Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 43 - Bộ Bảo Tích II - Số 310 (Quyển 41 - 90)

Đại Tập 43 - Bộ Bảo Tích II - Số 310 (Quyển 41 - 90)

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 1118.

Chương 23: Kinh Đại Bảo Tích - Quyển 63 - Pháp Hội 16: Bồ-Tát Thấy Thật (Phần 3) - Phẩm 4: Bản Sự (Trang 447 - 469)

KINH ĐẠI BẢO TÍCH

QUYỂN 63
Hán dịch: Đời Bắc Tề, Tam tạng Pháp sư Na-liên-đề-da-xá.
 
Pháp hội 16: BỒ-TÁT THẤY THẬT (Phần 3)

Phẩm 4: BẢN SỰ


 
Bấy giờ Tuệ mạng Ma-ha Ca-diếp thấy các A-tu-la vương cúng dường Đức Phật rồi, sinh tâm hy hữu tự nghĩ: “Lúc Đức Thế Tôn tu hạnh Bồ-tát, tạo căn lành gì mà nay được quả báo ấy?” rồi liền nhập như thật Tam-muội, do sức Tam-muội trang nghiêm nơi tâm nên nhớ biết thuở quá khứ vô số a-tăng-kỳ kiếp tất cả công đức mà Như Lai đã tu tập, trong các loài ấy, trong các đời ấy tu tập căn lành đều đầy đủ Vô thượng Bồ-đề. Do các căn lành ấy mà được bậc không thoái chuyển, các căn lành ấy đều nhớ biết.
Lúc Ma-ha Ca-diếp nhớ căn lành lớn của Đức Như Lai, nghĩ rằng như Phật đã tu tập căn lành rộng lớn, căn lành mỗi mỗi lần phát tâm của Như Lai, ví như hằng sa thế giới cõi nước mười phương tất cả chúng sinh trong ấy đều được thân người, rồi trong hằng sa kiếp cúng dường chư Phật như A-tu-la vương. Mỗi mỗi chúng sinh ấy trong hằng sa kiếp cúng dường Phật rồi chẳng báo đáp được căn lành một lần phát tâm của Đức Như Lai.
Tuệ mạng Ma-ha Ca-diếp từ Tam-muội dậy nói kệ tán thán:
Mỗi mỗi Như Lai Đấng Mâu-ni
Phát tâm rộng lớn hướng Bồ-đề
Sự cúng dường Phật của Tu-la
Cũng chẳng bằng một phần ca-la.
Thế Tôn Ứng Cúng, Thầy Trời Người
Như khối chiên-đàn bằng núi chúa
Chỗ cúng dường thù thắng trời, người
Do nơi công đức đến bỉ ngạn.
Đấng Thầy Trời Người đáng thọ cúng
Hơn số hằng hà sa đã thọ
Ví như biển cả đầy nước trong
Nước thơm hòa hợp mà cúng dường.
Đầy đủ công đức nên thọ cúng
Nhiều hơn cả số hằng hà sa
Chứa đầy khối hoa mà cúng dường
Giống như núi Chước-ca-bà-la
Tự nhiên Đại sĩ đáng thọ cúng.
Ngọn đèn sáng như núi Tu-di
Biển cả dùng làm bình đựng dù
Đem đèn cúng dường chư Thế Tôn
Đấng oai thế đáng thọ cúng dường.
Nhiều hơn cả số hằng hà sa
Tạo lập tháp miếu mà cúng dường
Do nơi công đức đến bỉ ngạn
Nhân Thiên Đạo Sư đáng thọ cúng.
Đem những lọng báu lớn đẹp lạ
Mỗi lọng che khắp cõi đại thiên
Trải suốt số kiếp na-do-tha,
Đấng Thế Tôn thương xót thế gian
Công đức vô biên đáng thọ cúng.
Đem những tràng báu để cúng dường
Đầy khắp thế giới trong mười phương
Nơi số kiếp ức chẳng nghĩ bàn
Đem phan rộng lớn mà cúng dường
Đầy hằng hà sa các thế giới
Trải qua vô lượng ức kiếp số
Cúng dường Như Lai Thiên Nhân Sư.
Phát khởi phân biệt làm thí dụ
Đại chúng, con của Đại Luận Sư
Lắng nghe, lắng nghe! Các trời, người
Con cùng mọi người tại chúng này
Số đông như số hằng hà sa
Bao nhiêu đại chúng ở mười phương
Tất cả đều sẽ được làm Phật
Đầy đủ mười Lực Đại Đạo Sư.
Số chư Phật ấy như hằng sa
Mỗi mỗi đều có hằng sa đầu
Nơi mỗi mỗi đầu như hằng sa
Đều có đủ cả hằng sa miệng
Nơi mỗi mỗi vô lượng miệng ấy
Đều có vô lượng, vô số lưỡi
Dùng lưỡi ca ngợi Đức Như Lai.
Chư Như Lai ấy nói chẳng hết
Công đức bờ kia chẳng đến được
Nhất thiết chủng trí chẳng lường được
Do công đức đến bờ kia vậy.
Đức Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
–Lành thay, lành thay! Này các Tỳ-kheo! Chúng Thanh văn của ta lòng đoan trực có trí, có pháp như Phạm thiên mới được vào trong biển công đức của Phật. Vì sao? Vì Như Lai đầy đủ vô lượng công đức, đầy đủ công đức chẳng nghĩ bàn. Khối công đức của Như Lai không thể nghĩ bàn.
Này các Tỳ-kheo! Khối công đức của Như Lai nếu là hình sắc, thì công đức mỗi mỗi lần phát tâm ấy, hằng sa thế giới chẳng dung chứa được. Vì sao? Này các Tỳ-kheo! Công đức mỗi mỗi lần phát tâm của Như Lai là chỗ phan duyên của Nhất thiết trí, như hằng sa chư Phật, như hằng sa kiếp, chẳng thể suy lường, chẳng thể nói hết. Vì sao? Vì lúc Như Lai tu hạnh Bồ-tát thuở xưa không một phát tâm nào là chẳng vì lợi ích tất cả chúng sinh, nhiếp thuộc chúng sinh, không một phát tâm nào là chẳng vì tất cả chúng sinh, chúng sinh giới không ngằn mé, chúng sinh trong đó cũng không ngằn mé, công đức mỗi mỗi lần phát tâm của Như Lai cũng không ngằn mé. Vì sao?

Như chúng sinh giới không ngằn mé, như chúng sinh giới chẳng lường được, khối công đức mỗi mỗi lần phát tâm của Như Lai chẳng thể cùng tận, đều vì thương xót lợi ích an lạc tất cả chúng sinh mà phát tâm. Giả sử tất cả chúng sinh đều cúng dường chẳng thể báo đáp được công đức một lần phát tâm của Như Lai. Vì sao? Vì các chúng sinh ấy cúng dường Như Lai đều vì hy vọng quả báo thế gian tạp thực. Bồ-tát phát tâm rời lìa nơi tâm tạp thực cầu báo thế gian mà vì lợi ích an lạc chúng sinh, muốn khiến chúng sinh dứt sinh tử mà hướng đến Niết-bàn.
Lúc Như Lai tu hạnh Bồ-tát, thuở xưa vì lợi ích an lạc chúng sinh, rời lìa tạp thực chẳng cầu báo thế gian.
Đức Phật bảo chúng Tỳ-kheo:
–Thuở quá khứ, vô lượng, vô biên lưu chuyển sinh tử vô số chẳng thể nghĩ bàn trong vô thỉ thế giới không thể nói hết số kiếp có Đức Phật hiệu Nhân Đà Tràng Vương xuất thế đủ mười đức hiệu Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Bạc-già-phạm.
Này các Tỳ-kheo! Lúc Đức Nhân Đà Tràng Vương Như Lai thành Phật, hằng sa thế giới đồng một cõi nước trang nghiêm thanh tịnh không có các ác đạo và tám nạn, chúng sinh trong đó đều an trụ chánh định tụ. Hoàn toàn không có chúng sinh tà định, tăng thượng mạn. Tất cả đều không có thân nghiệp bất tịnh, khẩu nghiệp bất tịnh, ý nghiệp bất tịnh, cũng không có ác thú phiền não, tạo nghiệp ác đạo. Vì sao? Vì Đức Nhân Đà Tràng Vương Như Lai giáo hóa chúng sinh ấy cho họ phát tâm dứt tất cả ác, đem pháp lành dạy cho họ tu học.
Trong cõi nước của Đức Nhân Đà Tràng Vương Như Lai có năm thứ vui: Một là được dục lạc; hai là được vui xuất gia; ba là được vui thiền định; bốn là được vui Tam-ma-đề; năm là được vui Vô thượng Bồ-đề.
Các chúng sinh ở cõi nước ấy dù thọ lạc mà chẳng nhiễm trước. Như ong mật chỉ lấy mật hoa mà chẳng lấy sắc hoa, như chim bay đi trên không mà chẳng dừng dính hư không, chúng sinh ấy cũng vậy
dù thọ lạc mà chẳng nhiễm lạc. Các chúng sinh ấy không có lo khổ chỉ có vui sướng, cũng không bất khổ bất lạc thọ vì không ngu si, chỉ có sự vui thích vừa lòng. Vì sao? Vì các chúng sinh ấy vốn đã tu căn lành. Do vì Đức Phật ấy lúc tu hạnh Bồ-tát hiện các tướng tốt khiến các chúng sinh ấy chẳng làm ác mà đặt để cho họ tu tập pháp lành, họ lần lượt rời lìa ác đạo ở chỗ lành vui, tất cả thứ nghiệp bất thiện họ đều không hẳn. Lúc họ tạo nghiệp lành được quả báo an vui mà họ chẳng tham luyến và không bao giờ sinh khổ thọ, vì chẳng tạo nghiệp ác nên chẳng thọ quả khổ. Vì không ngu si nên cũng không bất khổ bất lạc thọ.
Trong cõi nước ấy tất cả thời gian thường không có cuồng phong bão táp, cũng không có độc nhiệt, chúng sinh cõi ấy không có khổ vì thời tiết thay đổi.
Lúc Đức Nhân Đà Tràng Vương Như Lai tu hạnh Bồ-tát, tất cả than nghiệp trí thượng thủ, trí thuận chuyển diễn thuyết khai thị chánh hiển, tất cả khẩu nghiệp trí thượng thủ, trí thuận chuyển diễn thuyết khai thị chánh hiển, tất cả ý nghiệp trí thượng thủ, trí thuận chuyển diễn thuyết khai thị chánh hiển, tất cả chúng sinh trong quốc độ ấy theo Bồ-tát nghe pháp rồi tất cả ba nghiệp thân, khẩu, ý nghiệp trí thượng thủ, trí thuận chuyển hồi hướng. Do nơi nghiệp lành nên báo ngu si chẳng sinh. Do vì không ngu si nên chúng sinh ấy không có khổ thọ và bất khổ bất lạc thọ. Các chúng sinh ấy lúc sinh cõi nước kia, Đức Nhân Đà Tràng Vương Như Lai giáo hóa rồi, họ kính trọng nơi pháp; nếu lúc du hành họ suy lường nơi pháp, yêu thích nơi pháp, nhiễm trước nơi pháp. Lúc du hành do họ yêu thích nhiễm trước nơi pháp nên không có khổ thọ, đi đứng, ngồi nằm, ngủ thức đều không có một chút khổ về oai nghi. Các chúng sinh trong quốc độ ấy không có ác để thuận theo. Do vì không ác nên không có khổ sinh và không chấp nơi thiện. Do cớ ấy nên các chúng sinh kia khéo thuận nơi không mà không có biến dịch khổ. Ở trong các pháp chẳng sinh tham trước nên chẳng có hoại khổ. Quốc độ ấy cũng không có cái khổ oán ghét mà cứ phải gặp gỡ. Vì sao? Vì các chúng sinh ấy ở trong tất cả chúng sinh được tâm an trụ bình đẳng hiện tiền nên không có khổ do oán ghét. Cũng không có ái biệt ly khổ. Vì
sao? Vì các chúng sinh ấy không ái trước tất cả pháp. Khổ ái biệt ly do nơi ái mà sinh. Chúng sinh ấy không ái nhiễm nên không có ái biệt ly khổ. Cũng không có khổ khổ. Vì sao? Vì đối với lạc thọ chẳng luyến trước vậy, chỉ có hành khổ thôi, đó là vô thường khổ. Vì sao? Đức Phật ấy chỉ nói đệ nhất nghĩa đế. Đức Phật ấy thọ hằng sa kiếp. Trong cõi Phật ấy không có một chúng sinh nào tranh luận với Phật mà sinh trong cõi ấy. Vì sao? Vì lúc làm Bồ-tát đã thành thục xong chúng sinh vậy.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Này các Tỳ-kheo! Ý các ông thế nào? Có thể dùng căn lành thấp, ít căn lành, những căn lành chẳng tích tập giỏi, những căn lành chẳng tương ưng, căn lành chẳng phải đại tinh tấn, căn lành chẳng phải thiện thú, chẳng phải thiện phát, chẳng phải thiện hồi hướng mà có thể làm lợi ích các chúng sinh ấy hay ban vui trừ khổ không? Có thể nghiêm tịnh cõi nước rộng lớn ấy không? Có thể thành thục nhiều chúng sinh như vậy không?
Các Tỳ-kheo bạch:
–Chẳng thể được.
Đức Phật lại bảo các Tỳ-kheo:
–Ý các ông thế nào? Có thể dùng tâm hạ liệt, tâm khiếp nhược, tâm tương ưng bất thiện, tâm chẳng phải tinh tấn, tâm chẳng phải khéo tập căn lành, tâm chẳng phải thiện thú, tâm chẳng phải thiện phát, tâm chẳng phải thiện hồi hướng mà làm lợi ích an lạc được các chúng sinh ấy, ban vui cứu khổ và nghiêm tịnh được cõi Phật rộng lớn như vậy, thành thục được nhiều chúng sinh như vậy chăng?
Các Tỳ-kheo bạch:
–Chẳng thể được.
Đức Phật lại bảo các Tỳ-kheo:
–Ý các ông thế nào? Có thể dùng niềm tin hạ liệt, niềm tin ít, niềm tin kém, niềm tin khiếp nhược, niềm tin tương ưng bất thiện, niềm tin chẳng phải tinh tấn, niềm tin chẳng phải khéo tích tập căn lành, niềm tin chẳng phải thiện thú, niềm tin chẳng phải thiện phát, niềm tin chẳng phải thiện hồi hướng mà lợi ích được các chúng sinh ấy, có thể ban vui cứu khổ và nghiêm tịnh được cõi Phật rộng lớn
như vậy, thành thục được nhiều chúng sinh như vậy chăng?
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
–Chẳng thể được.
Đức Phật lại bảo các Tỳ-kheo:
–Ý các ông thế nào? Có thể dùng giới hạ liệt, giới ít, giới kém, giới chẳng phải tinh tấn, giới chẳng phải khéo tích tập căn lành, giới chẳng phải thiện thú, giới chẳng phải thiện phát, giới chẳng phải thiện hồi hướng mà lợi ích được các chúng sinh ấy, có thể ban vui cứu khổ và nghiêm tịnh được cõi Phật rộng lớn như vậy, thành thục nhiều chúng sinh như vậy chăng?
Các Tỳ-kheo bạch:
–Chẳng thể được.
Đức Phật lại bảo các Tỳ-kheo:
–Ý các ông thế nào? Có thể dùng tinh tấn hạ liệt, tinh tấn ít, tinh tấn kém, tinh tấn khiếp nhược, tinh tấn chẳng tương ưng, tinh tấn chẳng phải tinh tấn, tinh tấn chẳng phải khéo tích tập căn lành, tinh tấn chẳng phải thiện thú, thiện pháp, thiện hồi hướng mà lợi ích được các chúng sinh ấy, có thể ban vui cứu khổ và nghiêm tịnh được cõi Phật rộng lớn như vậy, thành thục được nhiều chúng sinh như vậy chăng?
Các Tỳ-kheo bạch:
–Chẳng thể được.
Đức Phật lại bảo các Tỳ-kheo:
–Ý các ông thế nào? Có thể dùng niệm hạ liệt, niệm ít, niệm kém, niệm khiếp nhược, niệm chẳng tương ưng căn lành, niệm chẳng tinh tấn, niệm chẳng khéo tích tập căn lành, niệm chẳng phải thiện thú, thiện phát, thiện hồi hướng mà lợi ích được các chúng sinh ấy, có thể ban vui cứu khổ và nghiêm tịnh được cõi Phật rộng lớn như vậy, thành thục được nhiều chúng sinh như vậy chăng?
Các Tỳ-kheo bạch:
–Chẳng thể được.
Đức Phật lại bảo các Tỳ-kheo:
–Ý các ông thế nào? Có thể dùng định hạ liệt, định ít, định
kém, định khiếp nhược, định chẳng tương ưng căn lành, định chẳng tinh tấn định chẳng khéo tích tập căn lành, định chẳng phải thiện thú, thiện phát, thiện hồi hướng mà lợi ích được các chúng sinh ấy, có thể ban vui cứu khổ và nghiêm tịnh được cõi nước rộng lớn ấy, thành thục được nhiều chúng sinh như vậy chăng?
Các Tỳ-kheo bạch:
–Chẳng thể được.
Đức Phật lại bảo các Tỳ-kheo:
–Ý các ông thế nào? Có thể dùng tuệ hạ liệt, tuệ ít, tuệ kém, tuệ khiếp nhược, tuệ chẳng tương ưng căn lành, tuệ chẳng tinh tấn, tuệ chẳng khéo tích tập căn lành, tuệ chẳng phải thiện thú, thiện pháp, thiện hồi hướng mà lợi ích được các chúng sinh ấy, có thể ban vui cứu khổ và nghiêm tịnh được cõi Phật rộng lớn ấy, thành thục được nhiều chúng sinh như vậy chăng?
Các Tỳ-kheo bạch:
–Chẳng thể được.
Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
–Đúng như vậy! Này các Tỳ-kheo, thật chẳng phải dùng ít căn lành, ít giới, ít tín, ít tinh tấn, ít niệm, ít định, ít tuệ mà có thể lợi ích được các chúng sinh và có thể ban vui cứu khổ, nghiêm tịnh được cõi Phật rộng lớn, thành thục, được nhiều chúng sinh như vậy.
Này các Tỳ-kheo! Ý các ông thế nào? Các ông có biết Đức Phật Nhân Đà Tràng Vương thuở quá khứ xa xưa ấy là ai chăng?
Đức Phật hỏi rồi mà các vị Tỳ-kheo đều nín lặng chẳng đáp.
Ngay khi ấy, quá hằng sa thế giới về phương Đông có một thế giới tên Nguyệt quang trang nghiêm, hiện tại có Đức Phật hiệu Cao Oai Đức Vương Như Lai. Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi ở tại chúng hội ấy biết tâm niệm của Phật Thích-ca Mâu-ni liền bạch Đức Cao Oai Đức Vương Như Lai:
–Bạch Thế Tôn! Nay Phật Thích-ca Mâu-ni thuyết pháp tại thế giới Ta-bà. Con muốn qua đó đảnh lễ cúng dường cung kính nghe pháp.
Đức Cao Oai Đức Vương Như Lai nói với Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi:
–Ông đi tùy ý, nay đã phải lúc.
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đầu mặt lễ Đức Cao Oai Đức Vương Như Lai, đi nhiễu Phật ba vòng rồi như thời gian tráng sĩ co duỗi cánh tay từ cõi Nguyệt quang trang nghiêm hiện ra trước Đức Thích-ca Mâu-ni Như Lai lạy chân Phật rồi ngồi một bên mà bạch:
–Bạch Thế Tôn! Đức Nhân Đà Tràng Vương Như Lai thuở xưa ấy tức là Thế Tôn hiện nay vậy. Vì sao? Do Thế Tôn đầy đủ chẳng nghĩ bàn các phương tiện khéo léo có thể thành thục chúng sinh và nghiêm tịnh cõi Phật luôn chẳng mỏi mệt cũng chẳng nhàm chán. Thế Tôn an trí chúng sinh nơi Bồ-tát thừa cũng chẳng mỏi nhàm. Nếu có người chân thật ngữ nói lời chánh đáng: “Thù thắng trong thù thắng, vi diệu trong vi diệu, thượng thủ trong thượng thủ, tối thắng trong tối thắng”, nói Đức Phật là như vậy, thì nên biết rằng Thích-ca Mâu-ni Phật chân thật không khác.
Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi nói kệ rằng:
Hùng mãnh phương tiện khéo
Thương xót các thế gian
Hiện đại oai thần lực
Để thành thục chúng sinh.
Đã ở thuở quá khứ
Từng làm tám ức Phật
Như tự có thần lực
Vô tâm chứng Chánh giác.
Sáu mươi mốt tam thiên,
Thanh tịnh cõi nước Phật
Trí cạn chẳng biết Phật
Mâu-ni phương tiện khéo
Chẳng bỏ sơ phát tâm
Các nơi chỗ kia hiện
Lại ở đời vị lai
Thị hiện vô lượng Phật.
Phẩm 5: CA-LÂU-LA VƯƠNG ĐƯỢC THỌ KÝ
 
Bấy giờ lại có tám ức sáu ngàn vạn Kim sí điểu vương thấy các vị A-tu-la cúng dường Phật và được thọ ký rồi, đối với Như Lai lòng tin vô lượng vui mừng hớn hở. Vì để cúng dường nên các Kim sí điểu vương hóa hiện tám ức sáu ngàn vạn đền đài thuần nghiêm sức với bảy báu cõi trời rất lạ vi diệu. Mỗi mỗi đền đài có bảy lớp câu lan bằng bốn loại báu là vàng, bạc, lưu ly và pha lê vi diệu đệ nhất xen lẫn hợp thành.
Vòng quanh bốn mặt đền đài ấy treo những chuông bảy báu là vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, mã não và trân châu, báu ấy tinh kỳ vi diệu đệ nhất. Lại có màn lưới bảy báu giăng trùm trên đền đài ấy. Lại hóa hiện tám ức sáu ngàn vạn lọng bảy báu, tám ức sáu ngàn vạn tràng bảy báu, tám ức sáu ngàn vạn phan bảy báu và tám ức sáu ngàn vạn trướng bảy báu.
Các Kim sí điểu vương cầm tám ức sáu ngàn vạn đền đài bảy báu ấy, lọng phan tràng trướng bảy báu ấy dâng lên Đức Phật Như Lai. Đã cúng dường xong, các Kim sí điểu vương và những vật cúng dường bay trên hư không nhiễu quanh Đức Phật ba vòng. Như tượng vương Yên-la-bà-na ở trời Đao-lợi đầu đội chư Thiên bay trên không đến cây Ba-lợi-chất-đa-la, các điểu vương ấy mang đền đài, lọng, tràng, phan, trướng bảy báu bay trên không nhiễu quanh Phật ba vòng cũng như vậy.
Các điểu vương bay nhiễu Phật rồi dừng ở một phía, cung kính đồng thanh nói kệ tán thán:
Quy mạng Đấng xuất ly sinh tử
Quy mạng Đấng cứu độ sinh tử
Quy mạng Đấng kiên cố vô thượng
Quy mạng Đấng vô thượng vô đẳng
Nguyện con sẽ được thân kiên cố
Ba mươi hai tướng tự nghiêm sức
Lại có tám mươi tùy hình hảo
Nguyện cầu chúng con như Đạo Sư.
Nguyện con viên quang đủ oai đức
Hình nhan công đức đều thành tựu,
Nguyện được Phật oai nghi đệ nhất
Khiến tâm người tịnh chứng tịch diệt
Nguyện đủ giới đức Tam-ma-đề
Cũng được Phật trí tuệ vô thượng
Nguyện đều làm Phật, độ chúng sinh
Như nay Phật làm thế Đạo Sư.
Bạch Phật con nguyện đủ mười Lực
Cũng được mười tám pháp Bất cộng
Thành Phật trí tuệ hơn thế gian
Như nay Phật là thượng trong thượng.
Cũng biết chúng sinh không thể tánh,
Như ảo, như mộng không chỗ nương
Thuyết như âm hưởng, như hư không
Như Phật hôm nay vì chúng nói.
Đức Phật biết các điểu vương kính Tin rồi, liền hiện tướng mỉm cười.
Tuệ mạng Tỳ-kheo Mã Thắng nói kệ bạch hỏi:
Đấng Vô Thượng Thắng Đại Đạo Sư
Chẳng vô sự mà hiện tướng cười
Đấng thương thế gian xin nói cho
Hiện tướng mỉm cười do cớ gì?
Các điểu vương kia đã cúng Phật
Điện, lọng, tràng phan hiện hư không
Khiến trời, người thấy sinh ngưỡng mộ
Nguyện Lưỡng Túc Tôn nói nghĩa ấy.
Tất cả đại chúng chắp tay đứng
Thâm tâm thanh tịnh đều mừng rỡ
Nguyện nghe điểu vương quả vị lai
Xin Lưỡng Túc Tôn tuyên nghĩa ấy.
Nếu Đức Thế Tôn tuyên nói rồi
Tất cả đại chúng đều không nghi.
Đại chúng rời nghi được vô úy
Trí Như Lai hay làm mừng rỡ
Đại chúng vui mừng được vô úy
Rời những lỗi ác tâm thanh tịnh.
Chúng ấy thích nghe Như Lai nói
Dường như đệ tử nhận lời thầy
Nguyện dứt lòng nghi của đại chúng
Nguyện Phật nhiếp thọ, cho mừng rỡ.
Đại chúng vui mừng đều đến họp
Nguyện nói điểu vương quả vị lai.
Đức Phật nói kệ đáp Tuệ mạng Mã Thắng:
Mười Lực chân thật vượt tất cả
Viên âm Phạm thanh đều đầy đủ
Hàng phục các căn vì Mã Thắng
Nói quả vị lai của Kim sí.
Lành thay! Mã Thắng hỏi nghĩa ấy
Phật hiện mỉm cười thương thế gian
Lắng nghe báo ấy để vui dạ
Lòng sẽ mừng rỡ trừ nghi hoặc.
Điểu vương cúng dường lớn nơi Phật
Để cầu quả Bồ-đề vô thượng
Bốn Vô sở úy, mười Trí lực
Vì được pháp ấy thành Đạo sư.
Lại cầu mười tám pháp Bất cộng
Kim sí vương ấy cúng dường Phật
Cũng cầu thân kiên cố chẳng hoại
Ba mươi hai tướng, tám mươi tốt.
Cầu Phật tánh giới Tam-ma-đề
Cảnh giới đại trí tuệ của Phật
Thành tựu tịnh độ, độ thế gian
Vì cầu đây điểu vương cúng Phật.
Điểu vương long tin cúng Phật rồi
Kẻ trí hay rời súc sinh đạo
Quyết sẽ được sinh tại cõi trời
Thân chim này là thân tối hậu.
Hằng sa kiếp sau họ sẽ được
Thường sinh làm người và trên trời
Cúng dường vô lượng chư Phật rồi
Sẽ được làm Phật phục các căn.
Cõi nước Phật ấy không ác thú
Đầy đủ thân tướng, lìa tám nạn
Phật ấy đồng hiệu Phổ Đoan Chánh
Kiếp ấy tên là Tu-di Tràng
Trong tám ức bốn ngàn vạn năm
Vì thương thế gian Phật trụ thế.
Thuở ấy tất cả chư Như Lai
Tuổi thọ, Phật sự thảy đều đồng
Phật ấy lìa nhiệt dứt phiền não
Mỗi mỗi Đức Phật tám mươi hội
Trong mỗi mỗi hội tám ức người
Rời lìa kiêu mạn được tự tại.
Vì họ sẵn có thân kim sắc
Sức mạnh nên lòng thường kiêu mạn
Sau này thành Phật thương chúng sinh
Dứt trừ kiêu mạn chuyển pháp luân.
Trong quá khứ họ đã từng làm
Chúng Tiên nhân tu hành khổ hạnh
Số đủ tám ức sáu ngàn vạn
Phàm chỗ tu hành vì thần thông.
Lúc chúng Tiên nhân được thần thông
Khen mình khổ hạnh là hy hữu
Chẳng phạm cấm giới, đủ công đức
Ở trong rừng núi sinh kiêu mạn.
Do kiêu mạn nên sinh Kim sí
Do tâm thông nên có thần lực
Do giới thanh tịnh nên thấy Phật
Do mạn nên quên tâm Bồ-đề.
Đức Phật thọ ký Bồ-đề và nói bản sinh của các Kim sí điểu vương, đại chúng nghe xong đều vui mừng và đều thành Bồ-đề khí.

Phẩm 6: LONG NỮ ĐƯỢC THỌ KÝ

 
Bấy giờ có chín ức sáu ngàn vạn Long nữ thấy chư A-tu-la và chư Ca-lâu-la cúng dường Thế Tôn và được thọ ký rồi sinh lòng mừng vui hớn hở vừa ý phát khởi tâm cúng dường Thế Tôn. Họ liền hóa hiện chin ức sáu ngàn vạn lọng bảy báu, lưới Tỳ-lưu-ly trùm trên lọng, viền bằng lưới xích trân châu, nan lọng bằng vàng, trăm ngàn lọng con bằng Tỳ-lưu-ly và lưu tô bảy báu buông rũ bốn phía. Chư Long nữ lại hóa hiện chín ức sáu ngàn vạn ngựa quý, ngựa xanh màu xanh than xanh ánh sáng xanh, tất cả đồ trang sức đều xanh, báu Tỳ-lưu-ly làm cương khớp. Lại hóa hiện trên không xe báu ma-ni đại oai đức, trên xe ấy có điện báu ngang rộng đều sáu mươi do-tuần, điện báu ấy che trùm khắp cả chúng tại đại hội. Bốn mặt điện có chín ức sáu ngàn vạn lưu tô bằng những châu báu xuống khắp nơi vi diệu rất lạ, màu sáng chói mắt. Có lưới báu trùm trên điện báu ấy. Lại có linh báu treo bốn mái điện hóa làm các thứ chim bảy báu thứ tự bay liệng, nhiễu vòng bốn mặt điện báu ấy. Lại hóa hiện chín ức sáu ngàn vạn thứ âm nhạc rồng. Chư Long nữ ấy ngồi trên ngựa xanh ném lọng báu lên hư không tự nhiên bay đi. Chư Long nữ đều cầm nhạc khí hòa tấu nhiễu quanh Phật ba vòng, dùng bột thơm chiên-đàn và trầm thủy cõi trời và bột lá đa-ma-la, bột vàng chân kim cõi trời cùng các thứ hoa rải lên trên Đức Phật, lại đem các thứ hoa ưu-bát-la, lưu tô, hoa nhiều màu, vô lượng các loại hương thơm, các thứ y phục quý lạ, các thứ anh lạc rải lên trên Đức Phật để cúng dường.
Lúc chín ức sáu ngàn vạn Long nữ tấu nhạc, do thần lực của Phật, âm thanh ấy vang khắp tam thiên đại thiên thế giới. Chúng sinh được nghe âm thanh ấy thì được chẳng thoái chuyển Vô thượng Bồ-đề.
Trong điện báu đại oai đức ấy và trong khoảng kẽ của lưu tô
bảy báu, các chim bảy báu, những chuông báu do gió nhẹ thổi động phát ra âm thanh vi diệu hòa nhã rất đáng ưa thích. Ví như trăm thứ nhạc do các nhạc công giỏi cùng hòa tấu, âm thanh phát ra từ điện đại oai đức cho đến từ các lưới chuông cũng thế. Âm thanh ấy do thần lực của Phật, cũng vang khắp tam thiên đại thiên thế giới, chúng sinh được nghe cũng đều được chẳng thoái chuyển Vô thượng Bồ-đề.
Các Long nữ lại mưa các thứ hoa trời, các thứ hương trời cùng nước thơm. Hơi thơm ấy bất luận gió nghịch gió thuận đều bay đi vô ngại. Do nước thơm mưa xuống ấy mà cả thành Ca-tỳ-la ngang rộng sáu mươi do-tuần đều thành bùn thơm. Hơi thơm ấy xông khắp tam thiên đại thiên thế giới. Chúng sinh được ngắn hơi thơm ấy cũng đều được không thoái chuyển Vô thượng Bồ-đề.
Chín ức sáu ngàn vạn Long nữ ấy cúng dường Đức Phật rồi và cùng chín ức sáu ngàn vạn lọng báu, chín ức sáu ngàn vạn ngựa báu, chín ức sáu ngàn vạn âm nhạc báu, tất cả các báu trang nghiêm ở trên hư không đảnh lễ Phật, nhiễu quanh Phật ba vòng rồi dừng ở một phía cung kính nói kệ tán thán:
Hàng Long nữ có trí tuệ tốt
Tâm ý hớn hở sinh mừng vui
Cúng dường Thích-ca Mâu-ni Phật
Nguyện cầu an ổn đại Bồ-đề.
Hóa làm chín ức sáu ngàn vạn
Lọng báu và các trang nghiêm đẹp
Cúng dường Đức Phật khéo điều tâm
Xuất ly tất cả các chướng ngại.
Lại hóa chín ức sáu ngàn vạn
Ngựa quý và đồ trang nghiêm báu
Ngựa và trang nghiêm đều màu xanh
Cũng lại hóa hiện tràng màu xanh,
Ngựa ấy đều đi trên hư không
Đến chỗ Phật ngự dâng lễ cúng
Long nữ đều có lòng kính tin
Đầu mặt đảnh lễ chân Đức Phật
Những hóa nhạc khí ở Long cung
Vì cúng dường Phật mà đem đến
Đến rồi dâng lên Phật Thích-ca
Bậc Đại Đạo Sư đáng thọ cúng.
Thế Tôn khiến tiếng âm nhạc ấy
Vang khắp cõi tam thiên đại thiên
Vô lượng chúng sinh được nghe rồi
Đều được tâm Bồ-đề bất thoái.
Chúng Long nữ ấy ở không trung
Hóa làm một đại chúng bảo điện
Rộng rãi có sáu mươi do-tuần
Trùm khắp toàn hội các đại chúng.
Điện tên Oai đức xí nhiên quang
Chiếu khắp mười phương cõi đại thiên.
Hàng Long nữ ấy đều tiến lên
Tâm tịnh mừng vui cúng dường Phật
Phát sinh lòng hớn hở vô lượng
Vì cầu quả Bồ-đề an ổn
Nguyện cho chúng con sẽ làm Phật
Vì lợi ích tất cả chúng sinh
Chúng con nguyện vì vô lượng chúng
Thuyết pháp cứu khỏi vòng phiền não
Cũng như thập Lực Đại Đạo Sư
Hiện nay cứu khổ chúng sinh vậy.
Tất cả các pháp như ảo mộng
Cũng như bọt nước chẳng chắc bền
Lại như mưa xối nổi bóng nước
Nên biết các pháp không có chủ.
Chúng sinh như ảnh cũng như tượng
Quan sát thế gian như vậy rồi
Mong nguyện chúng con vì chúng nói
Pháp tánh chân như và thật tế.
Như Phật trí sang khéo thấy pháp
Vọng tưởng hư ngụy dối thế gian
Như ảo trang nghiêm không có thực
Chỉ hay hoặc loạn các phàm phu.
Chúng sinh với pháp mê, vô trí
Chẳng biết các pháp chân thật tánh
Đạo Sư đã thấy pháp Bỉ ngạn
Lại hay khiến các chúng khác hiểu
Hư không nổi mây che khắp đất
Thấy mây hư không kia như ảnh
Nó không thật thể, không chỗ nương
Cũng lại như ảnh không có thực.
Chúng sinh như vậy không thể tánh
Chỉ hay dối lầm các căn môn
Phật trí thấy các loài như vậy
Chỉ hay dối lầm kẻ vô trí.
Thế gian tôn trọng lấy nghiệp ấy
Với người trí tuệ làm lợi ích
Như Lai thị hiện không thể tánh
Vì chúng sinh thấy chân thật vậy.
Chỉ dùng thật pháp vui lòng chúng
Trong bùn sinh tử làm cầu đò
Thật pháp chẳng phải cảnh người ngu
Vì họ chấp danh chẳng cầu nghĩa.
Vì Phật trí sáng con quy y
Đấng đầy đủ thị hiện chân thật
Hay làm thân cứu cho kẻ ngu
Làm Thiện tri thức, làm nhà về.
Như vậy vì cầu đại Bồ-đề
Chúng con cúng dường Đại Đạo Sư
Nguyện được làm Phật giác ngộ người
Lợi ích thế gian như Phật vậy.
Đức Thế Tôn biết các Long nữ đã thâm tín nên hiện tướng mỉm cười.
Tuệ mạng Mã Thắng nói kệ hỏi Phật:
Đấng Thắng Trí ở trong thế trí
Đạo Sư tối thắng hiện mỉm cười
Đức trọng kiên cố dường như núi
Phật hiện mỉm cười chẳng không nhân.
Đấng chúa tối thượng trong cõi người
Mong nói nhân duyên tướng mỉm cười
Trời, Người, Rồng, Quỷ nếu được nghe
Với Phật đều sinh lòng mừng rỡ.
Bậc thầy cõi thế với thế gian
Thường biết tất cả pháp nhân duyên
Không có một pháp Phật chẳng hiểu
Nhân duyên chủng loại Phật đều biết
Ngưỡng mong Đức Phật thương nói cho
Duyên cớ do đó Phật mỉm cười?
Tất cả đại chúng nếu được nghe
Sinh lòng mừng rỡ hết nghi hoặc
Như Lai diệu pháp có lợi lớn
Những đại chúng đây quyết sẽ được.
Đại chúng nếu được tâm tịch định
Do ưa diệu pháp được lợi ích
Phật lực khiến dứt phân biệt rồi
Chỉ thích Bồ-đề nghe Phật nói.
Nếu được nghe nhân duyên mỉm cười
Quyết sẽ thành tựu nơi Phật đạo.
Nếu người nơi pháp lòng có nghi
Tâm họ xao động sinh khổ não.
Hiện nay đại chúng trong hội này
Chẳng biết duyên do Phật mỉm cười?
Đại chúng có thể dứt lòng nghi
Ngưỡng mong Đạo Sư trừ dứt cho
Mau thương tuyên nói độ chúng con
Do nhân duyên gì Phật mỉm cười?
Ngày nay ai tâm được thanh tịnh
Ngày nay ai trừ được ma oán
Ngày nay ai kính tin nơi Phật
Ngày nay ai được cúng dường Phật
Ngưỡng mong Đại Sư ở trước chúng
Tuyên nói ai có công đức ấy?
Chúng con nghe rồi sinh lòng mừng
Lòng mừng vui rồi được an ổn.
Các đại chúng đây đều kính lễ
Tất cả đều có lòng muốn biết
Nguyện nghe có cười để được mừng
Ngưỡng mong Thế Tôn tuyên nói rõ.
Các trời, người này được nghe rồi
Tất cả đại chúng không còn nghi
Nếu được nghe lời Như Lai nói
Tất cả sẽ được lòng mừng rỡ.
Đức Thế Tôn nói kệ đáp Tỳ-kheo Mã Thắng:
Lành thay Tuệ Mã Thắng Tỳ-kheo!
Hỏi nhân duyên cười với Như Lai
Thấy các Long nữ cúng dường rồi
Phật thương thế gian nên cười mỉm.
Nay Phật vì ông nói quả ấy
Rời lìa tội lỗi chí tâm nghe
Duyên cớ nay Phật hiện mỉm cười
Mã Thắng các người nghe Phật nói.
Các Long nữ này tâm không chấp
Cầu đại Bồ-đề tinh tấn tu
Dùng trí tuệ tu thế gian không
Quyết định an trú đạo Bồ-đề.
Nơi đây không tác, không người thọ
Cũng không kẻ sinh, kẻ dưỡng dục
Chỉ có các pháp không việc khác
Pháp ấy cũng vọng như ảo mộng.
Do vì biết ân cúng dường Phật
Hay dùng trí tuệ biết chân thật
Lành thay! Phật hiểu các thế gian
nghĩa là thấy được không, vô ngã.
Họ thích không ấy khéo tu tập
Dù bày cúng dường xem như ảo
Nơi thắng Bồ-đề đã phát nguyện
Quán Bồ-đề ấy cũng chẳng chấp.
Họ đem tối thắng cúng dường Phật
Cũng quán chúng sinh không tịch rồi
Lìa hẳn loài rồng thân ác thú
Cùng trời Đế Thích kia đồng ở.
Tại trời Đao-lợi hưởngï vui lớn
Hưởng hết thọ mạng Đao-lợi rồi
Không ai chê được tiếng tăm họ
Lại được sinh lên trời Dạ-ma.
Lúc họ ở cung trời Dạ-ma
Hưởng đủ vui sướng cung trời ấy
Các Phật tử ở trời Dạ-ma
Cho đến mãn hết thọ lượng ấy.
Các Phật tử này hưởng đủ vui
Hết thọ mạng nơi Dạ-ma rồi
Lại được sinh lên trời Đâu-suất
Cùng cõi trời ấy đồng một loại
Được các Thiên nữ thường vây quanh
Hưởng đủ diệu lạc rất thù thắng
Lòng không luyến trước, giữ đạo lành
Như hoa sen kia nước chẳng ngấm.
Trời ấy dùng được trí tuệ lớn
Quan sát tất cả thế gian không
Dường như khắc đá chữ chẳng mất
Đạo niệm chẳng mất cũng như vậy.
Các Thiên tử ấy ở Đâu-suất
Hưởng đủ diệu lạc rất thù thắng
Ở nơi Đâu-suất mãn thọ rồi
Lại được sinh lên trời Hóa lạc.
Họ được danh tốt không hư hoại
Được các Thiên nữ thường cúng dường
Dù ở cung trời tâm không trước
Cho đến hết hạn thọ lượng kia
Ở trong cung trời Hóa lạc ấy
Hưởng đủ diệu lạc rất thù thắng
Chúng trí tuệ ấy mãn thọ rồi
Nơi tất cả pháp được cứu cánh
Sinh lên Tha hóa tự tại thiên
Làm thương chủ lớn tín thanh tịnh.
Ở trời Tha hóa lòng không nhiễm
Lúc ở trời ấy ưa chánh pháp
Phật tử ở cung trời Tha hóa
Hưởng năm dục lạc rất vi diệu
Không có ngu si, gìn đạo lành
Cho đến hết hạn thọ mạng ấy.
Dù hưởng dục lạc mà thấy lỗi
Ưa cầu chánh định và Niết-bàn
Tu tập chứng được thiền định rồi
Mạng chung liền sinh trời Phạm thiên.
Ở cung Phạm thiên giỏi biết thiền
Hưởng vui tịch diệt quả thiền ấy
Trí tuệ rất lớn trụ một kiếp
Nguyện cầu Vô thượng đại Bồ-đề.
Lúc ở Phạm cung trong một kiếp
Khéo giữ oai nghi, cầu trí tuệ
Phương tiện để lợi ích thế gian
Rộng làm vô biên và vô lượng.
Trí ở Phạm cung, vui tại thiền
Chẳng chấp nơi thiền mà tịch diệt
Biết trước thiền lạc cũng là lỗi
Các căn tịch định cầu Bồ-đề.
Nơi tất cả pháp lòng tin hiểu
Đều được an trụ Bồ-tát hạnh
Biết các thiền định tướng hư dối
Chỉ cầu tịch diệt đại Niết-bàn.
Các Phật tử ấy ở trong đó,
Cầu được Bồ-đề quả an ổn.
Ở tại Phạm cung tâm thanh tịnh
Nghĩ lợi chúng sinh khéo điều tâm.
Giáo pháp tự nhiên của Phạm thiên
Thuyết giáo Phạm thiên chẳng xuất thế
Chỉ có Bồ-đề đạo chư Phật
Cứu cánh hay được xuất thế gian.
Đương thời Phạm thiên sinh tin rồi
Phát tâm an trụ nơi Phật đạo
Biết giáo tự nhiên của Phạm thiên
Chẳng phải cứu cánh đạo xuất thế.
Nơi pháp Như Lai họ tương ưng
Vì các thế gian nói pháp ấy
Như pháp nhãn họ nói quả ấy
Khiến người nghe kia mau được biết.
Phật tự ở tại Phạm cung kia
Làm những lợi ích thế gian rồi
Hay khiến vô lượng na-do-tha
Ức chúng an trụ đạo Bồ-đề.
Họ ở vô lượng na-do-kiếp
Sẽ được cúng dường tất cả Phật
Vị lai kiếp Tinh tú sau này
Các căn tịch tĩnh sẽ làm Phật.
Các Trời, Người, Rồng, A-tu-la
Kim sí, Dạ-xoa, Càn-thát-bà,
Cưu-bàn-trà, quỷ Khẩn-na-la
Tất cả đại chúng đều mừng rỡ.
Chúng ấy được chư Phật giáo hóa
Ở trong Phật pháp đắc lực rồi
Thảy đều mừng vui chắp tay kính
Cúi đầu đảnh lễ nơi chân Phật.
/51
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »