật giáo mà ân cần trân trọng lắng nghe, thọ trì, đọc tụng, giảng dạy cho người.
Lại nữa, này Xá-lợi-phất! Nếu các hữu tình ở nơi pháp môn vi diệu Bồ-tát tạng dù được nghe mà chẳng có thể phương tiện tác ý đúng lý phải biết người ấy chẳng thể tu chánh hạnh nơi Thánh đạo. Vì thế nên Như Lai y cứ nơi người ấy mà nói pháp yếu rằng: “Nếu muốn giải thoát sinh, già, bệnh, chết thì phải có tự mình suy nghĩ đúng lý. Các Đại Bồ-tát phải học như vậy.”
Này Xá-lợi-phất! Thế nào gọi là phương tiện đúng lý? Những gì là Bồ-tát tác ý đúng lý mà có thể tu học?
Này Xá-lợi-phất! Phương tiện đúng lý của Đại Bồ-tát là không có một pháp nào hoặc hợp hay ly cả. Vì sao? Vì phương tiện đúng lý là không phải phương tiện vậy.
Này Xá-lợi-phất! Nếu Bồ-tát có an trụ phương tiện và tác ý đúng lý, phải biết tướng ấy chỉ là âm thanh, mà âm thanh ấy, tánh nó không bị phát khai cũng chẳng chuyển khởi và do nơi kia mà phát âm thanh. Vì sao? Vì tất cả đều chẳng thể nắm bắt được.
Bồ-tát lại quan sát âm thanh ấy, tiền tế hậu tế từ gì mà sinh, từ đâu mà diệt. Quan sát như vậy trọn chẳng thể nắm bắt. Lại suy tìm âm thanh ấy là nơi chỗ đã nói, là nơi chỗ nay nói, là nơi chỗ sẽ nói? Lại suy tìm âm thanh ấy là hoặc đã bị nói, hoặc nay bị nói, hoặc sẽ bị nói? Âm thanh ấy là vì đoạn dứt nên đã nói, vì đoạn dứt nên nay nói, vì đoạn dứt nên sẽ nói? Âm thanh ấy là vì chứng nhập nên đã nói, vì chứng nhập nên nay nói, vì chứng nhập nên sẽ nói? Tất cả lẽ tìm cầu âm thanh như vậy rồi trọn không có được. Rồi lại quan sát hoặc tướng quá khứ, hoặc tướng vị lai, hoặc tướng hiện tại cũng đều không có được.
Này Xá-lợi-phất! Lúc Đại Bồ-tát chánh quan sát như vậy thì gọi là phương tiện tác ý đúng lý. Các Đại Bồ-tát phải học như vậy.
Lại nữa, này Xá-lợi-phất! Thế nào là Đại Bồ-tát quan sát đúng lý? Các Bồ-tát phải học thế nào?
Này Xá-lợi-phất! Đại Bồ-tát quan sát tất cả pháp, tự tánh nó dừng diệt. Đây gọi là quan sát đúng lý. Nếu quan sát các pháp, tự tánh nó tịch tĩnh thì gọi là quan sát đúng lý. Nếu quan sát các pháp,
tự tánh nó không tịch thì gọi là quan sát đúng lý. Nếu quan sát các pháp vào tánh bình đẳng thì gọi là quan sát đúng lý. Nếu quán các pháp rốt ráo không sinh, nếu quán các pháp rốt ráo chẳng sinh, nếu quán các pháp rốt ráo chẳng khởi, nếu quán các pháp rốt ráo tịch diệt đều gọi là quan sát đúng lý.
Lúc quan sát như vậy, Đại Bồ-tát cũng chẳng thấy có người năng quán. Phải nên quan sát như vậy, đó là vì không phải quan sát không phải chẳng quan sát. Nếu có Bồ-tát quan sát như vậy thì gọi là quan sát đúng lý, nếu quan sát khác đây thì gọi là quan sát chẳng đúng lý.
Lại nữa, này Xá-lợi-phất! Thế nào là Đại Bồ-tát phải nên học phương tiện đúng lý như vậy?
Này Xá-lợi-phất! Phương tiện đúng lý của Đại Bồ-tát là chẳng phải đối với chút ít pháp có ngu mê, chẳng phải đối với chút ít pháp có chướng ngại, không có chút ít pháp nào mà không phải là môn giải thoát, không vì đoạn dứt một phần ít pháp mà phát khởi tinh tấn, chẳng vì chứng một phần ít pháp mà dũng mãnh tinh tấn. Trên đây đều là phương tiện đúng lý.
Này Xá-lợi-phất! Đại Bồ-tát phải dùng chánh kiến như vậy để chánh quan sát các pháp như chỗ chánh kiến ấy.
Thế nào gọi là quan sát các pháp như chỗ chánh kiến ấy?
Này Xá-lợi-phất! Không chỗ thấy thì gọi là quan sát các pháp. Những gì là không chỗ thấy?
Này Xá-lợi-phất! Không chỗ thấy ấy gọi là không sinh. Nói không sinh ấy là không khởi. Nói không khởi ấy là không chỗ chiếu. Y cứ hành pháp ấy mà Đức Như Lai nói rằng: Nếu có Bồ-tát lúc quan sát các pháp thấy không sinh, tức là hội nhập chánh tánh quyết định. Luận về chánh kiến, đó là hội nhập chánh tánh quyết định.
Này Xá-lợi-phất! Đại Bồ-tát suy nghĩ như vầy: “Do nhân duyên gì sẽ được hội nhập chánh tánh quyết định?”
Này Xá-lợi-phất! Đại Bồ-tát phải học như vầy: Nếu quan sát ngã kiến là bình đẳng thì tất cả pháp bình đẳng. Quan sát như vậy gọi là xu nhập chánh tánh quyết định.
Vì thế nên các Đại Bồ-tát muốn hội nhập chánh tánh quyết định thì phải ở nơi pháp môn vi diệu Bồ-tát tạng ân cần lắng nghe thọ trì, đọc tụng, nghiên cứu nghĩa lý lại giảng dạy rộng cho người, thì sẽ ở nơi pháp môn ấy phương tiện tác ý tu học đúng lý.
Đây gọi là Đại Bồ-tát tu hành Bát-nhã ba-la-mật-đa, vì Vô thượng Bồ-đề thực hành hạnh Bồ-tát.
/51
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »