KINH ĐẠI BẢO TÍCH
QUYỂN 67
Hán dịch: Đời Bắc Tề, Tam tạng Pháp sư Na-liên-đề-da-xá.
Pháp hội 16: Bồ-tát thấy thật (Phần 7)
Phẩm 16: TRỜI ĐÂU-SUẤT-ĐÀ ĐƯỢC THỌ KÝ
Bấy giờ có tám ức chúng trời Đâu-suất-đà thấy A-tu-la, Ca-lâu-la cho đến trời Dạ-ma cúng dường Phật được thọ ký, họ đều vui mừng hớn hở và nghĩ rằng: Nơi những pháp nào mà Đức Thế Tôn thọ ký cho Vô thượng Bồ-đề. Là sắc được thọ ký, hay thọ, tưởng, hành, thức được thọ ký Vô thượng Bồ-đề?
Chư Thiên ấy lại nghĩ rằng: Chẳng phải thọ ký cho sắc, cũng chẳng phải thụ ký Vô thượng Bồ-đề cho thọ, tưởng, hành, thức. Vì sao? Vì sắc đã chẳng sinh, Bồ-đề cũng chẳng sinh. Thế nào sắc không sinh mà ngộ được Bồ-đề không sinh? Cũng vậy thọ, tưởng, hành và thức không sinh làm sao ngộ được Bồ-đề không sinh.
Sắc đã chẳng diệt, Bồ-đề cũng chẳng diệt. Thế nào sắc chẳng diệt lại ngộ được Bồ-đề chẳng diệt? Cũng vậy thọ, tưởng, hành và thức chẳng diệt làm sao ngộ được Bồ-đề chẳng diệt.
Sắc không phân biệt, Bồ-đề cũng không phân biệt. Thế nào sắc không phân biệt lại ngộ được Bồ-đề không phân biệt? Cũng vậy thọ, tưởng, hành và thức không phân biệt làm sao ngộ được Bồ-đề không phân biệt?
Sắc đã không hai, Bồ-đề cũng vô nhị. Thế nào sắc không hai lại ngộ được Bồ-đề không hai? Cũng vậy thọ, tưởng, hành và thức không hai làm sao ngộ được Bồ-đề không hai?
Sắc đã không tạo tác, Bồ-đề cũng không tạo tác. Thế nào sắc không tạo tác lại ngộ được Bồ-đề không tạo tác? Cũng vậy thọ, tưởng,
hành và thức không tạo tác làm sao ngộ được Bồ-đề không tạo tác?
Sắc đã chẳng thể nắm bắt được, Bồ-đề cũng chẳng thể nắm bắt được. Thế nào sắc chẳng thể nắm bắt được lại ngộ được Bồ-đề chẳng thể nắm bắt được? Cũng vậy thọ, tưởng, hành và thức chẳng thể nắm bắt được làm sao ngộ được Bồ-đề chẳng thể nắm bắt được?
Ở trong các pháp chẳng thể nắm bắt được như vậy, gì là Phật, gì là Bồ-đề, gì là Bồ-tát, gì là thọ ký? Sắc ấm không, thọ, tưởng, hành, thức cũng đều không. Vì sao? Vì tự tánh không vậy. Thế thì Phật không, Bồ-đề không, Bồ-tát không, thọ ký không. Vì sao? Vì tự thể không vậy. Trong tất cả pháp tánh không như vậy, nói rằng Phật ấy chỉ là danh, chỉ là dụng, chỉ là thế đế, chỉ là lời nói, chỉ là đặt bày. Nói rằng sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng chỉ là danh, là dụng, là thế đế, là lời nói, là đặt bày. Người trí ở nơi đây chẳng nên tham trước. Ví như có người chiêm bao hưởng thụ năm dục lạc, lúc thức chẳng thấy sự vui ấy, vì nhớ lại chẳng được vui năm dục nên sinh khổ não.
Người an trụ nơi Bồ-tát thừa mà chấp trước thì chẳng ngộ Bồ-đề, vì chẳng chứng Bồ-đề nên chẳng được pháp vị ấy. Vì chẳng được pháp vị nên lòng sinh khổ não. Vì sao? Vì các pháp như vậy đều như cảnh mộng chẳng thực, có pháp ấy nghĩa sai biệt, hàng phàm phu ngu si hiểu biết đều sai khác. Tất cả các pháp phải biết như vầy: “Pháp nào là Phật, pháp nào là Bồ-tát, pháp nào là Bồ-đề? Các Phật pháp ấy đều chẳng thể nắm bắt được. Phàm phu chẳng thể nắm bắt được, pháp phàm phu cũng chẳng thể nắm bắt được. Thanh văn chẳng thể nắm bắt được, pháp Thanh văn cũng chẳng thể nắm bắt được. Bích-chi-phật chẳng thể nắm bắt được, pháp Bích-chi-phật cũng chẳng thể nắm bắt được. Bồ-tát chẳng thể nắm bắt được, pháp Bồ-tát cũng chẳng thể nắm bắt được. Chư Phật chẳng thể nắm bắt được, pháp chư Phật cũng chẳng thể nắm bắt được. Bồ-đề chẳng thể nắm bắt được, Niết-bàn cũng chẳng thể nắm bắt được. Trong các pháp như vậy, chúng ta hiểu rõ không hoài nghi.”
Chúng trời Đâu-suất-đà ở trong pháp ấy không nghi ngờ rồi đối với Phật càng kính tin, thích dâng cúng dường. Họ cúng dường hơn trời Dạ-ma, đảnh lễ chân Phật, nhiễu Phật ba vòng rồi đứng qua một phía nói kệ tán thán Đức Phật:
Những người an trụ Phật công đức
Như Lai vì họ dạy pháp hành
Họ được ba thứ giải thoát môn
Tu hành trong cảnh giới vô đẳng.
Không sắc, không thọ, tưởng, hành, thức
Không người hay thọ cũng không tâm
Đây là cảnh giới trí vô ngại
Thiên Nhân Sư thích lìa dục ấm.
Bậc trí tuệ Đại trượng phu ấy
Chẳng lấy tưởng phát tâm Bồ-đề
Lìa ấm rồi được thắng thiện căn
Nơi Phật công đức không nghi lự.
Chí nguyện Vô thượng đại Bồ-đề
Nhưng với Bồ-đề lìa chấp trước
Vì vậy nội tâm không lo mừng
Gọi là Phật tử tu Thánh hạnh.
Đồng Phật thấy pháp đều bình đẳng
Thế nên nơi pháp không sợ hãi
Người trí ở chỗ thế gian này
Cầu Phật công đức khởi tu hành,
Giản trạch sắc tướng không chấp trước
Vứt bỏ tất cả tâm có tướng
Nơi ba cõi kia chẳng mong muốn
Quan sát các cõi thảy đều không,
Biết được năm ấm đều chẳng sinh
Như Lai thọ ký đến Bồ-đề
Bồ-đề tâm ấy cũng không sinh
Tuyên nói lời này không ngu hoặc.
Như Lai công đức và sinh tử
Các Phật pháp ấy đều không sinh
Người biết như vậy là trí tuệ
Đây là chân thật con Như Lai.
Nếu biết được các ấm bất diệt
Giới nhập cùng với pháp Như Lai
Phật cùng Bồ-đề và thọ ký
Các pháp như vậy đều bất diệt.
Nếu vì Bồ-đề mà tu hành
Phải biết người ấy cũng bất diệt.
Vì biết thế gian là bất diệt
Nên cầu Bồ-đề chẳng là khó.
Năm ấm, giới nhập và Bồ-đề
Bồ-tát cùng Phật đều vô tác
Biết rõ như vậy là Phật tử
Hay trì chánh pháp của Như Lai.
Ấm, giới các nhập đều vô giác
Bồ-đề cùng Phật và Bồ-tát
Và cùng thọ ký đều vô giác
Người biết như vậy là Phật tử.
Năm ấm, giới nhập tánh không tịch
Phật cùng Bồ-đề và thọ ký
Quả là con Phật, người tu hành
Tất cả cũng đều tự tánh không.
Ấm giới, các nhập đều hư vọng
Lưỡng Túc Thế Tôn và Bồ-đề
Bồ-tát thọ ký cũng hư vọng
Biết rõ như vậy là Phật tử.
Chẳng phải nương tựa, chẳng nương tựa
Cũng chẳng phải pháp có, pháp không
Chẳng phải hữu vi và vô vi
Biết rõ như vậy là Phật tử.
Thế Tôn thấy thế gian như vậy
Chúng con biết tâm Phật như vậy
Liền nên cúng dường Đấng Như Lai
Cũng cúng tất cả chúng Hiền thánh.
Chúng con khen Phật mà được phước
Chỉ Phật Thế Tôn biết rõ được
Đem công đức phước này thí quần sinh
Nguyện đều thành Phật đủ tướng tốt.
Đức Thế Tôn nghe chúng trời Đâu-suất-đà tán thán xong và biết thâm tâm họ đã tin ưa liền hiện tướng mỉm cười.
Tuệ mạng Mã Thắng Tỳ-kheo nói kệ hỏi Phật:
Vô Thượng Sĩ được đại thế lực
Do đại Bi tâm hiện mỉm cười
Nguyện Phật nói rõ duyên cớ cười
Cho chúng được nghe đều mừng rỡ.
Vì thấy Như Lai hiện tướng cười
Nên đại chúng này đều hoài nghi
Chúng hội ân cần khắp chiêm ngưỡng
Thảy đều nhất tâm muốn được nghe.
Ví như thế gian có người bệnh
Chỉ tưởng y sư và lương dược
Đại chúng như vậy đối với Phật
Mong muốn được nghe Phật thọ ký.
Chúng ấy đều có trí tuệ sâu
Chí cầu Bồ-đề không chấp trước
Tất cả cung kính đồng chiêm ngưỡng
Chỉ mong Như Lai nói ký biệt.
Thế Tôn nơi đây khởi đại Bi
Dùng Phật trí lực dứt lưới nghi
Thế nên đại chúng đều mừng rỡ
Thảy đều nguyện cầu công đức Phật.
Nay đúng là lúc Phật thọ ký
Ngưỡng mong dứt trừ các nghi hoặc
Phật đã từ lâu lìa oán địch
Nguyện dứt ngoại đạo các tà luận.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói kệ đáp Tuệ mạng Mã Thắng:
Nay ông thỉnh hỏi với Như Lai
Nhân duyên mỉm cười thật đúng lúc
Vì lợi thế gian nên thưa hỏi
Hẳn vì lợi ích các chúng sinh.
Biết các chúng trời lòng ưa muốn
Nên Phật hiện tướng sáng mỉm cười
Chúng trời biết Phật pháp thắng diệu
Nên họ dâng cúng lên Như Lai.
Họ đều như thật thấy thế gian
Tùy thuận Thánh giáo được chứng pháp
Đã đến ba thứ giải thoát môn
Chẳng phải thế gian mà biết được.
Quá khứ đã cúng vô lượng Phật
Cũng đã hỏi Phật nghĩa sâu ấy
Nơi Phật quá khứ đã tu Không
Nên ngày hôm nay hiển nghĩa ấy.
Do căn lành ấy nay tại đây
Họ được gặp gỡ Phật Thích-ca
Dùng lý không khen Đấng Vô Thượng
Làm lợi tất cả các thế gian.
Thế gian như đây đều không sinh
Chư Phật, Bồ-đề và thọ ký
Bao nhiêu người tu hành Bồ-đề
Chúng ấy tất cả đều không sinh.
Chúng sinh đều đồng có pháp này
Biết như vậy rồi được Bồ-đề
Quá khứ đã học tâm Bồ-đề
Họ ở nghĩa này được biết rõ.
Thế gian như vậy cũng chẳng diệt
Chúng trời Đâu-suất khéo thông đạt
Trí sáng chiếu rõ đều không nghi
Nên chúng trời ấy đều làm Phật.
Quyết định chắc được chỗ không nương
Nơi pháp chẳng lấy lìa phân biệt
Tất cả thế gian đều vô tác
Nghĩa này chúng trời hay biết rõ.
Tất cả pháp thể lìa tự tánh
Chúng trời long sạch không nghi hoặc
Bồ-đề và cùng tâm Bồ-đề
Tất cả đều không tự tánh không.
Chư Thiên Đâu-suất tuệ kiên cố
Thảy đều an trụ không chỗ nương
Nên được Bồ-đề chẳng là khó
Chắc sẽ mau thành trí Vô thượng.
Ở kiếp Tinh tú đời vị lai
Sẽ độ thoát được vô biên chúng
Tất cả trời ấy đều thành Phật
Đồng cùng danh hiệu Trạch Pháp Vương.
Như Lai đối với chúng trời này
Biết họ ưa thích nên thọ ký
Tất cả đại chúng nghe Phật nói
Thảy đều hớn hở vừa lòng dạ.
Phẩm 17: TRỜI HÓA LẠC ĐƯỢC THỌ KÝ
Bấy giờ Thiên vương Hóa lạc làm đầu cùng quyến thuộc bảy ức chúng trời Hóa lạc thấy A-tu-la cho đến trời Đâu-suất-đà cúng dường Phật được thọ ký, họ đều mừng vui hớn hở, đều vừa lòng được an trụ thật tế, ở trong chân như không có nghi hoặc. Họ đồng đứng dậy để hở vai áo bên phải, gối phải chấm đất, đầu mặt lạy chân Phật, chắp tay cung kính khác miệng đồng lời bạch Phật:
–Bạch Thế Tôn! Như chúng con hiểu nghĩa của Phật nói thì tất cả các pháp là chân thật tế, là vô biên tế, là vô ngại tế, là vô trụ tế, là vô tận tế, là bất nhị tế, là phi tế, là thật tế.
Bạch Thế Tôn! Nói rằng thật tế là vì chẳng điên đảo, vô biên tế là vì không hạn lượng, vô ngại tế là vì lìa đối trị, vô trụ tế là vì không tự tánh, vô tận tế là vì vô sinh, bất nhị tế là vì một vị, phi tế là vì chẳng phải có.
Bạch Thế Tôn! Thật tế ấy khắp tất cả chỗ, không có một pháp nào mà chẳng phải là thật tế.
Bạch Thế Tôn! Nói là Bồ-đề cũng là thật tế. Những gì là Bồ-đề? Tất cả pháp là Bồ-đề vì lìa tự tánh vậy. Cho đến năm nghiệp vô gián cũng là Bồ-đề. Vì sao? Vì Bồ-đề không tự tánh, năm nghiệp vô gián cũng không tự tánh, nên nghiệp vô gián cũng là Bồ-đề.
Bạch Thế Tôn! Nói Bồ-đề ấy như tánh Vô dư Niết-bàn, cũng như tánh nghiệp vô gián. Vì sao? Tất cả pháp tức là tánh Vô dư Niết-bàn, cũng là tánh nghiệp vô gián, thế nên Vô dư Niết-bàn giới tức là Bồ-đề.
Bạch Thế Tôn! Nếu có chúng sinh an trụ sinh tử có thể cầu Niết-bàn ở trong thật tế không có người an trụ sinh tử cầu Niết-bàn. Vì sao? Vì thật tế không hai vậy.
Bạch Thế Tôn! Chúng con ở nơi đây hiểu rõ không hoài nghi. Nếu ai ở nơi pháp này không hoài nghi, phải biết người ấy đã ở nơi Phật quá khứ được thọ ký Vô thượng Bồ-đề.
Đức Thế Tôn nghe Thiên vương Hóa lạc và bảy ức chúng trời Hóa lạc nói thọ ký, vì muốn đại chúng vui mừng nên hiện tướng mỉm cười.
Tuệ mạng Mã Thắng Tỳ-kheo nói kệ hỏi Phật:
Đấng thương thế gian hiện mỉm cười
Mà không nói nhân duyên cười ấy
Thiên Nhân Đạo Sư chẳng không nhân
Hiện tướng mỉm cười phóng tia sáng.
Đã thấy tướng cười của Thế Tôn
Khiến các đại chúng đều hoài nghi
Ngưỡng mong nói duyên cớ mỉm cười
Dứt trừ tất cả những lưới nghi.
Chúng ấy nếu được Như Lai nói
Nghe rồi đều sinh lòng hy hữu
Làm sạch chân lộ vì chúng hội
Làm nhân duyên hướng đến Bồ-đề.
Nếu có chúng sinh còn hoài nghi
Người này khó được diệu Bồ-đề.
Ngưỡng mong đại trí dứt nghi hoặc
Tinh cần mau chứng Vô thượng đạo.
Bạch Đức Thế Tôn! Đại chúng này,
Chí cầu Bồ-đề lìa các ác
Được nghe chư Thiên thọ ký rồi
Quyết định sẽ thành Đại Pháp Vương.
Nguyện Đức Thế Tôn vì xót thương
Dứt trừ tất cả lòng nghi hoặc
Thọ ký Bồ-đề cho chư Thiên
Khiến cho đại chúng đều mừng rỡ.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói kệ đáp Tuệ mạng Mã Thắng:
Vì thương thế gian nên hiện cười
Mã Thắng nay ông hỏi nơi Phật
Phật đều thọ ký chư Thiên ấy
Các ông đều phải lắng lòng nghe.
Bảy ức chúng trời Hóa lạc đây
Hay tự thọ ký được thành Phật
Trong chúng đã làm sư tử rống
Hay phá ngoại đạo các tà kiến.
Ví như hư không mưa đá khối
Chắc nát mặt đất không còn nghi
Phật tử như vậy lìa nghi hoặc
Tự biết chắc sẽ thành Phật đạo.
Cũng như trời lặng đêm tối đến
Phải biết trăng mọc chắc chẳng lâu
Phật tử như vậy đủ công hạnh
Biết chắc sẽ đủ mười trí lực.
Lại như mặt trời lúc đứng bóng
Nhìn các sắc tượng đều sáng tỏ
Phật tử như vậy đủ công hạnh
Tự biết chắc được Nhất thiết trí.
Dụ như mặt trời đến lúc lặn
Mọi người đều biết mặt trời ẩn
Phật tử như vậy đều tự biết
Quyết định sẽ được trí tối thắng.
Ví như các dòng đều chảy xuống
Người trí biết sẽ về biển cả
Phật tử như vậy đủ tuệ sáng
Biết chắc sẽ được thượng Bồ-đề.
Như người ném đá lên hư không
Quyết chắc rớt xuống chẳng nghi ngờ
Phật tử như vậy đều tự biết
Chẳng lâu sẽ được Thế Gian Giải.
Người trí pháp nhĩ có thấy biết
Vì hiểu rõ pháp chẳng nghi ngờ
Biết mình có phần Phật công đức
Quyết định gần nơi trí tự nhiên.
Giả sử na-do-tha ma chúng
Hiện Phật bảo: Ngươi chẳng thành Phật
Chẳng ngăn trở được tâm ý họ
Vì đã tự hiểu pháp chân như.
Quyết định ở nơi Phật công đức
Đều tự nói mình được thọ ký
Nơi sự thọ ký này của họ
Như Lai đều tùy hỷ tất cả.
Chúng trời ấy tu hạnh Bồ-tát
Tự mình biết rõ chẳng do người
Chúng ấy tự nói thành Thiện Thệ
Như Lai ở đây đều tùy hỷ.
Thế nên Mã Thắng nếu có người
Muốn được Bồ-đề vô thượng ấy
Ở nơi pháp này phải siêng cầu
Quyết được tối thắng chỗ an ổn.
Tự thành Chánh giác ngộ lý sâu
Tùy nghĩa như thật đều biết rõ
Thân cận cúng dường Thiện tri thức
Họ chứng Bồ-đề chẳng là khó.
Nếu ai ngàn kiếp tu khổ hạnh
Da thịt gân xương không luyến tiếc
Nếu người hiểu rõ nghĩa lý này
Phước đây lớn rộng hơn phước trên.
Quá khứ bao nhiêu các Đức Phật
Vị lai tất cả đấng thương đời
Và cùng hiện tại các Thế Tôn
Đều y pháp này thành Phật đạo.
Chư Thiên Hóa lạc cúng Phật rồi
Thảy đều tự biết đệ nhất nghĩa
Đã cùng quá khứ chư Như Lai
Ngộ nghĩa lý này sẽ thành Phật.
Chư Phật chỗ có thắng Tam-muội
Và cùng hiện tại định đang trụ
Trời ấy được vào cảnh giới Phật
Vì họ đời trước lâu tu tập.
Bảy ức Hóa lạc chúng trời ấy
Ở nơi Tam-muội không còn nghi
Đã khéo học Phật pháp thanh tịnh
Nay nơi Phật đạo hiện tu hành
Vì thế nơi lý sinh tin hiểu.
Nên chánh cần cầu rời mé khổ
Phải thường than cận bậc đa văn
Quyết được Vô thượng đại Bồ-đề.
Nghe Phật tuyên nói diệu pháp rồi
Chư Thiên Hóa lạc và chúng hội
Thảy đều vui mừng trừ lưới nghi
Chảy thẳng đến nơi đại Niết-bàn.
Phẩm 18: TRỜI THA HÓA TỰ TẠI ĐƯỢC THỌ KÝ
Bấy giờ có Thiên vương Tha hóa tự tại cầm đầu cùng quyến thuộc tám mươi na-do-tha chúng trời Tha hóa tự tại thấy A-tu-la, Câu-lâu-la, Long nữ, Long vương, Cưu-bàn-trà, Càn-thát-bà, Dạ-xoa, Khẩn-na-la, chúng trời Hư không hành, Tứ Thiên vương, chúng trời Đao-lợi, chúng trời Dạ-ma, chúng trời Đâu-suất-đà, chúng trời Hóa lạc… cúng dường Phật được thọ ký, họ đều vui mừng hớn hở, vừa lòng, khác miệng đồng lời bạch Đức Phật:
–Bạch Thế Tôn! Thật tế mà chúng trời Hóa lạc đã nói, chúng con còn chẳng thấy thiệt huống là thấy tế. Vì sao? Bạch Thế Tôn! Nếu thấy thật mới được nói là thấy tế. Vì sao? Người ấy hành nơi hai chỗ. Nếu thiện nam, thiện nữ, người ở nơi thừa như vậy phải vì họ nói hai thứ pháp ấy. Hai pháp ấy không phải chân cảnh giới.
Bạch Thế Tôn! Nếu thiện nam, thiện nữ ở nơi pháp không hai mà chẳng tin chẳng nhập, dù người này có phát tâm trồng được Bồ-đề, phải biết người này đi sai đường. Vì sao? Vì nơi Bồ-đề chẳng phải đường đi.
Bạch Thế Tôn! Nếu có chúng sinh cầu Bồ-đề, người ấy chẳng thấy có một pháp được giác ngộ. Vì sao? Vì không có chút pháp gì có thể được giác ngộ Vô thượng Bồ-đề.
Bạch Thế Tôn! Pháp ấy chẳng phải quá khứ, chẳng phải vị lai, chẳng phải hiện tại, chẳng phải hữu vi, chẳng phải vô vi, chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng phải có thể hay, chẳng phải có thể biết, chẳng phải có thể xả, chẳng phải có thể tu, chẳng phải có thể chứng. Nói là Bồ-đề ấy, pháp đó chẳng cùng pháp khác làm đối trị. Pháp khác cũng chẳng cùng pháp đó làm đối trị. Vì sao? Pháp đó chẳng tạp phiền não, chẳng rời phiền não, pháp thể chẳng thể nắm bắt được, vì tánh tự lìa.
Pháp này chẳng đối trị cùng pháp đó, pháp đó cũng chẳng đối trị cùng pháp này. Vì sao? Vì tất cả các pháp đều lìa tướng vậy. Vì thế nên pháp đó chẳng phải có thể biết, có thể hay, có thể xả, có thể tu, có thể chứng.
Bạch Thế Tôn! Sắc sinh ấy lìa tướng sinh, nó cũng chẳng phải
có thể biết, có thể hay, có thể xả, có thể tu, có thể chứng. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.
Bạch Thế Tôn! Sắc diệt ấy lìa tướng diệt, nó cũng chẳng phải có thể biết, có thể hay, có thể xả, có thể tu, có thể chứng. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.
Bạch Thế Tôn! Quá khứ ấy lìa tướng quá khứ, nó cũng chẳng phải có thể biết, có thể hay, có thể xả, có thể tu, có thể chứng. Vị lai và hiện tại cũng như vậy.
Bạch Thế Tôn! Hữu vi ấy lìa tướng hữu vi, nó cũng chẳng phải có thể biết, có thể hay, có thể xả, có thể tu, có thể chứng. Vô vi ấy cũng như vậy.
Bạch Thế Tôn! Như vậy, cho đến được nhiếp nơi ấm, được nhiếp nơi quá khứ, vị lai, hiện tại; được nhiếp nơi hữu vi, vô vi; tất cả các pháp ấy đều chẳng thể nắm bắt được. Vì chẳng thể nắm bắt được nên tất cả pháp ấy chẳng phải có thể biết, có thể hay, có thể xả, có thể tu, có thể chứng.
Bạch Thế Tôn! Nếu có thiện nam, thiện nữ như vậy vì cầu Bồ-đề phát tâm tu hành, họ đều gọi là người an trụ Bồ-tát thừa.
Tám mươi na-do-tha chúng trời Tha hóa tự tại đều nói pháp của mình đã biết xong, đồng nói kệ tán thán Đức Phật:
Thế Tôn khéo nói tận hữu biên
Vĩnh viễn chẳng thọ thân sáu đường
Người đời vô trí sợ sinh tử
Phát tâm muốn qua bờ tử sinh.
Thể các ấm ấy chẳng nắm bắt
Bởi tánh tướng ấm vốn tự không
Tất cả pháp không đều không tướng
Vì thế các pháp lìa đối trị.
Tự thể tức không chẳng có vật
Không có thể biết và xả, tu
Cũng lại chẳng phải pháp được chứng.
Như Lai nói hữu tức phi hữu
Tướng cầu Bồ-đề chẳng nắm bắt
Các pháp trợ đạo cũng như vậy.
Lấy tâm cầu Phật chẳng nắm bắt
Tướng Bồ-tát tìm cũng chẳng được
Nắm chặt các tướng hạng ngu si
Bọn họ trông được ngộ Bồ-đề
Chấp lấy tướng cảnh giới điên đảo
Chẳng phải đi đúng Bồ-đề đạo.
Nhập Phật cảnh giới lìa các tướng
Gọi là người trí hành đúng pháp.
Lìa xa các tướng và không tướng
Cũng lìa nơi không và chẳng không
Người này ngộ được đạo Vô thượng.
Chẳng phải cảnh giới của ngoại đạo
Là cảnh Thanh văn chẳng thể biết
Chẳng phải Duyên giác có thể đến.
Tâm được giải thoát tịnh vô cấu
Pháp ấy La-hán được tương ưng
Và cùng tất cả Bích-chi-phật
Chẳng phải cảnh của trí tuệ họ.
Câu ấy chẳng phải tướng tâm biết
Người tu thiếu Không cũng chẳng hiểu
Nếu có ai hiểu Không, nói Không
Cũng nói các pháp không tự tánh.
Họ thọ Phật giáo không chê bai
Đây gọi là khéo tu không tịch
Ngộ được đạo Bồ-đề khó ngộ
Với họ Phật là Chân Đạo Sư.
Khen Phật Lưỡng Túc Thế Tôn rồi
Liền được vô lượng các công đức
Hồi hướng cho tất cả quần sinh
Thành Phật giác ngộ người chưa ngộ.
Đức Phật biết Thiên vương và tám mươi na-do-tha trời Tha hóa
tự tại sinh lòng tin ưa sâu rồi, vì muốn cho đại chúng thêm lớn căn lành nên hiện mỉm cười.
Tuệ mạng Mã Thắng nói kệ hỏi Phật:
Lưỡng Túc Thế Tôn hiện mỉm cười
Vì biết Tha hóa tin sâu vậy
Phật chưa tuyên nói nhân duyên cười
Ngưỡng mong Như Lai giải thích cho.
Đại Thánh hôm nay chẳng không nhân
Mà hiện tướng mỉm cười hy hữu
Mong Phật nói rõ duyên cớ ấy
Dứt trừ nghi hoặc cho đại chúng.
Vì thấy Thế Tôn hiện mỉm cười
Nên nay chúng hội đều hoài nghi.
Đấng thương mến tất cả thế gian
Ngưỡng mong giải bày nói rành rẽ
Chúng hội thảy đều ngược sinh tử
Chắp tay cung kính cầu Niết-bàn
Với cớ Phật cười đều hoài nghi
Đấng Vô Ngại Thuyết xin trừ dứt.
Đại chúng đều tin pháp của Phật
Tâm được hiểu rõ lìa chấp trước
Đều có tâm tin sâu tôn trọng
Lành thay! Mâu-ni xin nói rõ.
Dũng mãnh tinh tấn nơi Phật pháp
Lìa xa lưới nghi lên đường Thánh
Tất cả chư Phật đi đường này,
Vì thế xin trừ nghi cho chúng.
Bấy giờ, Đức Thế Tôn nói kệ đáp Tỳ-kheo Mã Thắng:
Ông vì thương xót cho đại chúng
Nói kệ hỏi Phật thật phải thời
Đầy đủ biện tài, phương tiện xảo
Mới hay hỏi được nghĩa mỉm cười.
Do hỏi Như Lai tướng mỉm cười
Chắc sẽ lợi ích vô lượng chúng
Do đó tất cả các chúng hội
Đều được an trụ thắng Bồ-đề.
Biết chúng Tha hóa tin sâu rồi
Nên Phật mới hiện tướng cười mỉm
Tất cả tùy thuận Như Lai giáo
Vì cầu Bồ-đề tu diệu hạnh.
Quan sát thế pháp, lìa các tướng
Như thấy sóng nắng chẳng chân thật
Người ngu thấy đó cho là nước
Muốn cầu Bồ-đề chớ đồng họ.
Chấp tướng ham thích cảnh phàm phu
Vô trí thường sợ nơi vô tướng
Người ngu chấp tướng bỏ chánh lộ
Lìa tướng thì được diệu Bồ-đề.
Vọng tưởng nghĩ lường pháp hư ngụy
Theo pháp phân biệt liền bị trói
Người trí thấy tướng thảy đều không
Được Đà-la-ni thượng tịch diệt.
Phàm phu chấp tướng trụ ác tâm
Họ đều vô trí đọa sáu đường
Luân hồi bức bách bị nhiều khổ
Đều vì ngu si chấp tướng vậy.
Chúng sinh trước tướng thấy các ấm
Phật và Bồ-đề cùng Bồ-tát
Người trí lìa tướng thấy Không rồi
Hay được Bồ-đề đại Vô thượng.
Những kẻ chấp tướng tăng phiền não
Hay quán vô tướng trừ kết sử
Nói là kết sử tức là tướng
Quán kết vô tướng liền dứt trừ.
Nếu người cầu đạo mà phân biệt
Phân biệt nơi đạo là chướng ngại.
Người trí dù là hành nơi dục
Dục ấy tức là vô tướng hành
Các pháp vô thể chẳng nắm bắt
Phân biệt các pháp nói là Không.
Nếu lìa phân biệt được vô tướng
Đó là Bồ-đề không gì khác.
Nghe Đức Thiện Thệ nói lời này
Đại chúng trừ nghi được vô úy
Cúi thọ lấy pháp Mâu-ni nói
Như người đầu đội hoa chiêm-bặc.
Chúng trời Tha hóa được vô úy
Thiết cúng dường Phật đồ tối tôn
Cũng biết các pháp cảnh giới Phật
Sẽ làm Đại Đạo Sư cõi đời.
Phẩm 19: CÁC PHẠM THIÊN ĐƯỢC THỌ KÝ
Bấy giờ có sáu ngàn vạn trời Phạm chúng thấy A-tu-la, Câu-lâu-la, cho đến trời Tha hóa tự tại cúng dường Phật được thọ ký, họ đều vui mừng hớn hở vừa lòng. Họ ở nơi thiền Thế đế lấy hỷ duyệt làm sự ăn, ở trong Phật pháp cũng được trí tuệ sáng, vì họ đã trồng căn lành gần gũi cúng dường chư Phật tin sâu thanh tịnh. Ở nơi pháp thậm thâm họ được pháp nhẫn. Các trời cõi Phạm chúng ấy biết các pháp vô tác phi vô tác, phi sinh phi bất sinh, phi hữu phi bất hữu, phi khởi phi bất khởi, phi diệt phi bất diệt, phi y phi bất y, phi thanh phi trược, phi tăng phi ái, phi hiền phi ngu, phi tri phi bất tri, phi kiến phi bất kiến, phi thọ phi bất thọ, phi trắc ẩn phi bất trắc ẩn, phi vô phi phi vô, phi vật phi phi vật, phi khả đắc phi bất khả đắc, phi khứ phi lai, phi thú phi bất thú, phi không phi bất không, phi tướng phi bất tướng, phi nguyện phi bất nguyện.
Các Phạm thiên ấy đối với tất cả pháp lòng không chấp trước, cũng không chỗ trụ. Ở trong phi dụng họ chẳng tưởng phi dụng, ở
trong phi bất dụng cũng chẳng tưởng phi bất dụng. Ở trong ngôn ngữ họ chẳng tưởng ngôn ngữ, ở trong phi ngôn ngữ cũng chẳng tưởng phi ngôn ngữ. Ở trong hữu tác họ không tưởng hữu tác, ở trong vô tác cũng không tưởng vô tác. Ở nơi phàm phu họ không tưởng phàm phu, ở nơi phi phàm phu cũng không tưởng phi phàm phu. Ở nơi pháp phàm phu họ không tưởng pháp phàm phu, ở nơi pháp phi phàm phu cũng không tưởng pháp phi phàm phu.
Ở nơi Thanh văn họ không tưởng Thanh văn, ở nơi phi Thanh văn cũng không tưởng phi Thanh văn. Ở nơi pháp Thanh văn họ không tưởng pháp Thanh văn, ở nơi pháp phi Thanh văn cũng không tưởng pháp phi Thanh văn. Ở nơi Duyên giác họ không tưởng Duyên giác, ở nơi phi Duyên giác cũng không tưởng phi Duyên giác. Ở nơi pháp Duyên giác họ không tưởng pháp Duyên giác, ở nơi pháp phi Duyên giác cũng không tưởng pháp phi Duyên giác. Ở nơi Bồ-tát họ không tưởng Bồ-tát, ở nơi phi Bồ-tát cũng không tưởng phi Bồ-tát. Ở nơi pháp Bồ-tát họ không tưởng pháp Bồ-tát, ở nơi pháp phi Bồ-tát cũng không tưởng pháp phi Bồ-tát. Ở nơi Phật họ không tưởng Phật, ở nơi phi Phật cũng không tưởng phi Phật. Ở nơi pháp Phật họ không tưởng pháp Phật, ở nơi phi pháp Phật cũng không tưởng phi pháp Phật. Ở nơi Niết-bàn họ chẳng tưởng Niết-bàn, ở nơi phi Niết-bàn cũng không tưởng phi Niết-bàn. Ở nơi pháp Niết-bàn họ không tưởng pháp Niết-bàn, ở nơi pháp phi Niết-bàn cũng không tưởng pháp phi Niết-bàn. Ở nơi sinh tử họ không tưởng sinh tử, ở nơi phi sinh tử cũng không tưởng phi sinh tử. Các vị trời cõi Phạm chúng ấy đối với tất cả thảy đều lìa phân biệt, tâm định thanh tịnh. Họ đã được tâm thanh tịnh nên dung pháp tịch diệt nói kệ tán thán Đức Phật:
Đại Thánh trí tịch tĩnh rất sâu
Tu hành tịch diệt đến bờ kia
Diễn nói tịch diệt độ chúng sinh
Cũng tự thường hành pháp tịch diệt.
Bồ-đề tịch diệt khéo thanh tịnh
Pháp này là cảnh giới Như Lai
Mau được tịch diệt thắng cam lộ
Do đó nay được hết sinh tử
Hằng nói đạo tịch diệt vi diệu
Là chỗ sở hành của người trí
Tám Chánh đạo diệt phiền não trược
Cứu vớt tất cả các quần sinh.
Khéo tu tịch diệt chứng Bồ-đề
Là chỗ sở hành của Phật trước
Pháp ấy hay đến thành an ổn
Chỗ chứng biết của Phật quá khứ
Là pháp tu học của Như Lai
Phật giáo hóa thế gian như vậy.
Nếu người hay hành pháp Hữu học
Chứng được vô học thắng Bồ-đề
Nhất tâm hướng đến đạo tịch diệt
Các căn tịch tĩnh tu tập lâu
Sẽ được làm Phật Thế Gian Giải
Sức Na-la-diên độ quần sinh.
Nếu biết pháp tịch diệt cam lộ
Hay hết tất cả tướng sinh tử
Đây là chân thật con Như Lai
Tịch diệt hay trừ khổ thế gian.
Chúng ấy chưng bày cúng dường Phật
Thắng thượng hy hữu rất khác lạ.
Nói pháp tịch diệt hết phiền não
Vơi các vô tướng tối đệ nhất
Thế gian tịch diệt lìa các tướng
nghĩa là tịch diệt tức Niết-bàn.
Chúng sinh luân chuyển thọ khổ đau
Vì lìa tịch diệt thủ tướng vậy.
Các pháp của Phật chẳng nghĩ bàn
Tức là Bồ-đề Nhất thiết trí
Qua khỏi sình lầy đến bờ kia
Nên Phật trọn hẳn không nghi ngờ.
Nếu người lìa ấm được giải thoát
Nơi Phật Đại thừa chẳng nguyện ưa
Muốn cầu Bồ-đề nghĩ diệt độ
Nơi năm ấm ấy sinh bố úy.
Tâm tịnh lìa dục cầu Niết-bàn
Chúng ấy trí giản trạch như vậy
Vơi pháp chấp tướng cảnh phàm phu
Đó là lời dạy của Như Lai.
Nếu chấp tịch diệt tức bị trói
Do đó chẳng được Nhất thiết trí.
Nếu người ở nơi tướng năm ấm
Chẳng sinh lòng chấp giữ thủ trước
Họ hay lợi ích pháp Thích-ca
Đây gọi hạnh hỷ lạc vô tướng,
Hay được chỗ vô danh an ổn
Đến được Bồ-đề cảnh giới Phật
Hàng ma, tranh luận, diệt phiền não
Mau được thành tựu Nhất thiết trí.
Chúng con tán than Vô Thượng Sĩ
Chỗ chứng tịch diệt các công đức
Chỉ Phật đại trí hay biết rõ
Hồi hướng chúng sinh nguyện thành Phật.
Lúc ấy chủ thế giới Ta-bà Đại Phạm Thiên vương biết chúng Phạm thiên tán thán Phật rồi, đối trước Phật đứng thẳng dùng chân thật công đức nói kệ khen ngợi Đức Phật:
Pháp Vương đã biết tất cả pháp
Chẳng thật hư dối như không quyền
Cũng như mây thu và chớp nhoáng
Thế nên Đại Thánh lìa thủ tâm.
Cũng như trong mộng người quá đói
Ăn món cam lọa trăm vị ngon
Người mộng đói ăn đều chẳng thật
Như Lai thấy pháp cũng như thế
Lại như trong mộng người quá khát
Được uống nước mát lạnh trong sạch
Mộng khát uống nước đều hư vọng
Phật thấy các pháp cũng như vậy.
Không tác, không thọ, không chúng sinh
Không có tác nghiệp và được báo
Cũng không được người thọ quả báo.
Thế Tôn nơi đây không nghi ngờ.
Ví như lời hay được người mến
Nhưng ngôn ngữ ấy không thể giữ
Cũng không người nói và người nghe
Đại Thánh biết rõ đều chẳng thực.
Như nghe tiếng hay đàn không hầu
Tiếng ấy cũng không tánh chân thật
Thế Tôn thấy các ấm như vậy
Biết ấm thể không chẳng nắm bắt.
Như ngọc ma-ni tánh tự sạch,
Cột nó trên áo theo màu đổi
Các pháp tự thể vốn thanh tịnh
Hư vọng phân biệt thêm điên đảo.
Ví như áo trắng sạch không dơ
Tùy thọ màu nhuộm nhiều biến đổi
Các pháp như thế tánh tự sạch,
Tùy chỗ phân biệt mà ô nhiễm.
Ví như có người nghe tiếng ốc
Tìm tiếng ốc ấy từ đâu đến
Tiếng ấy chẳng tự chẳng phải tha
Đại Tiên thấy pháp cũng như vậy.
Như người nghĩ tưởng món ăn ngon
Món ấy các duyên hợp lại thành
Món ăn thảy đều không tự tánh
Như Lai thấy pháp đều như vậy.
Ví như đất đá xây làm thành
Suy thể của thành không tự tánh
Các duyên như vậy thảy đều không
Pháp Vương thấy pháp cũng như vậy.
Ví như có người đánh trống lớn
Dù khiến người nghe lòng vui mừng
Tiếng trống các duyên thảy đều không
Đại Thánh thấy pháp cũng như vậy.
Ví như có người lúc đánh trống
Tiếng trống chẳng từ mười phương đến
Tiếng dứt cũng chẳng đến mười phương
Thế Tôn thấy pháp đều như vậy.
Người ấy như vậy đánh trống rồi
Trống ấy chẳng sinh lòng yêu ghét
Cũng chẳng phân biệt tánh các duyên
Phật thấy các pháp đều như vậy.
Lại như người ấy đánh trống hay
Tiếng chẳng có ý khiến người mừng
Và các duyên kia cũng đều vậy
Đạo Sư thấy pháp đều như thế
Như lúc người đánh trống hay kia
Trống ấy chẳng sinh tưởng khổ vui
Cũng chẳng quan sát tánh các duyên
Như Lai thấy pháp đều như vậy.
Dường như có người đánh trống hay
Tiếng chẳng tức duyên chẳng ly duyên
Và duyên nhạc kia cũng như vậy
Mâu-ni thấy pháp đều như thế.
Đức Thế Tôn biết chư Phạm thiên và Phạm vương thâm tâm kính tin và dùng pháp tịch diệt tán thán Đức Phật, lại muốn cho đại chúng sinh căn lành nên liền hiện tướng mỉm cười.
Tuệ mạng Mã Thắng nói kệ bạch hỏi Phật:
Đã thấy Như Lai miệng phóng ra
Ánh sáng mỉm cười rất thanh tịnh
Thế gian trời, người các đại chúng
Tất cả đều sinh lòng hy hữu.
Vì thấy Thế Tôn hiện mỉm cười
Pháp hội đại chúng đều hoài nghi
Tất cả chime ngưỡng mặt Như Lai
Ân cần mong muốn được lắng nghe.
Mong Phật khai thị cớ mỉm cười
Dứt trừ lòng nghi của đại chúng
Tối Thắng Mâu-ni chẳng không nhân
Mà hiện tướng cười rất hy hữu.
Chư Phật lúc hiện ánh sáng cười
Quyết để lợi ích các thế gian
Nay vì ai Phật hiện tướng cười?
Ngưỡng mong giải bày nói rành rẽ
Đại chúng được nghe chắc vui mừng
Vì đã được biết duyên cớ vậy.
Nay đại chúng này đều chắp tay
Nhất tâm chime ngưỡng ưa thích nghe
Thế nên xin Phật giải thích cho
Chắc sẽ trừ dứt những nghi hoặc.
Đạo Sư vì các chúng hội này
Xin thương tuyên nói cớ mỉm cười
Chúng hội được nghe chắc mừng rỡ
Vì đã rửa sạch lưới nghi ngờ.
Lòng chúng chắc bền đều thanh tịnh
Chuyên niệm quý trọng Đức Như Lai
Đại chúng chiêm ngưỡng dung nhan Phật
Dường như nhìn thấy vầng trăng non.
Đủ tám tiếng hay như Phạm thiên
Nhất tâm khát ngưỡng mong sớm nghe
Trời, người đại chúng nghe Phật nói
Chắc trừ được nghi trụ chánh pháp.
Phạm âm diễn nói tương ưng nghĩa
Được nghe xuất thế pháp rất sâu
Phật trí thiện xảo hay vui đẹp
Nên khiến đại chúng thêm hớn hở.
Chúng này lòng sạch lìa nghi ngờ
Ưa thích Như Lai Nhất thiết trí.
Người tinh tấn dũng mãnh hữu lực
Mới có chí cầu đạo Vô thượng
Thế nên Đạo Sư thương thế gian
Ngưỡng mong giải thích cho chúng mừng.
Lành thay! Thế Tôn lòng bình đẳng
Thương xót tất cả các chúng sinh
Khiến các đại chúng thêm căn lành
An tâm bất động cầu Phật trí.
Đức Thế Tôn nói kệ đáp Tuệ mạng Mã Thắng:
Thương xót tất cả các thế gian
Nên Phật thị hiện tướng cười sáng
Ông phải lắng nghe nhân duyên này
nghĩa đó rất sâu, câu vi diệu.
Các chúng hội đây nếu được nghe
Khởi tâm tinh tấn tu pháp lành
Sẽ làm lợi ích các chúng sinh
Nơi pháp của Phật khởi thắng hạnh.
Các Phạm thiên đây đều mừng rỡ
Ở trong pháp Phật đều không nghi
Na-do-tha kiếp lâu tu hành
Dường như số kiếp cát sông Hằng
Nơi các cảnh giới đều chẳng trước
Lòng như hư không không chướng ngại
Dù thích thường tu Bồ-tát hạnh
Mà chẳng mau thủ chứng Bồ-đề.
Chúng ấy lại ở đời vị lai
Vô lượng ức kiếp số hằng sa
Chúng trời thanh tịnh không nhơ uế
Được thế lực lớn trụ thế gian
Sau đó sẽ thành Nhất Thiết Trí
Làm Đại Pháp Vương có oai lực
Đầy đủ công đức hết sinh tử
Xem các thế gian đều không tịch.
Phật ấy như trước lâu tu hành
Thọ mạng hạn lượng lâu cũng vậy
Lúc chư Phật ấy trụ thế gian
Hay cứu độ các chúng sinh khổ.
Cõi nước Phật ấy không đâu bằng
Thế giới nghiêm tịnh rất thịnh vượng
Trong vô lượng na-do-tha kiếp
Như Lai diễn nói cũng chẳng hết.
Cõi nước Phật ấy sự nghiêm tịnh
Vô lượng Phật nói cũng chẳng hết.
Phật ấy đồng hiệu Đại Trí Lực
Cõi nước đều đồng tên Tối Thắng
Vì chúng diễn nói pháp bất động
Chẳng thể nghĩ bàn không chỗ nương.
Cõi nước Phật ấy các chúng sinh
Thảy đều tu hành các căn lành
Không một chúng sinh còn đời sau
Trong vòng sinh tử lại sinh nữa.
Đương thời chúng ấy có một khổ
Nơi thế gian ấy bèn hiển hiện
Chỉ sợ các hành đều vô thường
Khiến các chúng sinh khởi nhàm lìa.
Thuở đó chúng sinh trong cõi ấy
Lìa các tướng khổ, già, bệnh, chết
Tất cả đều nương một giáo pháp
Đồng chán vô thường tu thắng hạnh.
Chúng sinh cõi đó đương lúc ấy
Tai chẳng còn nghe âm thanh khác
Chỉ nghe bất tịnh, vô thường, khổ
Vô ngã, tịch diệt, không, vô tướng
Cam lộ, Niết-bàn và Bồ-đề
An ổn, thanh lương, vô thượng lạc
Những tiếng thắng diệu như vậy thảy
Hằng thường luôn luôn mà được nghe.
Lúc đó không còn âm vang khác
Hoặc cây, hoặc vách, hoặc đất trống
Hoặc là trên không và chùa miếu
Chỉ nghe những câu vi diệu kia.
Nghe rồi tất cả đều đắc đạo
Ở nơi sinh tửu được giải thoát
Đều do thần lực của Như Lai
Đủ tám công đức âm thanh diệu.
Lúc đó không có tâm tạp độc
Những là tham dục và giận tức
Cũng không ngu si phát tiếng ác
Lời thô bức não đến bên tai.
Tất cả nhàm trái nơi sinh tử
Hướng đến Niết-bàn đường thẳng lớn
Cõi ấy tất cả đều đúng không
Phật và chúng sinh đều diệt độ.
Đây là thần lực của Phật ấy
Phát chí nguyện rộng chẳng nghĩ bàn
Đã ở quá khứ do-tha kiếp
Vì cầu Bồ-đề tu đạo hạnh.
Bao nhiêu chúng sinh tại nước ấy
Tất cả sẽ đều được làm Phật
Chư Phạm thiên này phát nguyện rộng
Đều do quan sát câu tịch diệt
Đều được chứng biết nghĩa thậm thâm
Hiểu rõ đường cát tường của Phật,
Chỗ họ tu học đều thông đạt
Làm Đạo Sư tại các thế gian.
Họ quan sát được chúng sinh không
Chẳng sinh lòng giải đãi, nhàm mỏi
Do đó nhập được các pháp tánh
Tu tập Bồ-tát thắng diệu hạnh.