ĐẠI BÁT-NIẾT-BÀN KINH SỚ
QUYỂN 13
PHẨM 17: NHẤT THIẾT ĐẠI CHÚNG SỞ VẤN
Bản sáu quyển gọi là phẩm Tùy Hỷ, bản xưa gọi là phẩm Ưu Bi Thán Tụng. Bản sáu quyển lấy ý từ ngài Ca-diếp thấy Thuần-đà tu thành tựu đạo Bồ-tát, thì mình cũng tùy hỷ, để đặt tên phẩm. Bản xưa lấy ý từ Đức Phật nhận sự cúng dường của Thuần-đà xong liền nhập Niết-bàn, khiến đại chúng lo buồn, than thở mà đặt tên phẩm. Vậy nay lấy ý gì để đặt tên phẩm ở trên? Có hai cách giải thích:
Trong văn kinh thấy không có lời đại chúng thưa hỏi nhau, cho nên việc đại chúng hỏi Phật, chỉ có hóa Phật thọ đại chúng cúng dường, đó là cảnh mà đại chúng thưa hỏi.
Nay Như Lai thọ nhận cúng dường xong sẽ nhập Niết-bàn, chúng ta về sau sẽ cúng dường ai, đại chúng an ủi hỏi han lẫn nhau.
Các Sư Trung Quán cho rằng ngài Ca-diếp phát khởi lời hỏi là vì đại chúng. Phật là người được hỏi; Người hỏi và người được hỏi, ý là ở phẩm này, từ đó mà đặt tên, nên gọi là đại chúng sở vấn.
Nay nói rằng văn kinh chẳng có ghi lời hỏi, chỉ y cứ theo lời đáp để hiển bày lời hỏi. Ở trên nói thường trụ bất biến, ở đây thị hiện tướng Niết-bàn, tướng và thuyết trái nhau, đại chúng sẽ hỏi về nghĩa này. Đức Phật dùng kệ đáp, rốt ráo thường trụ, chẳng nhập Niết-bàn. Từ đáp mà hiển bày câu hỏi, nên gọi là phẩm Đại Chúng sở Vấn.
Toàn văn có hai đoạn lớn:
-
Thứ lớp đáp các câu hỏi.
-
Vui mừng lãnh ngộ.
Trong đoạn thứ nhất, Hà Tây nói phẩm này đáp bảy câu hỏi, gồm có bốn chương. Chương thứ nhất đáp câu hỏi thị hiện tướng Niết-bàn và đáp câu hỏi thị hiện trời, người và đường ma. Thứ hai nói kệ xong và đáp câu hỏi về biết pháp tánh. Thứ ba giải thích bài kệ hữu sự. Chính thức trả lời về câu hỏi bí mật, gồm đáp câu hỏi xa lìa bệnh và đạo Vô
thượng. Thứ tư là nói “vì sao gọi là nghĩa vô dư” và đáp câu hỏi về rốt ráo.
- Chương thứ nhất có hai:
1. Đại chúng phụng cúng.
2. Như Lai thọ cúng.
- Trong phần phụng cúng có hai ý:
1. Duyên khởi.
2. Dâng cúng.
- Duyên khởi lại có năm:
1. Phát ra ánh sáng.
2. Muốn dâng cúng.
3. Trời người ngăn chặn.
4. Lại phát ra ánh sáng.
5. Dâng cúng.
Lấy lời này làm lời đáp để thị hiện tướng Niết-bàn, Hà Tây cho rằng thị hiện Niết-bàn có ba loại:
1. Thị hiện bằng lời nói.
2. Thị hiện bằng thần thông.
3. Thị hiện ngay nơi sự.
Ngay nơi sự nghĩa là thọ thực lần cuối, rồi gỗ thơm, dầu thô; thần thông tức phát ra ánh sáng, hiện các điềm báo trước, lời nói tức là bảo Thuần-đà rằng: “Các thầy muốn ta trụ lâu ở thế gian, thì hãy nhanh chóng hiến dâng cúng dường lần cuối cùng”. Đó là ý trả lời.
Từ câu “Bấy giờ trời, người, v.v…” trở xuống là ý thứ hai hiến cúng, có hai:
1. Đại chúng cúng dường.
2. Thuần-đà cúng dường.
Thứ nhất lại có hai: một, là đại chúng cúng dường. Thứ hai, là Tỳ - kheo đắp y ôm bát.
Thuần-đà dâng cúng, có bốn: một, là sắp bày vật cúng. Thứ hai, là thay đổi cõi nước. Thứ ba, hết lòng cầu thỉnh. Thứ tư, là khen ngợi.
Từ câu “Bấy giờ, Thế Tôn v.v…” trở xuống là đoạn thứ hai, Như Lai thọ cúng. Có bốn:
Một, là nhận đại chúng cúng dường. Thứ hai, là Thuần-đà dâng cúng.
Thứ ba, là đại chúng khởi niệm, lớn nhỏ dung chứa lẫn nhau. Thứ tư, đại chúng buồn than.
Cho nên đáp cả câu “Chỉ cho trời, người, ma, ngoại đạo”. Hà Tây
cho rằng các việc như: Thế giới biến thành trang nghiêm thanh tịnh, vô lượng hóa Phật hiện trong một lỗ chân lông, Thuần-đà dâng ít mà cung cấp cho tất cả đại chúng. Đây là những việc thù thắng ít có, làm cho cả chúng hội đương thời thấy rõ. Cho nên đó là đáp cả câu hỏi “Chỉ cho trời, người và ngoại đạo”.
Từ câu “Bấy giờ Đức Thế Tôn v.v…” trở xuống là câu thứ hai, trả lời câu “Biết pháp tánh, thọ pháp lạc”.
Văn có hai: trước trả lời về biết pháp tánh, sau trả lời về biết pháp lạc. Thứ nhất có hai, trước dùng nghĩa biết pháp tánh, sau là văn xuôi nêu khen chê, được mất. Đầu tiên gồm bốn mươi tám câu kệ, chia làm ba phần:
Gồm mười sáu câu, khuyên dứt buồn lo và lắng nghe. Năm mươi hai câu nói về pháp tánh.
Gồm mười sáu câu kết luận khuyên tu tập. Thứ nhất gồm mười sáu câu.
Kế là năm mươi hai câu, chia làm hai. Trong đó bốn mươi tám câu đầu gồm sáu cặp đối đãi, mỗi cặp gồm tám câu, hiển bày lý pháp tánh; bốn câu sau kết luận ngăn chặn sự buồn khổ, nhưng chính thức chỉ bốn mươi tám câu, mà văn sau ghi năm mươi hai câu là gom luôn phần kệ kết luận.
Trong bốn câu đầu của cặp thứ nhất nói về chim cắt, hai loại chim này có thể ở chung một nơi, nếu là quạ và cú mèo, thì chẳng thể ở chung một nơi.
Kế là cặp thứ hai rất dễ hiểu.
Cặp thứ ba nói hoa thất diệp, là loại hoa rất hôi, còn hoa Bà-sư rất thơm, Ca-lưu là loại cây độc, còn cây Trấn-đầu là cây lành quả ngọt.
Ba cặp khác y theo kinh rất dễ hiểu.
Trong phần kết luận khuyên tu có nói: “Tam bảo đồng với chân đế”. Khai Thiện giải thích rằng quả Phật thầm hợp với chân, chân đã thường bặt thì quả cũng thường bặt. Trang Nghiêm cho rằng: “Quả Phật ở ngoài chân, chẳng thuộc về chân, đó là thường diệu tuyệt, đồng với chân, cho nên nói đồng với chân đế”. Nghĩa của hai Sư giải thích còn thuộc thiên chân. Nói quả vượt ngoài chân, lại nói đồng với chân, đã đồng thì đâu thể vượt ngoài, đã vượt ngoài thì đâu thể là đồng. Nay nói Phật Tăng là người; đế tức Trung đạo, pháp Trung đạo, Pháp tức là người, người tức là pháp, nên nói Tam bảo đồng với kệ chân đế.
Sau kệ là phần văn xuôi, nói về khen chê, được mất.
Trang Nghiêm cho rằng văn này trả lời câu “Chỉ cho trời, người và
đường ma, trong đó Chiên-đà-la là đường ma, A-la-hán dụ cho đường trời người”. Có sư chẳng dùng nghĩa này, A-la-hán chẳng phải người, Chiên-đà-la chẳng phải ma. Đây chỉ là kết luận ý được mất ở trước. Nói biết Tam bảo thường đáng thọ nhận cúng dường. Như A-la-hán đó gọi là được. Nếu chẳng biết thường thì làm thương tổn pháp thân, như Chiên-đà-la đó tức là mất.
Kế là từ câu “Bấy giờ đại chúng trời, người, v.v…” trở xuống là nói về thọ pháp lạc, nhờ sự việc mà làm lời đáp. Trước nói về thọ pháp lạc, sau là sắp đặt cúng dường.
Từ câu “Bấy giờ, Phật bảo, v.v…” trở xuống là đoạn thứ hai, lãnh thọ điềm lành và kết thành, có hai:
1. Bảo Ca-diếp lãnh thọ.
2. Bảo Thuần-đà lãnh thọ.
Trong phần Ca-diếp thọ lãnh, văn kinh có ghi “Lại thấy đại chúng nói mười ba bài kệ”. Có thuyết cho rằng Phật và đại chúng mỗi vị đều nói mười ba bài kệ. Văn này là Phật nói, còn kệ do đại chúng nói thì chưa đến. Có thuyết cho rằng lại “thấy đại chúng” là thuộc về câu trên; “nói mười ba bài kệ” là thuộc Phật nói, không phải là đại chúng nói. Trong phần bảo Ca-diếp lãnh giải văn kinh gồm có bốn: Thứ nhất, (bảo mệnh lệnh). Thứ hai, nhận lãnh. Thứ ba, suy công đức về Phật. Thứ tư, suy ra Bồ-tát có thể biết.
Kế là bảo Thuần-đà, cũng có bốn: Thứ nhất, bảo. Thứ hai, vâng lãnh. Thứ ba, Phật kết luận. Thứ tư, Ca-diếp tùy hỷ.
Từ câu “Bạch Thế Tôn v.v…” trở xuống là chương thứ ba trả lời câu hỏi “Làm sao vì chúng sinh giảng nói nơi bí mật?” ở trên. Lại đáp cả câu hỏi “lìa hẳn tất cả bệnh, gần được đạo Vô thượng.” Nhưng bài kệ Hữu dư là lời ẩn kín, tùy duyên chẳng phải nghĩa bình đẳng hiển lý rốt ráo. Nay hiển bày chỗ ẩn kín làm cho bí mật được hiển bày, tức là đáp câu hỏi ở trước. Nhưng văn lại nói ba hạng người gây ra năm tội nghịch, bốn trọng cấm, hủy báng chánh pháp, tội được tiêu diệt, bệnh lành, tức là đáp cả câu “lìa hẳn tất cả bệnh”. Do bệnh lành tội diệt, nên gần đạo Vô thượng. Đáp cả hai câu hỏi, ý ở tại nơi đây. Toàn văn có hai:
- Lược hỏi đáp.
- Nêu bảy bài kệ.
Đầu tiên là lược hỏi hữu dư, vô dư; kế là lược đáp hữu dư là chẳng liễu tức mật, vô dư là liễu tức hiển.
Kế là từ câu “Thuần-đà bạch rằng v.v…” trở xuống là nêu rộng bảy bài kệ; hỏi đáp có bảy chương; bảy chương này có chỗ cho là Thu-
ần-đà nêu, có chỗ cho là ngài Văn-thù nêu, hoặc là Đức Thế Tôn tự nói. Chương một là Thuần-đà thưa hỏi, văn có sáu đoạn:
1/ Phân biệt với Nhất-xiển-đề.
2/ Giữ lấy ba hạng người có tội. 3/ Giải thích ý giữ lấy
4/ Giải thích ý phân biệt. 5/ Kết luận kệ.
6/ Duyên khởi.
Đầu tiên nêu kệ xin. Giải thích: Vì sao tất cả bố thí đều được khen ngợi, bố thí trì giới đều được khen ngợi, còn bố thí phá giới vì sao được khen ngợi?
Trong lời Phật đáp là trừ bỏ Nhất-xiển-đề. Phen hỏi đáp thứ hai, thứ ba, rất dễ thấy.
Thứ tư, hỏi thế nào là Xiển-đề. Kế là trong lời Phật đáp, có ba phen.
Đầu tiên nói chung bốn bộ đệ tử phỉ báng chánh pháp, không bao
giờ sám hối, tuy sai mà cho là đúng thì cũng hướng về con đường Nhất- xiển-đề.
Phen thứ hai nêu lên bốn trọng cấm và năm tội nghịch, nếu biết chắc chắn phạm việc nặng như thế, mà tâm không mảy may hổ thẹn sợ hãi, chẳng chịu phát lồ sám hối, thì đối với Phật pháp không bao giờ có tâm giữ gìn kiến lập, lại hủy báng xem thường, nói nhiều lời lỗi lầm, người như thế cũng hướng về con đường Nhất-xiển-đề.
Trừ ba hạng người đã nêu trên, còn tất cả các bố thí đều đáng được khen ngợi.
Từ câu “Bấy giờ, Thuần-đà v.v…” trở xuống là phen hỏi đáp thứ hai. Giữ lấy ba người tội tức phạm bốn trọng cấm, v.v… có ba ý:
1/ Hỏi đáp lược nêu ba tướng. 2/ Nói rộng về bốn tội trọng.
3/ Nói riêng về nhân duyên phỉ báng. Thứ nhất như văn kinh nói.
Kế là trong phần nói rộng, trước là hỏi, kế là trong lời đáp có ba ý:
1/ Nói về pháp diệt ác.
2/ Giải thích pháp diệt ác. 3/ Nói về ác diệt.
Thứ nhất, pháp diệt ác.
Hà Tây nói có sáu thứ thuốc quý:
1/ Phát tâm Bồ đề.
2/ Hổ thẹn sám hối tội lỗi. 3/ Giữ gìn chánh pháp.
4/ Cung kính người hộ pháp. 5/ Hiểu rõ tướng tội.
6/ Thọ trì, giảng nói kinh điển Đại thừa.
Sáu thứ thuốc quý này so với sáu duyên ở đây phần nhiều đồng nhau, chỉ có chút khác nhau:
1/ Mặc pháp phục.
2/ Hỗ thẹn sửa đổi.
3/ Phát tâm hộ pháp.
4/ Cúng dường người hộ pháp. 5/ Tự mình thọ trì đọc tụng.
6/ Giảng nói cho người nghe.
Hà Tây nói phát tâm và hiểu rõ tướng tội, cũng có thể hiểu được lời này.
Thứ hai, từ câu “Vì sao v.v…” trở xuống là giải thích gồm có dụ và hợp.
Thứ ba, từ câu “Nếu có người hủy báng v.v…” trở xuống là nói về điều ác bị dứt trừ.
Cần phải nói đủ như trước, mà đoạn văn này lược bớt, chỉ nói quy y chánh pháp và nêu điều phải trái. Phạm năm tội nghịch tức là nói năm tội nghịch có thể dứt trừ, cũng nêu điều đúng, điều sai. Ba tội ở đoạn này đều có thể dứt trừ, là trả lời cả câu hỏi “lìa bỏ tất cả bệnh”. Lại tội đã diệt tức là gần đạo Vô thượng.
Từ câu “Này người thiện nam v.v…” trở xuống là ý thứ ba, giải thích ý giữ lấy ba hạng người có tội, gồm có pháp, dụ và hợp.
Dụ có bốn:
1/ Chưa sinh giải. 2/ Đã sinh giải.
3/ Nói về hộ pháp. 4/ Được quả báo.
Dụ thứ nhất, nói lúc tạo tội phá giới.
Người nữ dụ cho Bồ-tát tu hành cạn hẹp, có bao gồm ý nghĩa sinh giải; nói như người nữ mang thai là giải chưa phát, còn ẩn kín. Gặp thời loạn lạc là dụ cho chúng phá giới, con đường trì phạm bị cắt đứt, nên nói đến xứ khác.
Thứ hai là nói vào miếu thờ trời là dụ cho sinh giải.
Miếu thờ trời dụ cho kinh này, y kinh mà sinh giải. Quê hương an ổn sung mãn, tức nghe công đức giữ giới mà được quả báo như thế.
Thứ ba, từ câu “Nửa đường v.v…” trở xuống là dụ cho hộ pháp.
Tà kiến đoạn thường dụ cho sông Hằng, tà biện cong vạy dụ cho nước sông chảy mạnh, thà mất báo thân chứ không lìa bỏ giải ngộ, nên nói là chẳng thể một mình đến bờ kia.
Thứ tư, từ câu “Sau khi qua đời, v.v…” trở xuống là được quả báo sinh lên cõi trời.
Từ câu “Phạm bốn trọng cấm v.v…” trở xuống là hợp dụ.
Từ câu “Thuần-đà lại nói v.v…” trở xuống là giải thích phân biệt Nhất-xiển-đề. Trước là hỏi, kế là đáp, gồm có pháp, dụ và hợp.
Trong pháp thuyết ý nói: bố thí cho người này không được phước.
Từ câu “Thí như có v.v…” trở xuống là dụ.
Đã đập vỡ hạt mà đem trồng, thì hạt không thể nẩy mầm là dụ cho Nhất-xiển-đề. Nhưng xiển-đề sửa đổi thì chẳng phải là Nhất-xiển-đề. Văn sau nói: Nhất-xiển-đề được thành Phật cũng gọi là phỉ báng Phật; nói Nhất xiển đề không được thành Phật cũng gọi là phỉ báng Phật. Nếu nói Nhất xiển đề sửa đổi thành Phật thì mới chẳng phỉ báng Phật.
Hợp dụ như văn kinh có ghi.
Thứ năm, từ câu “Vì nghĩa này v.v…” trở xuống là kết luận ý ng- hĩa các bài kệ.
Trước nói tất cả bố thí đều được khen ngợi, tức là thuyết hữu dư.
Ở đây nói có khác nhau tức là thuyết vô dư.
Thứ sáu, từ câu “Thuần-đà lại nói v.v…” trở xuống là nói về duyên khởi bài kệ.
Từ câu “Lại nữa v.v…” trở xuống là chương hai, Đức Phật nói kệ, có ba:
-
Đức Phật nêu kệ.
-
Văn-thù nêu kệ hỏi lại Phật.
-
Như Lai giải thích. Văn thứ nhất rất dễ thấy.
Văn thứ hai trong lời hỏi lại của ngài Văn-thù có nói Phương Đẳng A-hàm, A-hàm dịch là Pháp Quy, tức chỗ nhóm họp về của các pháp. A-hàm chung cho Đại thừa, Tiểu thừa. Tiểu chỉ nói là A-hàm, Đại thì thêm Phương Đẳng.
Văn thứ ba, từ câu “Đức Phật bảo v.v…” trở xuống là Đức Phật giải thích.
Từ câu “Bấy giờ Văn-thù-sư-lợi v.v…” trở xuống là chương ba, ngài Văn-thù lại vặn hỏi. Đầu tiên là lời vặn hỏi, kế là Phật dạy, sau là Phật đáp.
Nói chín mươi lăm ngoại đạo hướng về đường ác; Thanh văn là chánh, tức là đường lành. Kinh Hoa Nghiêm nói chín mươi sáu thứ đều là tà đạo, hai văn này làm sao hội thông? Giải rằng: Hoa Nghiêm chỉ cho thực hành Nhị thừa, nên chẳng nói là chánh. Cổ Bách luận ghi “Thuận hóa Thanh văn đều là ngoại đạo”.
Kế là Đức Phật đáp.
Từ câu “Bấy giờ Đức Thế Tôn v.v…” trở xuống là chương thứ tư, Đức Phật nêu kệ, có ba:
1/ Đức Phật nói kệ.
2/ Ngài Văn-thù nói kệ.
3/ Phật ấn chứng, khen ngợi.
Từ câu “Bấy giờ ngài Văn-thù v.v…” là chương năm, ngài Văn- thù nói kệ. Lại có hai:
1. Ngài Văn-thù nói kệ.
2. Như Lai ấn chứng.
Nói tham ái và vô minh, các sư kia giải thích rằng: Tâm tham là bên trong dụ như mẹ, vô minh là cảnh bên ngoài dụ như cha. Nhưng chỉ là tham ái chẳng lẽ lại đọa vào Vô gián ư? Do tham khởi tà kiến, cho nên đọa lạc, nghĩa này chẳng đúng. Tham ái và vô minh đều có trong người. Vô minh là gốc để thọ thân giống như cha, tham là cành lá phiền não giống như mẹ. Vả lại, cha là duyên xa như vô minh, mẹ là duyên gần như tham ái.
Từ câu “Bấy giờ, Như Lai v.v…” trở xuống là chương sáu. Như Lai nói kệ có ba: một, là Như Lai nói kệ; hai, ngài Văn-thù vặn hỏi; ba, Như Lai giải thích.
Chương bảy, ngài Văn-thù nêu kệ; có hai ý: Một, là ngài Văn-thù nêu kệ, hai là Như Lai giải thích ngược lại.
Từ câu “Bấy giờ, Ca-diếp v.v…” trở xuống là chương thứ tư, đáp câu hỏi “Thế nào là hỏi rốt ráo và chẳng rốt ráo?” Ở trên, gồm có hỏi và đáp.
Trong phần đáp có nêu đủ ý trên. Vô dư tức là nghĩa rốt ráo, vì sao gọi Nhất thiết nghĩa chẳng phải là rốt ráo. Phật trả lời hai câu hỏi, nói “chỉ trừ trợ đạo là nghĩa vô dư” để đáp câu hỏi về rốt ráo; còn các pháp khác có cả hữu dư và vô dư, là đáp câu “Nhất thiết nghĩa chẳng gọi là nghĩa rốt ráo”.
“Chỉ trừ các pháp trợ đạo là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh”, Hà Tây cho rằng: Trợ đạo là nhân, thường lạc là quả; Muôn hạnh là nhân, được muôn đức là quả. Nghĩa vô dư này là lời chân thật, nói cho người lợi căn. Vì không pháp nào chẳng gồm thâu nên gọi là Nhất thiết, cũng gọi là Vô dư. Còn các pháp khác đều gọi là hữu dư; trong hữu dư cũng có vô dư. Như nói Tứ đế cho Thanh văn, nói mười hai nhân duyên cho Duyên giác. Vì xứng hợp căn khí mà nhận lấy, nên gọi là Vô dư.
Hưng Hoàng cho rằng: Nói trợ đạo là nói chung chứ không phải riêng y cứ theo nhân. Nay lấy thường làm quả, pháp thiện làm nhân. Nhân quả này đều là trợ đạo, làm duyên phá các điên đảo. Chẳng phải nhân chẳng phải quả mới là chánh đạo, mới là nghĩa vô dư.
Từ câu “Bồ-tát Ca-diếp, v.v…” trở xuống là đoạn lớn thứ hai của phẩm nói về đại chúng vui mừng thọ lãnh, tin hiểu. Đầu tiên chia làm hai chương:
Theo thứ lớp trả lời các câu hỏi. Vui vẻ thọ lãnh, tin hiểu.
Nay theo thứ lớp trả lời câu hỏi đã xong, kế là nói đại chúng vui mừng. Văn có hai:
1/ Chính thức thọ lãnh, tin hiểu.
2/ Hiện bệnh kết luận hoàn thành.
- Văn thứ nhất lại có hai đoạn:
1/ Ngài Ca-diếp thọ lãnh, tin hiểu. 2/ Đại chúng thọ lãnh, tin hiểu.
Đoạn một có hai ý:
1/ Lãnh giải, khen ngợi.
2/ Ca-diếp lại hỏi về công đức.
Từ câu “Bấy giờ, các vị trời, v.v.…” trở xuống là đoạn hai, nói đại chúng lãnh giải. Văn có ba ý:
1/ Đại chúng khen ngợi khuyến thỉnh.
2/ Như Lai ngăn tâm lo buồn của đại chúng. 3/ Đại chúng cúng dường phát tâm.
Ý đầu lại có bốn bài kệ. Chia làm ba: một, là gồm bốn câu nêu lời thỉnh.
Thứ hai, là giải thích lý do. Nêu hai vị xuất gia và một vị tại gia chưa đến thì chẳng nên nhập diệt. Ý thứ hai, là bốn câu kết.
Trong phần Như Lai dứt trừ tâm lo buồn làm lời đáp, có mười câu, chia làm hai:
Gồm tám câu đáp lời hỏi.
Gồm hai câu, ngăn dứt tâm lo buồn.
Câu “A-nan bậc học rộng, tự nhiên sẽ hiểu rõ, pháp thường và vô thường”, bản sáu quyển lại ghi “Tự biết thường, vô thường”. Khi Như Lai Niết-bàn thì một chân đen sậm, một chân sáng sạch; sáng sạch biểu thị cho pháp thân thường trụ, đen sậm biểu thị cho thân ứng tích vô thường.
Ý thứ ba từ câu “Bấy giờ, đại chúng v.v…” trở xuống , đại chúng cúng dường phát tâm. Lại có ba:
1/ Cúng dường. 2/ Phát tâm.
3/Đạt quả vị.
Theo kinh rất dễ hiểu.
Từ câu “Bây giờ, Đức Thế Tôn, v,v…” trở xuống là văn thứ hai, Như Lai kết luận hoàn thành, lại có ba ý:
1/ Thọ ký.
2/ Phó chúc.
3/ Hiện bệnh.
Xưa nói: Từ phó chúc trở xuống là phẩm Hiện Bệnh. Nay thì chẳng như thế, hiện bệnh là kết thành ý đây không trở ngại trước là ở đây.
Nói đau lưng là trích từ luận Đại Trí Độ: Khi xưa, Đức Thế Tôn còn làm một con nai đầu đàn chịu chết để đợi một con thỏ cuối cùng qua sông. Ngày nay, Đức Phật vì đợi Tu-đạt nên nói là đau lưng.
-----------------------------------
PHẨM 18: HIỆN BỆNH.
Trang Nghiêm gọi đây là vòng thứ hai, Lương Vũ đế gọi là Trung hậu (sau ngọ), Khai Thiện gọi đây là đáp câu hỏi lìa tất cả bệnh, Hưng Hoàng thì cho cả hai, tức trước tuy đã có đáp rồi nhưng đâu ngại gì lại nói; sau tuy lại nói nhưng đâu ngại gì đáp ở trước. Các Sư Trung Quán hai lần so sánh, so với trước là kết luận để thành tựu câu đáp trước, so với sau thì sinh khởi năm hạnh. Tuy có hai lần so sánh, nhưng so với trước là phụ, so với sau là chánh.
Ở đây chẳng phải như thế, từ phẩm này trở đi là nói về hạnh Niết- bàn, thứ ba. Văn có hai:
1/ Nói về tu tập năm hạnh. 2/ Nói về chứng mười đức.
- Thứ nhất lại có năm: 1/ Hạnh Bệnh.
2/ Hạnh Thánh. 3/Hạnh Phạm. 4/ Hạnh Trời.
5/ Hạnh Trẻ thơ.
Nay nói về hạnh thứ nhất. Từ đây đặt tên nên gọi là phẩm Hiện Bệnh. Nhưng tên phẩm là Hiện Bệnh mà nội dung văn lại nói không bệnh. Nghĩa này thế nào? Do cuối phẩm trước khi thọ ký phó chúc xong, Phật liền nói: “Bây giờ ta bị đau, toàn thân đau nhức, như đứa bé và những người thường bị bệnh kia”. Cho nên ghi là phẩm Hiện Bệnh. Do hiện bệnh này mà dẫn đến có ba lần xem xét, ba thỉnh, nói Như Lai không bị bệnh.
2/ Hiện tướng không bệnh.
3/ Đại chúng cúng dường.
-
Nói rộng về không bệnh.
-
Thỉnh nói pháp.
-
Thỉnh dứt ác mạn. 3 Thỉnh cả hai việc.
Ba lần xem xét: một, là xét về tự hành; hai, là xét về hóa tha; ba, là xét về chứng quả. Giữa hai thứ ba tướng này đều trước là xem xét, kế là thỉnh, hợp thành ba đoạn, chia thành sáu chương.
Đầu tiên là xem xét về tự hành: Đức Phật thì muôn hạnh tròn đầy, các khổ đã dứt, chẳng lẽ lại bị bệnh ư?
Kế là xem xét về hóa tha: Phật tự độ đã xong, công đức hóa tha đã đầy đủ, dứt trừ được bệnh ba độc cho chúng sinh, há lại bị bệnh ư?
Sau là xem xét về chứng quả: Phật địa đã tròn đầy, chủng trí đã hiện tiền, vắng lặng thường trụ, há lại bị bệnh khổ ư?
Văn xét về tự hành có hai:
1/ Nói về nhân của vô bệnh. 2/ Nói là có nhân vô bệnh.
Chỉ nói bốn phần là vì chung cho kiến hoặc, tư hoặc, còn năm kiến và nghi chỉ riêng ở Kiến đế. Các nhân của bệnh chung riêng, chư Phật chắc chắn không còn.
Từ câu “Có hai duyên v.v…” trở xuống là xem xét biết có nhân vô bệnh.
Thương xót thuộc về nội tâm, ban phát thuộc về ngoại xả. Trong cầu ngoài cứu vớt, dứt trừ các khổ não, đó là nhân của vô bệnh.
Kế là từ câu “Bạch Đức Thế Tôn v.v…” trở xuống là thỉnh nói pháp, có bốn ý:
1/ Thỉnh chỉ dạy các đệ tử. 2/ Thỉnh nói pháp Đại thừa.
3/ Thỉnh dạy pháp không lui sụt, tức là sinh điều lành. 4/ Thỉnh trị kẻ ác, tức là diệt ác.
Theo văn rất dễ hiểu, đây cũng là ý bốn Tất-đàn.
Kế là từ câu “Các Bồ-tát, v.v…” trở xuống là xem xét về hóa tha.
Văn có hai:
1/ Nói về hóa tha trừ ba chướng.
2/ Nói về hóa tha và phát nguyện.
Đầu tiên lại nói chia làm ba: một, là nêu ba chướng; hai; là giải thích; ba, là kết luận, thứ nhất như văn kinh ghi.
Giải thích có ba:
1/ Giải thích chướng phiền não.
Bốn câu phân biệt: lợi mà chẳng sâu, vừa sâu vừa lợi; nếu thường khởi thì chướng hại cho việc tu đạo, là phiền não chướng.
Sâu mà chẳng lợi, chẳng sâu chẳng lợi, vì chẳng thường sinh khởi, tuy là phiền não nhưng chẳng gọi là chướng.
Nói chung bốn câu thì đều là phiền não chướng, ở đây chỉ phân biệt riêng cho nên nói như thế. Bảy mạn như kinh ghi. Luận Thành Thật có nêu đại mạn thành tám mạn, văn kinh ở đây đã được ghi. Hà Tây lập
chín mạn, tức là tiểu trung thượng, đẳng trung đẳng, đơn mạn, mỗi mạn được chia thành hai. Tiểu trung thượng: nghĩa là tự cậy mình hiểu biết hơn người, người thì ngu si kém cỏi, luôn tự mạn đối với người kém hơn. Đẳng trung đẳng tức mình bằng người mà tự cho mình hơn người. Mạn mạn tức cho trí tuệ của mình hơn tất cả mọi người, không ai bằng mình; Đại mạn tức đẳng trung thượng và thượng trung đẳng; Bất như mạn ng- hĩa là mình kém người rất xa mà cho rằng chỉ kém một chút. Ngã mạn nghĩa là quán năm ấm là ngã, chấp là nhân của ngã, tà mạn nghĩa là thật không có công đức mà cho là có công đức.
Kế là giải thích nghiệp chướng. Quyết định nghiệp của bốn đường làm chướng ngại sơ quả; quyết định nghiệp cõi dục làm chướng ngại quả thứ ba; quyết định nghiệp cõi sắc, Vô Sắc chướng ngại quả thứ tư. Ở đây nói bệnh ác nặng là báo chướng. Vì sao lại giải thích là nghiệp? Xưa có hai cách giải thích: Một, là cho rằng bệnh nặng thật là báo chướng mà giải thích là nghiệp, vì đó là trong quả mà nói nhân; hai, cho rằng năm nghiệp Vô gián giống như bệnh nặng, nên lấy đó làm dụ.
Thứ ba, là giải thích báo chướng có nói về người hủy báng chánh pháp và Nhất-xiển-đề có liên quan gì đến báo chướng hay chăng? Có hai cách giải: một, cho rằng sinh vào nhà phỉ báng chánh pháp và Nhất- xiển-đề, há chẳng phải là báo chướng ư?; Hai, cho rằng người ác có hai là nghiệp ác và báo ác, ví như chim sẻ nặng về dâm dục, rắn nặng về sân đều do nghiệp quả của kiếp trước.
Từ câu “Bạch Đức Thế Tôn v.v…” trở xuống là xin trừ ác mạn.
Văn có hai đoạn: một, xin trừ ác mạn của người ngu.
Thấy Phật hiện bệnh, khởi ý tưởng cho là sẽ chết, tức khởi niệm ác.
Từ câu “Bạch Đức Thế Tôn v.v…” trở xuống là xem xét biết Phật đã chứng quả, năng lực của thân đầy đủ mà lại bị bệnh hay sao? Văn có hai:
-
Nói về năng lực của thân
-
Nói về năng lực của trí.
Trong phần nói về năng lực của thân vượt hơn tất cả các sức mạnh của các loài để so sánh. Voi Ưu-bát-la màu xanh, voi Phân-đà-lợi mầu đỏ. Có thuyết cho rằng khi loài voi này đi dưới chân có hoa Ưu-bát-la, do đó mà đặt tên. Kinh Đại Noa ghi “Đi trên hoa sen là loài voi trắng”, đây là lời minh chứng. Lại nói khi trời nổi sấm chớp trên ngà loài voi này có nổi các mắt võng hoa Ưu-bát-la nên lấy đó đặt tên. Các loại voi khác cũng giống như thế. Bát-kiền-đề, Hán dịch là kiên cố; Na-la-diên
dịch là Kim cương.
Từ câu “Nay Như Lai v.v…” trở xuống là phần thứ ba, gồm có thỉnh nói pháp và dứt ác.
Sau là phần kệ, có hai mươi tám câu: Mười hai câu đầu là chánh thỉnh; mười hai câu kế là giải thích lời thỉnh; bốn câu cuối là lời thỉnh. Phần chánh thỉnh gồm có: một, bốn câu đầu là thỉnh nói pháp; hai, tám câu thỉnh dứt ác mạn.
Ca-diếp là đệ tử Phật, vì sao đồng như ngoại đạo, gọi Phật là Cù- đàm? Giải rằng: Gọi Cù-đàm chẳng nên phân biệt kỹ, như người sân gọi và người vui mừng gọi, cũng đều gọi là Trương vương, huống chi lại nói là Cù-đàm thánh đức, há lại đồng với ngoại đạo có tâm ngã mạn được ư?
Kế là giải thích lời thỉnh, gồm có hai: Bốn câu đầu giải thích dứt ác.
Kế là gồm tám câu giải thích thỉnh nói pháp.
Sau cùng là kết luận, theo văn rất dễ hiểu.
Từ câu “Bấy giờ, Đức Thế Tôn v.v…” trở xuống là phần thứ hai, Phật hiện không có tướng bệnh. Văn có ba: 1/ Nói về ánh sáng làm lợi ích.
2/ Hoa sen làm lợi ích. 3/ Hóa Phật làm lợi ích.
Ba ý này đều có sự có lý. Về sự tức sắc bệnh thì tiều tụy, sắc khỏe mạnh thì vui hòa. Nay phát ra ánh sáng rực rỡ không có tướng bệnh. Hoa sen là điềm lành chẳng phải tướng bệnh. Hóa Phật là do Như Lai tạo ra, nếu là người bệnh thì chẳng thể làm được, nếu làm được thì chẳng bị bệnh. Nói về lý, ánh sáng từ thân xuất hiện, biểu thị cho Pháp thân, hoa chứa đựng quả, biểu thị cho Giải thoát. Phật là giác tuệ, biểu thị cho Bát-nhã. Đầy đủ ba đức mà lại bệnh ư? Ba chương mỗi chương đều có hai: trước phát ra ánh sáng, sau là lợi ích.
Nói đại Bi xông ướp vào tâm, đức của Phật vô lượng, đâu chỉ có đại Bi. Văn trên nói: “chư Phật ba đời đều lấy đại bi làm gốc, từ bi như thế, nay ở đâu?” Nay để đáp lời này nên nói: “Đại bi xông ướp vào tâm”. Trước cũng có phát ra ánh sáng nhưng không nói hơn trăm ngàn mặt trời, chính là vì hiện bệnh, chẳng phải thật bệnh mới có thể phát ra ánh sáng xé rách lưới nghi, dùng đại Bi xông ướp vào thân.
Từ câu “Tuệ thí cho chúng sinh v.v…” trở xuống là nói về lợi ích. Kế là, từ câu “Các tia sáng này v.v…” trở xuống là nói về lợi ích. Hoa làm lợi ích khắp cả ba đường. Như thế đã biết rõ hoa biểu thị
cho Giải thoát. Tám địa ngục lạnh giá, thì bốn địa ngục trước y cứ theo âm thanh, bốn địa ngục sau y cứ theo màu sắc. Khi người tội mới đến, thấy đầm hoa liền yêu thích mà vào, đây là từ cảnh được thấy mà đặt tên. Hoặc nói mầu sắc của địa ngục như bốn hoa.
Từ câu “Mỗi đóa hoa này v.v…” trở xuống là nói hoa Phật làm lợi ích, cũng có hai đoạn như trước.
Từ câu “bấy giờ tất cả, v.v…” trở xuống là đoạn ba nói về đại chúng cúng dường khuyến thỉnh. Y theo khuyến thỉnh, nghĩa là lúc trước thấy hiện bệnh nằm, e rằng sẽ Niết-bàn. Bây giờ, thấy ánh sáng biết chưa nhập diệt, nên mới thỉnh nói pháp. Trước là cúng dường sau là thưa hỏi.
Nói Kiền-đà, Hà Tây gọi là loài ma quỷ, thường khiến cho vai người bị đau. Ưu-ma-đà là loài quỷ làm cho người say. A-bà-a-la là loài quỷ khiến cho người cuồng loạn.
Thứ hai là nói kệ, khuyến thỉnh gồm ba mươi câu. Được chia làm hai: một, gồm có hai mươi tám câu đầu, là phần chính thỉnh; hai, là gồm hai câu và phần văn xuôi và tự sự của nhà dịch kinh.
- Văn thứ nhất có ba đoạn: 1/ Bốn câu là khởi thỉnh.
2/ Gồm hai mươi câu, giải thích ý thỉnh cầu. 3/ Gồm bốn câu là kết thỉnh.
Đoạn thứ nhất, như văn kinh.
Kế là hai mươi câu, chia làm năm: một, gồm bốn câu, nói vì bản thệ nên phải thỉnh.
Kế đến vì sợ đọa đường ác cho nên thỉnh.
Thứ ba, kẻ phàm phu ngu si chẳng biết cho nên thỉnh. Thứ tư, vì ban thí pháp cam lộ nên thỉnh.
Thứ năm, vì trị bệnh cho nên thỉnh. Kết luận lời thỉnh, như văn ghi.
Từ câu “Các đại chúng, v.v…” trở xuống là lời tự sự của nhà dịch kinh. Gồm có hai: một, thỉnh rồi thì im lặng.
Hai là nơi âm thanh vang đến.
Nói đến trời Tịnh cư, trời Tịnh cư là tột đỉnh của cõi Sắc, có hình thể có nhĩ thức, còn cõi Vô sắc chẳng như thế nên âm thanh chẳng đến. Trong phẩm tựa nói Hữu đảnh, v.v… Thí như thế gian Sinh thiên, Thiên tịnh thiên, lẽ ra nên nói Sinh tịnh cư, Vô lậu tịnh cư, Đệ nhất nghĩa tịnh cư, v.v...
Từ câu “Bấy giờ, Phật bảo v.v…” trở xuống là phần thứ tư của
phẩm nói rộng về vô bệnh, có hai:
1. Nói Như Lai không bị bệnh.
2. Nêu hạnh Bệnh để giải thích.
Văn thứ nhất có ba ý: một, là nói vô bệnh; hai, là nêu xưa để chứng cho nay; ba, nói hiện bệnh là phương tiện mật ngữ.
Ở đây, đầu tiên là khen ngợi Ca-diếp. Ca-diếp là người đứng đầu về thưa hỏi nên khen ngợi. Khen “Lành thay!” Là khen chung, bốn câu kế là khen riêng, tức khen điều đã đạt được và điều đã xa lìa. Lìa tức xa lìa duyên ác bên ngoài và nhân ác bên trong. Được tức là được nhân lành bên trong và duyên lành bên ngoài.
Thứ hai, từ câu “Này thiện nam, v.v…” trở xuống là nói ta từ lâu đã không bị bệnh này.
Quá khứ vô lượng là nêu việc xưa để chứng minh cho việc nay.
Thứ ba, Từ câu “Như nói Như Lai v.v…” trở xuống là nói về việc hiện bệnh chính là phương tiện mật ngữ. Trong đó, nêu mười hai mật ngữ, mười một việc đầu là nêu loại.
Một việc sau là hợp với vô bệnh.
Từ câu “Ca-diếp! Thế gian có ba hạng người v.v…” trở xuống là đoạn thứ hai nêu bị bệnh để đối với vô bệnh, người như thế là bị bệnh, Phật chẳng như thế há lại có bệnh ư? Văn có hai: trước là nói về ba hạng người, sau là nói về năm người bệnh, trong đó có ba người bệnh khác với người bệnh nêu ở trước. Ba người bệnh ở trước chẳng chữa lành được. Nay ba người là chẳng chữa lành, chẳng lành và lành, đều chữa lành.
Nói vì lợi dưỡng, vì xúc xiểm, vì dối người mà biên chép, thọ trì kinh này, ý nghĩa khác xa với văn trước, đâu thể không thọ không trì, không cho người phá giới đọc tụng. Đây là yếu chỉ cho và đoạt. Đầu tiên nêu ba hạng người không thể chữa trị là khai trừ ba; hàng trị lành và chữa lành cũng tức là chưa nghe; nói đều chữa lành tức chai ra sáu việc như vì sợ hãi, vì lợi dưỡng v.v… Y cứ theo năm Pháp sư hợp với ba mươi loại. Lại chia thành năm người bệnh, hợp thành ba mươi tám loại, v.v...
Đã nói gặp duyên thì lành bệnh, không gặp duyên thì chết, tức là bốn quả Thanh văn và Duyên giác. Tất cả các vị này mang bệnh mà tu hành nên gọi là có bị bệnh mà tu hành. Bồ-tát còn ở nhân vị cũng nên lệ theo đây. Như các hạng người này, có thể nói bị bệnh. Phật đã dứt trừ hết các hoặc tức là không còn bệnh. Sơ quả dứt ba kiết là ngã kiến, nghi và giới thủ. Bảy lần sinh vào trời người là nói lược, nếu nói rộng là
gồm mười bốn, hai mươi tám lần. Văn ở đây ghi tám muôn kiếp thành Bồ-đề, văn sau ghi tám muôn kiếp mới phát tâm Bồ-đề, cần phải hội thông hai văn đều nói một vị. Quả thứ ba dứt trừ năm hạ phần, tức là phiền não ở cõi Dục gồm tham, sân, ngã kiến, nghi và giới thủ. Đây là năm kết ở hạ phần. Bậc A-la-hán ra đời gặp Phật hoặc không gặp Phật, nên chẳng phải hạnh Độc nhất. Bích-chi-phật chắc chắn ra đời vào thời không có Phật, nên gọi là hạnh Độc nhất.
--------------------------------
PHẨM 19: THÁNH HẠNH (PHẦN 1)
Phẩm này nói về bốn môn: thứ tự, thích danh, gốc ngọn và thuyết chẳng thuyết.
Thứ tự: Hà Tây cho rằng trước là môn nói rộng lược về quả Niết- bàn, kế là năm hạnh nói về tu nhân Niết-bàn, sau là muời đức nhóm họp công đức khuyên thực hành nhân. Xưa cho rằng: Năm hạnh là nói về nhân, mười đức nói về quả. Khai Thiện cho rằng năm hạnh là nói về năm hạnh hữu, mười đức nói về hạnh không. Ở đây cho rằng chẳng phải ý nghĩa như thế. Hà Tây y cứ theo văn “từ quả nói nhân” thuộc về nghĩa thừa nhiếp không liên quan. Vì sao? Vì trước nói về quả viên cực, còn năm hạnh thì nói nhân thứ bậc, vuông tròn chẳng đồng loại, nên nghĩa chẳng hợp. Còn các sư xưa cho năm hạnh là nhân, lẽ ra chẳng nên nói việc làm của Phật là hạnh Thánh. Nếu nói mười đức là quả thì cũng chẳng nên nói Bồ-tát tu hành kinh đại Niết-bàn được mười công đức. Vả lại, năm hạnh chẳng phải viên nhân, mười đức chẳng phải cực quả nên chẳng thành thứ tự.
Khai Thiện nói năm hạnh là hữu cũng chẳng đúng. Hạnh Thánh là khai đạo pháp không. Hạnh Phạm là tu mười một “không”, trụ trong giai vị bình đẳng. Hạnh Trời là lý Đệ nhất nghĩa. Hạnh Trẻ thơ thì chẳng đến chẳng đi. Hạnh Bệnh là mật ngữ của Như Lai, như thế đâu chỉ là nghĩa của hạnh hữu.
Nói mười đức là nghĩa “không” thì cũng chẳng đúng. Mười là số lượng của pháp. Xưa chẳng được, chẳng nghe, chẳng biết, nay được nghe biết, đã nghe một câu, nửa câu thì thấy được chút Phật tánh, đâu chỉ một bề y cứ theo hạnh “không”.
Ở đây nói thứ tự: nghĩa là trước do thọ thực mà nói chẳng thọ thực để giảng rộng về đại bát Niết-bàn thí rồi. Nay nhân nơi bệnh mà nói về chẳng bệnh. Bệnh có ba thứ; một là chẳng thể chữa trị; hai là phải chữa trị mới lành; ba là chẳng cần trị. Chẳng thể chữa trị hay chẳng cần chữa trị đều chẳng cần phương thuật.
Dùng cách trị bệnh có hai: một là theo thứ tự; hai là không theo thứ tự. Chữa trị theo phương pháp này thì gọi là tu hành. Vì có tu cho nên có chứng, có chứng nên có mười công đức, có công đức cho nên không bệnh, không bệnh cho nên thể hiển bày, thể hiển bày nên thấy tánh, thấy tánh cho nên cùng khắp pháp giới, thâu nhiếp tà ác, thâu nhiếp tà ác xong thì phó chúc, thiêu thân, phân bố xá-lợi. Nếu theo nghĩa này thì khéo thành thứ lớp.
Giải thích danh từ: văn kinh ghi: “Thánh là việc làm của chư Phật Bồ-tát, cho nên gọi là hạnh thánh”. Câu này có hai ý: một là việc làm của Bồ-tát tức là hạnh thứ lớp; hai là việc làm của chư Phật tức chẳng phải thứ lớp. Đó là nói “có một hạnh tức hạnh Như Lai”, nay gọi chung là hạnh thánh. Nghĩa này chưa rõ cần phải phân biệt giải thích. Vì sao? Vì Thánh là chánh, còn việc làm của Bồ-tát trước cạn sau sâu, chân chẳng biết tục, tục chẳng biết trung. Tức là thiên mà chẳng phải chánh, nhưng gọi chung là hạnh Thánh thì chưa phải là ý riêng. Như nói có một hạnh là hạnh Như Lai, thì một hạnh tức tất cả hạnh, một trí là tất cả trí. Cho nên biết viên hạnh gọi là Thánh, gọi là chánh. Vì thế trong văn kinh nói kinh Đại thừa này gọi là Phật thừa, Phật thừa này là tối thắng tối thượng, bậc căn tánh viên mãn tu hạnh Như Lai ở Phật thừa này.
Kinh Pháp Hoa nói: “Phật tử hành đạo rồi, đời sau thành Chánh giác” chính là nghĩa này. Văn kinh có hai đoạn là giải thích chung và giải thích riêng. Mọi người phần nhiều theo cách giải thích chung mà không biết cách giải thích riêng. Nay từ ý riêng giải thích nên gọi là hạnh Thánh.
Nói hạnh Phạm, Phạm tức là thanh tịnh, vào các hữu, đồng với trần tục, đây là y cứ theo công năng mà giải thích tên nên gọi là hạnh Phạm. Hạnh Trời là y cứ theo đế lý để đặt tên. Hạnh Trẻ thơ là y cứ theo dụ để đặt tên. Hạnh Bệnh là y cứ theo đối trị mà đặt tên. Hạnh Như Lai là y cứ theo người cơ Viên đặt tên.
Nếu nói chung về hạnh, thì chẳng trụ gọi là hạnh, nghĩa là tự chứng ngộ chẳng dính mắc, lại khiến người cũng chẳng trụ nên gọi là Hạnh. Văn kinh nêu năm hạnh, một hạnh, mà Thánh hạnh là đầu tiên, nay y cứ theo đầu tiên mà đặt tên, nên gọi là hạnh Thánh.
Cành gốc: Có người cho rằng hạnh Bệnh là gốc, từ bệnh sinh ra bốn hạnh kia, nghĩa này không đúng. Người này thấy văn nói về hạnh Bệnh ở trước mà cho là gốc. Đây chỉ là đọc văn, đâu liên quan gì đến suy nghĩa. Vì sao? Vì bệnh đồng với nghiệp ác của người, thuộc về cành lá, sao lại lấy ngọn làm gốc? Văn kinh ghi: “Bồ-tát trụ trong đại Niết- bàn chuyên tu tập năm hạnh, thế thì Niết-bàn là gốc. Nói Niết-bàn tức là hạnh Trời, duyên vào Niết-bàn mà hóa tha thì gọi là hạnh Phạm. Lý Niết-bàn đã hiển bày, nương vào lý tự tiến tu thì gọi là hạnh Trời; nương vào lý mà hóa tha đồng với điều lành gọi là hạnh Trẻ thơ, đồng với ác thì gọi là hạnh Bệnh. Như thế thì chẳng lấy hạnh Trời làm gốc ư, mà lại bỏ theo ngọn?
Có Sư cho rằng năm hạnh đồng là hạnh Bệnh, dẫn văn cho rằng:
“Năm hạng người này đều bị bệnh mà tu hành, chỉ có Phật mới vô bệnh”, nghĩa này chẳng đúng. Năm người bị bệnh tu tập hạnh thánh để trừ bệnh của mình thì đâu thể nói là hạnh Bệnh, chỉ có Phật vô bệnh mới hiện được hạnh Bệnh. Nếu theo thứ lớp năm hạnh, thì hạnh Bệnh ở sau; nếu y cứ theo nghĩa một hạnh tức năm hạnh, thì một hạnh Bệnh có năm hạnh Bệnh. Ngài Ca-diếp suy về Phật, vì Phật vô bệnh tức là hạnh thánh, suy quả vô bệnh tức là hạnh Trời; đại bi huân kết vào tâm tức là hạnh Phạm; giống như đứa trẻ kia tức là hạnh Trẻ thơ; và như người thường bị bệnh tức hạnh Bệnh. Một đầy đủ năm gọi là viên hạnh, là hạnh Như Lai, bốn hạnh kia cũng giống như thế. Nếu nói theo chung riêng thì cũng lấy hạnh Trời làm chung, bốn hạnh kia là riêng. Tuy giải thích như thế nhưng chẳng trọn vẹn.
Có người cho năm hạnh là nhân, một hạnh là quả, nghĩa này chẳng đúng. Đã đều gọi là hạnh thì đâu thể phán định nghiêng về một bên. Có Sư cho rằng năm hạnh là riêng, một hạnh là chung, một chia thành năm, năm gom thành một, gom chia khác nhau, lý tuy như thế, mà hạnh chẳng phải như thế. Cảnh giới chư Phật thì Nhị thừa và Bồ-tát chẳng thể biết được. Trên thì có thể gom hoặc chia cảnh dưới, dưới chẳng thể chia cảnh trên.
Phẩm này nêu tên năm hạnh nhưng chỉ nói ba hạnh, không nói hai hạnh còn lại. Vì sao? Vì hạnh Trời là hạnh chung, là gốc của các Thánh, ý này có thể thấy cho nên xa chỉ tạp hoa.
Nay nói thêm rằng: “Vì trong Tạp hoa từ đầu đến cuối chưa đầy đủ các nghĩa sự lý, hạnh nguyện, nhân quả của Bồ-tát thiên viên, chẳng bằng chỉ cho kinh, khiến nhờ sự chỉ bày mà tìm về xưa, thấy văn rộng ấy chẳng vượt khỏi nhất lý. Sơ trụ trở lên là hạnh của các vị trời nên gọi là hạnh Trời; hạnh tức là trời cho nên gọi là hạnh Trời; vì các vị trời tu hành cho nên gọi là hạnh Trời; nhân nơi trời mà hành tiến tu nên gọi là hạnh Trời; xa chỉ cho trời nên gọi là hạnh Trời. Có chung có riêng, suy nghĩ sẽ tự biết.
Hạnh Bệnh, thì trước đã hiện nói, sau khi chứng đạo tự hiện rõ, cho nên không nói hai hạnh ấy, chỉ nói ba hạnh mà thôi. Nay nói thêm rằng: “Đã chẳng nói hai hạnh thì hoàn thành hiện phẩm chưa có”. Nếu thế thì nên nói kết luận phẩm trước phát khởi phẩm sau. Bệnh và vô bệnh kết luận cho nhau. Trước nói thường là trả lời câu hỏi của ngài Ca-diếp, nói hành nhân quả tức là khởi phẩm sau. Nếu chẳng thế thì chỉ nói bốn hạnh, chẳng nói một hạnh.
Văn phẩm được chia làm ba:
1/ Nêu cả năm và một.
2/ Giải thích cả năm và một. 3/ Kết luận về năm hạnh.
- Trong phần một trước nêu hạnh thứ lớp. Gồm có bốn: 1/ Nêu người tức là Bồ-tát.
2/ Nêu pháp sở duyên, là đại Niết-bàn. 3/ Nêu tên tức thứ lớp năm hạnh.
4/ Kết khuyến, nghĩa là có trị thì lành, không trị thì chẳng lành, vì thế cho nên khuyên.
Nêu hạnh chẳng thứ lớp, gồm có ba: một, nêu tên hạnh tức là nói “lại có một hạnh.” Hai, nêu người chẳng theo thứ lớp, tức là Như Lai. Ba vì nhân hạnh của Như Lai, tức là người ở địa vị nhân.
Đại thừa là viên nhân, Niết-bàn là viên quả, tức ngay nơi nhân là quả đầy đủ không thiếu, đó là một hạnh tức tất cả hạnh. Vì người này sẽ hết bệnh, cho nên không khuyên.
Hỏi: Hai hạnh năm và một đều duyên Niết-bàn, nghĩa ấy thế nào?
Đáp: Tuy đều duyên Niết-bàn, nhưng lập hạnh có khác. Một là duyên Niết-bàn, nên lấy Niết-bàn làm hạnh, mỗi hạnh đều là Niết-bàn, mà có thiên viên. Người chẳng thấy nghĩa này mà vọng nói nhân quả, gom chia, thật là lầm lẫn.