ĐẠI BÁT-NIẾT-BÀN KINH SỚ
QUYỂN 26
PHẨM 23: SƯ TỬ HỐNG (PHẦN 3)
Đầu quyển là đoạn ba nói về buộc và thoát. Chúng sinh tuy đều có Phật tánh, nhưng bị các hoặc che lấp, nên chẳng thấy, cần phải tu tập muôn hạnh, sinh giải, dứt hoặc thì lý Phật tánh mới hiện. Vì thế mới nói về buộc và thoát.
Toàn văn có ba phen hỏi đáp. Phen thứ nhất, về hỏi, gồm có hai phần là lãnh chỉ và nói không có.
Kế là từ câu: “Năm ấm này v.v...” trở xuống là dùng sinh diệt để hỏi. Nếu chánh tánh bất sinh bất diệt thì không buộc không mở; như duyên nhân niệm niệm chẳng dừng trụ lại cũng chẳng có buộc mở. Tánh thế của hoặc này thoạt khởi thoạt diệt, làm sao trói buộc chúng sinh? Đã không buộc thì cũng không có mở. Gồm có pháp, dụ và hợp.
Lời đáp có hai: Một, là khuyên nghe và hứa đáp.
Kế là chánh đáp. Lại có hai phần: Trước nói về buộc, sau nói về mở. Nói về buộc có ba ý: Một là Tử ấm, hai là Trung ấm, ba là Sinh ấm; trong văn nói Tử ấm lại có pháp, dụ và hợp. Thứ nhất là pháp thuyết, như văn kinh ghi.
Mặt trời lặn về Tây, ánh sáng sắp tắt của mặt trời chiếu về Đông, chẳng bao giờ trở về Đông, mạng người sắp hết, tuy còn chút khí lực, nhưng chẳng thể sống lại. Năm ấm này diệt rồi, thì năm ấm sau lại tiếp tục sinh. Đây là dùng tử để nói sinh.
Từ câu: “Nghiệp quả v.v...” trở xuống là hợp dụ. Trước là chánh hợp dụ.
Thứ hai, lại dẫn dụ để chứng minh.
Từ câu: “Như ấn sáp v.v...” trở xuống là đoạn hai, nói về Trung ấm. Có dụ và hợp.
Sáp dụ cho Tử ấm, đất sét dụ cho Trung ấm, ấn hoại dấu hiện dụ cho Tử ấm diệt thì Trung ấm liền sinh. Dấu chẳng phải từ đất xuất
hiện tức thân này chẳng từ Trung ấm sinh, chẳng phải không có nhân, cũng chẳng phải từ nơi khác đến, chỉ nhờ vào Tử ấm diệt mà xuất hiện. Chẳng thể tìm được nơi chốn của nó, chỉ do nhân duyên mà có.
Hỏi: Có trường hợp nào chẳng thọ thân Trung ấm hay chăng?
Đáp: Nói chung thì đều có thọ, như Đại Lý Tự (ngục) phán định hình án; Trung ấm cũng giống như thế, phán định thiện ác, nếu ác thì đọa, thiện thì thăng cao. Nếu nói riêng thì tùy theo thiện ác mạnh, như gây ra năm tội nghịch thì đọa thẳng vào địa ngục, thực hành mười điều lành thì sinh thẳng lên cõi trời, như mũi tên rời khỏi tay liền đến phương kia, vì thế chẳng nói về Trung ấm.
Từ câu: “Ấm hiện tại diệt v.v...” trở xuống là hợp dụ: Thứ nhất là chánh hợp, kế là nói hai loại mắt, ba là nói về thức ăn. Thứ nhất lại có hai ý: Đầu tiên là chánh pháp.
Nêu dụ để hợp dụ.
Thứ hai là phân biệt hai thứ mắt, ba loại thức ăn.
Không có Sủy thực, là đã thay đổi báo thân thì đâu có cơm để nắm thành viên. Đã có tưởng ấm thì có tư thực, có thân nên có xúc thực, có ý nên có thức thực. Trong luận Câu-xá có nói rộng về Trung ấm v.v... Người xưa có nói về chương Tứ Thực, nhưng ở đây thì không quan trọng.
Nếu nói chung thì sáu đường đều có sinh ấm. Ở đây y cứ theo cõi người, nên đầu tiên nói khởi ba phiền não, kế là nói bốn điên đảo, vì thế mới bị trói buộc. Chẳng được hỏi rằng: Vì niệm niệm diệt nên không có trói buộc. Ba phiền não là ái, sân và cho rằng mình có, đây là ngã kiến, cũng gọi là Si.
Từ câu: “Người này v.v...” trở xuống là đoạn hai, nói về Giải thoát.
Đoạn trên nêu bốn pháp là gần gũi, nghe pháp, suy nghĩ và tu hành, như văn kinh có nói.
Từ câu: “Bồ-tát Sư Tử Hống v.v...” trở xuống là phen hỏi đáp thứ hai. Trước là hỏi, có hai đoạn: 1/ Lập nghịch dụ, nêu trong hư không chẳng có gai, sau nêu ấm không trói buộc.
Ở trên Bồ-tát Đức Vương nói: “Tâm vốn không tham, làm sao tham dục buộc được tâm?” Tức là nghĩa này.
Phật đáp có hai là pháp và dụ. Thứ nhất nói theo lý thì vì nối nhau nên chẳng dứt, vì hư hoại nên vô thường, chẳng đoạn chẳng thường, chẳng buộc chẳng mở, nếu chưa đạt được lý này thì có buộc có mở.
Nêu lên, nắm tay, nếu y cứ khi bàn tay hợp thì nói là nắm; khi bàn
tay rời thì nói là mở. Vốn khi chẳng hợp thì nói chẳng nắm chẳng mở. Vốn khi chẳng hợp thì nói chẳng nắm chẳng mở. Ba pháp như trói buộc, v.v... là thuộc ý này. Buộc là nói theo Giả, mở là nói theo Chân, chẳng buộc chẳng mở là nói theo Trung đạo. Đó là tướng ba Đế tức nhau.
Từ câu: “Bồ-tát Sư Tử Hống v.v...” trở xuống là phen hỏi đáp thứ ba, trước hỏi sau đáp.
Câu hỏi này gồm thâu cả câu đáp ở trên để lập ra. Ở trên nói danh sắc trói buộc chúng sinh, chúng sinh lại trói buộc danh sắc, danh sắc chỉ là chúng sinh, làm sao tự trói buộc được, như đao chẳng tự cắt. Cho nên bây giờ lại hỏi: Nếu chúng sinh chỉ là danh sắc thì lại là danh sắc trói buộc danh sắc, vì sao nói danh sắc trói buộc chúng sinh?
Từ câu: “Bồ-tát Sư Tử Hống v.v...” trở xuống là phen hỏi đáp thứ tư, như văn kinh có ghi.
Trong phần đáp có pháp, dụ và hợp. Thứ nhất, là pháp thuyết.
Bậc A-la-hán, hạt giống trói buộc đã tiêu nên không bị trói buộc, nhưng quả báo vẫn còn nên có trói buộc. Nhưng nói chưa thấy Phật tánh là vì nhìn từ Đại thừa thì Tử và quả đều là buộc, còn Tiểu thừa thì chẳng phải như thế.
Kế là dụ và hợp, như văn ghi.
Từ câu: “Bồ-tát Sư Tử Hống v.v...” trở xuống là phen hỏi đáp thứ năm, trước hỏi sau đáp.
Ý hỏi là: ở trước, Đức Phật dụ đèn là chúng sinh, dầu dụ cho phiền não, nay hỏi về lời này, có hai cách giải thích: 1/ Cho rằng đèn soi thấy các pháp; ánh sáng, dầu và vật hợp thành đèn sáng. Ánh sáng gọi là ánh sáng đèn, vật thì gọi là đèn; 2/ Cho rằng ánh sáng và dầu khác nhau, là lấy ánh sáng làm đèn, đèn thuộc về tánh lửa, dầu là tánh ướt. Ở đây muốn dùng ý sau để hỏi đèn và dầu, hai tánh khác nhau; còn chúng sinh và phiền não thì chẳng khác, vì sao lại dụ như thế?
Phật đáp đầu tiên nêu tám dụ, sau hợp với dụ về đèn. Tám dụ được chia làm hai: Trước là nêu chương, kế là giải thích.
Từ nhỏ hướng đến lớn là thuận dụ, từ lớn trở về nhỏ là nghịch dụ; hiện là dùng việc ở hiện tại làm hiện dụ. Các dụ thuận nghịch ở trước cũng là việc hiện tại; trừ hiện sự của dụ thuận nghịch, còn các hiện sự khác đều chẳng phải cùng một loại; đầu tiên là trước dụ sau hợp; sau đó tức trước nêu pháp, sau nêu dụ. Tiên hậu dụ (dụ trước sau) thì có thể tự hiểu. Biến dụ là dụ từ khi khởi đầu cho đến lúc cuối cùng.
Từ câu: “Bồ-tát Sư Tử Hống v.v...” trở xuống là đoạn lớn thứ tư nói về Tu đạo. Đã bị trói buộc, làm sao để thoát? Cho nên mới nói về tu
đạo để thoát khỏi sự trói buộc. Văn có bốn phen hỏi đáp: Thứ nhất nói đạo để tu, thứ hai chánh thức nói về tu đạo, thứ ba nói về dụng của Tu đạo, thứ tư là khuyên tu. Bốn việc này theo thứ lớp như sau: Các pháp tuy rốt ráo “không’, nhưng có đạo để tu, cho nên có chánh tu, tu thì dứt hoặc, vì thế khuyên tu. Phen thứ nhất có ba câu hỏi đáp.
Đầu tiên là hỏi năm ấm và chúng sinh, nhân pháp đều “không”, vì sao lại có tu?”
Phật trả lời các tâm đều niệm niệm nối nhau chẳng dứt, tuy niệm niệm diệt, nhưng phiền não mãi mãi lúc nào cũng nối nhau, cho nên có tu.
Vì thế, thứ hai lại hỏi niệm niệm diệt thì đâu cần tu đạo?
Phật đáp tuy có niệm niệm diệt, nhưng cũng được nói về tu đạo; như đèn sáng tuy niệm niệm diệt mà phá trừ tối tăm.
Từ câu: “thầy nói v.v...” trở xuống là dùng ý nghĩa để giải thích.
Thầy nói không lớn thêm thì chẳng đúng. Lại nêu sáu dụ, đều nói có lớn thêm.
Phen hỏi thứ ba, lại gồm thâu sáu dụ để hỏi: Tuy niệm niệm diệt mà phá được tối tăm v.v... tu đạo cũng như thế, đầu tiên tuy chưa viên mãn, nhưng lâu ngày sẽ phá được hoặc. Bồ-tát Sư Tử Hống nhân các dụ ấy mà hỏi: Như hàng Sơ quả có năm ấm thiện lẽ ra phải tương tự nối nhau sinh vào cõi nước thanh tịnh, chứ đâu thể sinh vào nhà mổ dê ở cõi nước ác?
Đức Phật đáp rằng tuy sinh vào cõi nước xấu ác, nhưng chẳng mất tên, tên tức vô lậu, vô lậu thì thường hằng còn mãi, còn ấm thì chẳng như thế, thiện ấm hay ác ấm đều do nghiệp mà có, chẳng phải do pháp vô lậu vời lấy. Đức Phật trả lời là chẳng nương tựa, tuy sinh vào cõi nước ác mà chẳng làm ác là do năng lực vô lậu giữ gìn.
Trong phần trả lời, trước là pháp thuyết.
Nêu cả sáu dụ: Hương sơn dụ cho thân đầu tiên, Sư tử dụ cho kiến đế vô lậu, núi Tuyết dụ cho năm ấm ác, chim thú dụ cho các pháp ác. Lại Hương Sơn dụ cho ấm thiện, núi Tuyết dụ cho ấm ác, chim thú ở núi Tuyết đều chẳng dám ở, là dụ ở trong hai cõi nước thiện ác đều chẳng sinh pháp ác. Ở đây thiếu nghĩa của hai nhân tập và báo. Tập nhân thì chủng loại tương tự, thường sinh, chẳng bao giờ làm ác; còn báo nhân dẫn dắt đến quả dị loại, nên đọa vào cõi nước ác. Người là dụ cho vị Tu-đà-hoàn, sản nghiệp to lớn dụ cho kiến đế vô lậu, có khả năng dứt hoặc; chỉ có một người con dụ cho Sơ quả. Vả lại, trong hai đạo kiến tư chỉ có kiến đạo, nên nói “chỉ có một người con”; chết sớm là dụ cho
kiến đế vô lậu chẳng hiện tiền, xuất quán thì chẳng có; nhờ tư duy vô lậu mà kiến đế sinh, cho nên nói người con ấy lại có một đứa con; tư duy vô lậu hướng về kiến đế nên gọi là “ở phương xa”; bỗng nhiên qua đời là dụ cho vị Tu-đà-hoàn bảy lần sinh đã hết; người cháu nghe tin trở về nhận lãnh sản nghiệp là dụ cho việc trong đạo suy nghĩ, lại thừa kế công năng của kiến đế ở trước. Tuy biết tài sản chẳng do đứa cháu làm ra tức nói kiến đế vô lậu chẳng phải vô lậu trong đạo suy nghĩ. Không ngăn cản là nói kiến hoặc tư hoặc tuy khác mà đồng là một vô lậu.
Từ câu: “Sư Tử Hống bạch rằng v.v...” trở xuống là đoạn hai, chánh thức nói về tu đạo; có hai, đầu tiên là nói về nhân duyên tu đạo, kế là nói về nhân duyên tu đạo, lại chia làm hai: Giải thích và luận ng- hĩa. Đầu tiên nêu kệ để hỏi. Hai câu đầu là tu đạo, hai câu sau là đắc quả; tu được ba phẩm thì được quả không lui sụt, ba phẩm là nhân gần, Đại Niết-bàn là quả. Thứ nhất nêu kệ để hỏi.
Trong lời đáp có ba phen giải thích: 1/ Chân ngụy đối luận; 2/ Chỉ nói phá ác; 3/ Chỉ nói sinh thiện. Chân ngụy đối luận có hai: Trước nói ngụy, sau nói chân.
Về ngụy có ba phẩm là: 1/ Hạ hạ tức một bề chẳng thể thọ trì giới cấm; 2/ Hạ trung tức sợ đường ác khổ nên giữ giới; 3/ Hạ thượng là vì độ thoát khổ não cho chúng sinh nên giữ giới. Cả ba đều là ngụy, nay y cứ theo ba hạng này còn chẳng đạt được.
Kế là nói về chân.
Biết các pháp không mà giữ giới; vì các chúng sinh mà cầu quả Phật, quả không thật có. Chúng sinh còn không huống chi là có quả Phật? Đó gọi là giữ giới chân thật.
Kế là nói phá mười sáu ác luật nghi; tức y cứ theo diệt ác, lại giải thích ba phẩm.
Khôi quái: xưa cho là người bán thịt cá, hoặc là người dùng gậy để đánh đập. Tam-muội Vô thân, vì tu không định diệt sắc, nên nói là vô thân. Vô biên tâm là định Thức xứ, Tịnh Tụ tức là chỗ Bất dụng. Thế biên tức phi tưởng định, định này biết được tám muôn kiếp và lấy đây làm bờ mé. Vả lại, Phi tưởng còn ở trong ba cõi nên gọi là Thế biên. Thế đoạn, nghĩa là ngoài tám muôn kiếp thì chẳng thể biết, liền cho là đoạn. Thế tánh tức là minh sơ, là bản tánh của thế gian. Thế trượng phu, tức là dùng sức định mà thấy được tướng trượng phu trong nước, tức là Tỳ-nữu. Phi tưởng Phi phi tưởng tức là trời quán Tồn vong, là thể của định.
Từ câu: “Người tu tập giới v.v...” trở xuống là đoạn ba, y cứ theo
sinh thiện để giải thích ba phẩm.
Các hữu tức ba hữu, hai mươi lăm hữu; các cõi tức ba cõi cho đến mười tám cõi; các đế là sáu đế cho đến hai mươi lăm đế.
Từ câu: “Bồ-tát Sư Tử Hống v.v...” trở xuống là đoạn hai, nói về nghĩa. Nhân trước nói tu đạo nên thấy Phật tánh được Bồ-đề Niết-bàn, nên nay gạn hỏi về Niết-bàn và Phật tánh. Gồm có bảy phen hỏi đáp, ba phen đầu hỏi về Niết-bàn, phen thứ tư hỏi về Phật tánh.
Đầu tiên nói chẳng sinh diệt là Niết-bàn, vậy thì phàm phu chẳng sinh diệt, lẽ ra cũng gọi là Niết-bàn. Phàm phu một đời từ sinh đến già chẳng còn sinh nữa nên nói là chẳng sinh, mà chưa diệt nên gọi là chẳng diệt, loại chẳng sinh diệt này có phải là Niết-bàn chăng? Lại nói rằng nếu dùng tướng sinh trong ba tướng để hỏi, như trong một niệm này, thì sinh đã sinh nên gọi là chẳng sinh, lại chưa diệt nên nói là chẳng diệt, nghĩa này có phải là Niết-bàn chăng?
Trong lời đáp, đầu tiên xác định, thuật lại lời hỏi, sau giải thích chẳng phải Niết-bàn, vì có thỉ chung. Lại cũng cần nói chung cho hai lời giải ở trên để thành nghĩa thỉ chung, tức nói mới sinh là thỉ, mạng hết là chung. Một niệm gồm ba tướng, trong đó tướng sinh cũng như thế; mới khởi là thỉ, niệm diệt là chung.
Từ câu: “Bạch Thế Tôn! v.v...” trở xuống là câu hỏi thứ hai.
Ở đây muốn nói rõ pháp sinh tử cũng không có thỉ chung, vì mười hai nhân duyên trôi lăn chẳng đừng trụ, thì làm sao có thỉ chung?
Phật trả lời pháp sinh tử có nhân quả, mười hai nhân duyên trôi lăn chẳng dừng trụ, hai nhân quá khứ sinh năm quả hiện tại, nên chẳng phải Niết-bàn.
Phen gạn hỏi thứ ba, ý muốn nói trong Niết-bàn cũng có nhân quả, tu tập Giới, Định, Tuệ đạt được Niết-bàn, đó há chẳng phải là nhân quả hay sao?
Phật đáp Niết-bàn có nhân mà chẳng có quả; lại là quả mà chẳng phải là sở đắc. Lại Phật tánh là nhân Niết-bàn mà chẳng sinh quả Niết- bàn.
Thứ hai gồm bốn phen hỏi đáp để nói về nghĩa Phật tánh, phen thứ nhất y cứ theo cộng hữu và bất cộng hữu để hỏi. Trước là nêu hai chương, sau là giải thích.
Phật trả lời, có pháp và dụ.
Nói chẳng phải một, nên chẳng cùng chung; chẳng phải hai, nên chẳng có riêng. Tuy thế, nhưng tất cả chúng sinh đều đồng có. Các sư Địa luận cho rằng: “Tất cả chúng sinh đồng một thức A-lê-da, là thể
tánh của pháp giới”, nếu thế thì một người được lẽ ra nhiều người cùng được! Các sư luận Thành Thật cho rằng: “Mỗi chúng sinh đều có Phật tánh, nhưng khi thành Phật thì quyền trí bình đẳng đồng nhất với Pháp thân, mười Lực, bốn Vô úy v.v... cũng như vậy”. Nếu thế thì Phật tánh có thể tính đếm, là vô thường, chính là gạn hỏi ý này. Nhưng Phật tánh bình đẳng chẳng phải một, chẳng phải hai, chẳng phải chung chẳng phải riêng; cũng như hôm nay, người tu hành giữ giới, chẳng phải một, chẳng phải khác, mỗi người đều tu thì đâu phải là một? Ta hiểu thì người hiểu, người hiểu thì ta hiểu, cho nên chẳng khác. Vả lại, năm loại Phật tánh chẳng phải một, chẳng phải khác, như chúng sinh bình đẳng đồng có, chẳng lẽ là khác ư? Năm loại khác nhau thì đâu thể là một?
Trong năm loại Phật tánh, chúng sinh có được mấy tánh? Đáp: Có chúng sinh có đủ và có chúng sinh chẳng có; chúng sinh không có trí quán thì không thể phát cảnh, không có trí phát cảnh cũng không có nhân cảnh quán, đã không có nhân thì đâu có quả và quả quả. Đã không có nhân quả, thì đâu có phi nhân phi quả. Nói chúng sinh có đủ là vì sẽ được, từ duyên mà hiện, nên nói có đủ, hôm nay tuy không, nhưng vị lai sẽ có.
Phen gạn hỏi thứ hai, nêu dụ cỏ nhẫn nhục.
- Nếu nói một người tu rồi thì những người khác cũng có được. Phật đáp Phật tánh là một, thuận theo nhiều người, ai tu thì được, không hề ngại nhau.
Phen hỏi đáp thứ ba.
Nếu như nhiều người đi trên đường thì người đi sau bị chướng ngại, Phật tánh cũng như thế, người tu trước chướng ngại người tu sau.
Phật đáp là như đường, cầu, thầy thuốc đều chỉ lấy một phần ng- hĩa, chứ con đường chánh đạo chẳng phải như thế.
Câu hỏi thứ tư.
Sáu đường thân tướng chẳng phải một, vì sao nói là cùng có một Phật tánh?
Phật đáp: Hòa thuốc độc vào sữa, mà năm vị đều có thể giết người, Phật tánh cũng như thế, cùng khắp tất cả mọi nơi.
Từ câu: “Bạch Thế Tôn! v.v...” trở xuống là đoạn hai, nói về nhân duyên tu đạo. Trước nói về duyên, sau nói về nhân. Nói duyên gồm có bốn xứ duyên, thời duyên và nhân duyên. Chẳng có xứ, chẳng có trời, chẳng có Thiện tri thức thì chẳng được, nên nói đợi thời, đợi xứ, đợi bạn. Xứ có hai là thành và cây, thành có hai, là trước hỏi, sau đáp.
Hỏi: Đã có sáu thành lớn, vì sao Như Lai đến thành nhỏ hẹp
này?
Đáp có hai: Trước quở trách, sau giải thích. Đầu tiên là quở trách
người hỏi.
Nơi Đức Phật cư trú chẳng nên nói là nhỏ hẹp. Nêu ba dụ để so sánh Như Lai là bậc tôn quý trong loài người, nơi cư trú của người quân tử đâu có nhỏ hẹp!
Từ câu: “Ta nhớ khi xưa v.v…” trở xuống là phần thứ hai, chánh giải thích, có hai ý: Báo ân đất, trừ tà đảng. Báo ân có ba ý báo đáp phát tâm, báo đáp bốn tâm vô lượng, báo đáp hoằng thệ.
Kế là trừ dẹp tà đảng, có hai: 1/ Cùng khắp sáu thành lớn; 2/ Nói đến đây hàng phục, đã rõ biết tà hết, chánh cũng hết, tức vắng lặng Niết-bàn; sáu thành gồm sáu chương. Thứ nhất là đến Vương xá.
Ngoại đạo não loạn dụ dỗ chúng sinh, khiến bị đọa vào ba đường ác, nên phải đến đó để đuổi trừ. Hơn nữa Vua có mời, Phật chẳng thể trái lời, nên đến thành Vương xá; ngoại đạo tự biết pháp thuật của mình cạn thấp, nên mới chạy đến Xá-vệ, Đức Phật nhân đó giáo hóa ba anh em Ca-diếp và hai vị Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên.
Từ câu: “Bấy giờ, v.v...” trở xuống là thứ hai, đến thành Xá-vệ đuổi ngoại đạo. Văn có hai đoạn: 1/ Nói nguyên do đến; 2/ Cùng thử thần lực, chánh thức nói về việc đến nơi ấy.
Các ngoại đạo ở thành Vương xá chẳng dám chống cự, nên đến thành Xá-vệ tìm cách đối luận. San-đàn-na, Hán dịch là Hộ di, người ở thành Vương xá. Kỳ-đà, Hán dịch là Thắng Thị; Tu-đạt-đa, Hán dịch là Thiện Ôn, người ở thành Xá-vệ.
Hỏi: Đức Phật vang tiếng khắp mười phương, Tu-đạt-đa là một trong sáu đại Cư sĩ, vì sao trong đêm cưới vợ cho con mới nghe danh hiệu Phật?
Đáp: Chẳng phải không nghe gì, nhưng như trong tiếng sóng gầm thét mà nghe, như qua bụi mù mịt mà thấy. Hôm nay khi căn cơ đối với đạo pháp đã thuần thục nên vừa nghe thì toàn thân nổi gai ốc.
---------------------------------
PHẨM 23: SƯ TỬ HỐNG (PHẦN 4)
Đầu phẩm là phần thứ hai nói về việc đến thành Xá-vệ tỉ thí thần lực. Văn có ba đoạn: 1/ Lý do tỉ thí; 2/ Chánh thức tỉ thí; 3/ Đại chúng được lợi ích. Thứ nhất được chia làm bốn: 1/ Xin tỉ thí; 2/ Vua chẳng cho phép; 3/ Xin một lần nữa; 4/ Vua bằng lòng. Sở dĩ xin tỉ thí, là vì lúc trước, khi còn ở thành Vương xá đã bị bác bỏ, nay lại đến thành Xá-vệ bị đoạt mất danh, không còn lợi lộc nên chẳng thể nhẫn nhịn được nữa, vì vậy tâu vua xin tỉ thí. Thứ nhất lại có hai: Một, khen vua, dùng lời gian xảo, giả hiện dung mạo thuần thiện. Hai, là chê bai Phật, ra sức phỉ báng.
Nói tuổi nhỏ, tức Đức Phật năm ba mươi tuổi thành đạo, nên bấy giờ có lẽ mới ngoài ba mươi; tu tập khổ hạnh chỉ sáu năm, nên nói học lực còn cạn cợt. Nói thật chẳng phải sinh trong dòng vua chúa, tức cho Phật là huyễn hóa. Nói: “Cướp đoạt cha mẹ của người”, Đức Phật dạy người lìa tục xuất gia tức là cướp đoạt con cái của cha mẹ, cũng là cắt đứt con cháu nối dõi, chẳng cho cưới vợ, tức là cướp đoạt cha mẹ của nhà người.
Từ câu: “Vua liền nói v.v...” trở xuống là ý thứ hai, vua không cho phép.
Từ câu: “Sáu vị giáo chủ ngoại đạo lại nói v.v...” trở xuống là ý thứ ba, lại xin tỉ thí.
Từ câu: “Vua nói v.v...” trở xuống là ý thứ tư, vua bằng lòng. Vua tuy đã tự ý cho phép, nhưng phải đến bạch lên Đức Phật.
Từ câu: “Phật nói rằng v.v...” trở xuống là đoạn hai, chánh thức tỉ thí, gồm có hai: trước bảo vua xây dựng nhiều Tăng phường.
Bấy giờ, ta vì sáu vị giáo chủ ngoại đạo kia nên từ ngày mồng một đến ngày mười lăm luôn hiện ra các thần thông biến hóa vô cùng ít có. Như kinh Hiền Ngu v.v... đã nói.
Ba là chúng đương thời được lợi ích.
Ở đây chẳng nói tranh luận qua lại, mà chỉ là thị hiện các việc kỳ lạ ít có, ngoại đạo thấy thần biến, tự biết chẳng bằng nên chạy đến thành Bà-chỉ-đa.
Hỏi: Vì sao chẳng tranh luận?
Đáp: Vì trong ba luân, thì Thần thông luân là thích hợp với lúc bấy giờ. Đại chúng và các môn đồ của ngọai đạo đã được lợi ích, còn sáu vị giáo chủ ngoại đạo thì chưa tin phục.
Từ câu: “Bấy giờ sáu vị giáo chủ ngoại đạo, v.v...” trở xuống là
đoạn ba, Phật lại dời đến thành ấy.
Hỏi: Phật có tâm đại bi, chẳng bao giờ não hại chúng sinh, vì sao lại truy đuổi sáu vị giáo chủ ngoại đạo khắp nơi chẳng dừng nghỉ?
Đáp: Vì muốn phá đổ dị kiến, cứu vô lượng chúng sinh ra khỏi đường tà, dứt trừ sinh tử trói buộc, để đạt được Đại Niết-bàn. Nếu đó chẳng phải là đại bi thương xót, thì lấy làm gì Từ bi đây?
Từ câu: “Sáu vị giáo chủ lại, v.v...” trở xuống là thứ tư, đến thành Tỳ-xá-ly.
Như Lai lại đến nước Tỳ-xá-ly nói các pháp môn cho Am-la nữ và các Ly-xa Tử. Đó là phu nhân Bình-sa mẹ của Kỳ-bà, có nhan sắc rực rỡ. Phật khuyên dạy các Tỳ-kheo quán thân niệm xứ; kế đến vì các Ly-xa mà nói về pháp chẳng buông lung, phá dẹp tâm kiêu mạn. Theo phép nước này, thường chọn người có trí năng làm chủ, còn những người khác thì tham gia luận nghị, cho nên dịch là Biên địa chủ, cũng dịch là Truyền tham quốc sự.
Từ câu: “Bấy giờ sáu vị giáo chủ ngoại đạo, v.v..” trở xuống là đoạn năm, đến thành Ba-la-nại.
“Sáu vị nghe việc này v.v...” trở xuống là đoạn sáu, chạy đến thành Chiêm-bà.
Từ câu: “Bấy giờ, sáu sư v.v...” trở xuống là đoạn hai, nói đến thành Câu-thi, đều bị truy đuổi, nên chẳng biết đi đâu. Chính là nói Câu-thi nhỏ hẹp, hãy tự giữ gìn mà ở, chẳng cho Phật đến. Văn có ba ý: Một là nói về tà giáo; hai, là chánh giáo; ba, là tà chánh luận nghị.
Đầu tiên khi ngoại đạo mới đến thành Câu-thi, vọng rao nói lỗi của Phật khiến mọi người sinh tà kiến. Văn ghi: “Mẹ là huyễn, thì con là huyễn”, câu này có nghĩa gì? Ý nói phép sinh của con người tự có pháp tắc thông thường, do nhân gì mà sinh từ hông bên phải, đó há chẳng phải là mẹ huyễn sinh con huyễn hay sao?
Thứ hai, Phật đến nói chánh pháp.
Dẹp tà về chánh, thì tà chánh mỗi thứ đều có hành pháp khác nhau.
Từ câu: “Bấy giờ sáu vị giáo chủ, v.v...” trở xuống là đoạn ba, tà chánh hợp luận. Gồm bảy phen hỏi đáp: sáu phen trước là chinh thức lu- ận nghị, một phen sau là hàng phục, phen thứ nhất trước lập nghĩa tà.
Cho kiến là ngã, tức là một trong sáu mươi hai tri kiến. Phật đáp phá, có ba: Một, là khiến sáu căn đều có tác dụng. Ở trên nêu hướng làm dụ, nay y theo đó mà hỏi, người ở tại một hướng thấy sắc, nghe âm thanh, đều nhận đủ sáu trần, nay các thầy nói ở mắt chỉ thấy sắc, chẳng
thể nhận đủ các trần, nên biết các ông nói chẳng đúng.
Kế là nói già trẻ chẳng khác.
Như đã nói “đối với hướng”, thì dù một trăm tuổi vẫn thấy bên ngoài rất rõ ràng. Nếu già, ngã ở trong nhãn căn thấy không bằng lúc trẻ, thì đâu cần dùng hướng để làm dụ?
Thứ ba là trong ngoài đều thấy.
Người đối với “hướng” thì trong ngoài đều thấy, ngã ở trong mắt, vì sao chẳng thấy bên trong?
Từ câu: “Sáu vị giáo chủ, v.v...” trở xuống là phen hỏi đáp thứ hai.
Đây không phải là câu hỏi chính, vì câu hỏi trước rất sâu, cho nên lại hỏi về ngã.
Từ câu: “Phật nói v.v...” trở xuống là lời đáp. Có ba ý: Một là nêu nhân duyên, hai là phá tà ngã, ba là kết luận nói chánh ngã.
Đây là lời đầu tiên, Đức Phật nói nhờ nhân duyên mà được thấy, sắc chẳng phải Ngã, thấy chỉ tạm tưởng thấy mà nói có thấy.
Từ câu: “Nầy sáu vị, v.v...” trở xuống là ý thứ hai, phá tà ngã, văn có ba: Một là nêu chẳng đúng như thế.
Thứ hai, từ câu: “Vì sao v.v...” trở xuống là nêu các lỗi.
Ngã lấy tự tại làm nghĩa, vậy chỉ nên tạo chủng tánh Bà-la-môn mà thôi, vì sao lại thọ thân sáu đường khác nhau? Sắc đã chẳng phải ngã thì thọ, tưởng, hành, thức đều vô ngã.
Từ câu: “Vì vô ngã v.v...” trở xuống là đoạn ba, kết luận nêu lỗi. Từ câu: “Này sáu vị, v.v...” trở xuống là kết luận nêu chánh ngã.
Văn có hai là lược chỉ bày và đối luận.
Ý đoạn này muốn nói: trước đã phá sắc, thọ v.v... vô ngã, thì kia lại hỏi: Như Lai có phải là sắc v.v... hay không? Nên nay sự nêu ý này trước là đáp rằng: Ngã của Như Lai chẳng bị sắc cho đến thọ, tưởng, hành, thức trói buộc, có đủ bốn đức, còn ngã mà các thầy nói đó thì chẳng tránh khỏi bốn nợ trói buộc.
Kế là lại kết luận, cũng cùng với ngoại đạo đối luận.
Ngoại đạo nói Ngã là từ nhân duyên, vì thế vô thường ngã của Như Lai chẳng phải từ nhân duyên mà được, nên có Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.
Từ câu: “sáu vị giáo chủ nói rằng v.v...” trở xuống là phen thứ ba, ngoại đạo đổi tông chỉ.
Hoặc cho rằng Bộ riêng của ngoại đạo chấp nghĩa “cùng khắp tất cả mọi nơi” là ngã, chẳng lấy sắc làm ngã.
Từ câu: “Đức Phật nói v.v...” trở xuống là Như Lai phá ý này. Gồm có hai phần: Đầu tiên y cứ vào nghĩa cùng khắp để phá, sau y cứ theo một khác để xem xét. Văn thứ nhất lại có hai lần “lại nữa”, lần thứ nhất là hỏi về nghĩa cùng khắp.
Ngã đã cùng khắp thì lẽ ra trước phải không thấy, lẽ ra phải thường thấy.
Kế là hỏi Ngã cùng khắp, lẽ ra phải khắp trong năm đường, vì sao lai sợ ba đường ác, lại vì muốn làm thân trời, người mà giữ giới làm lành.
Kế đến là y cứ theo một khác, trước nêu hai chương.
Kế là giải thích. Trước y cứ theo một để hỏi, như văn kinh có ghi.
Y cứ theo nhiều để hỏi, trong mỗi thân đều có một ngã; ngã là tự tại, vì sao có lợi độn, ngu trí khác nhau?
Từ câu: “Thưa Cù-đàm v.v...” trở xuống là phen thứ tư, ngoại đạo lại luận biện.
Ngã là một, cũng thường hằng cùng khắp, chúng sinh tu nghiệp thì có khác nhau nên nghiệp quả khác nhau.
Phật phá rằng: Ngã đã cùng khắp lại thường thì đâu có thiện ác đắp đổi nhau, mà lẽ ra tội phước cùng có. Cho nên nói “làm ác lẽ ra có thiện, làm thiện lẽ ra có ác”, nếu chẳng đồng có thì chẳng phải cùng khắp. Vả lại Ngã là tự tại, lẽ ra thiện ác tự làm.
Từ câu: “Thưa Cù-đàm v.v...” trở xuống là phen thứ năm, ngoại đạo lại luận biện, dùng đốt đèn làm dụ.
Tuy cùng một ánh sáng mà thể của mỗi ngọn đèn khác nhau, rốt cuộc Ngã thì cùng khắp, chỉ do thiện ác khác nhau mà thôi; như trong một ngôi nhà đốt một trăm ngọn đèn.
Phật lại phá: Trước nói chẳng phải như thế.
Kế là nêu ba loại để phá: Một từ duyên để phá; hai y cứ theo nơi ánh sáng xuất hiện khác nhau để phá; ba là y cứ theo sáng tối cùng trụ để phá.
Đầu tiên phá rằng: Ông dùng đèn dụ cho pháp, ánh sáng dụ cho ngã, ánh sáng do đèn, nếu nhiều dầu ở tim đèn thì ánh sáng mạnh; Nếu thế thì ngã do nghiệp, nghiệp hết thì ngã tiêu, nghiệp đã nhỏ hẹp thì ngã chẳng cùng khắp.
Thứ hai là hỏi về nơi chốn.
Ánh sáng từ đèn phát sinh, vậy ngã từ nghiệp mà có, thế thì ng- hiệp có ngã, chẳng phải ngã có nghiệp.
Thứ ba, nói ánh sáng đèn lúc đầu tiên thì ở chung một chỗ với tối.
Nếu thế thì ngã thường của thầy lẽ ra ở trong ngã vô thường; ngã vô thường lẽ ra ở trong ngã thường.
Từ câu: “Thưa Cù-đàm! Nếu vô ngã v.v…” trở xuống là phen thứ sáu, ngoại đạo lại hỏi. Phật đáp, có hai ý: trước phá tà ngã, Ngã đã là thường, vì sao có tạo tác, thường thi đâu có tạo tác. Dù cho có tạo tác, vì sao chẳng làm lành, mà có lúc lại làm ác? Thiện ác đã chẳng cố định, thì biết là vô thường.
Kế là nói chánh ngã. Tức là Như Lai thường trụ.
Phen thứ bảy, ngoại đạo quy phục Như Lai, là kết luận chương này, như văn kinh có ghi...
Từ câu: “Này thiện nam! v.v…” trở xuống là phần hai, nói về nơi chốn của cây Ta-la. Văn có hai: Đầu tiên là kết văn trước, khởi văn sau; kế là nói về nơi chốn. Thứ nhất như văn kinh.
Từ câu: “Một cặp ở phương Đông”, v.v… trở xuống là thứ hai, nói về nơi chốn của cây. Có ba ý: một, là biểu thị nghĩa lý; hai, là hộ pháp; ba, là lợi ích của pháp vị. Thứ nhất là biểu thị nghĩa lý.
Lý là bốn đức. Ý nói dùng hướng Đông biểu thị cho thường và vô thường? Có người cho rằng thuận theo mà lấy một việc, không có mục đích nào khác. Cũng có thể lấy hướng Đông biểu thị cho lạc và không lạc. Hà Tây cho rằng: Hai cây khô biểu thị cho thân ứng hóa diệt, hai cây tươi tốt biểu thị cho Pháp thân thường còn. Nhưng cây Bồ-đề cũng có một gốc khô một gốc tươi, đến khi Phật pháp diệt thì hai gốc đều khô. Nếu thế, cần gì phải nhất định phá thường và vô thường? Nhưng Đức Phật tùy duyên, ứng hóa đều có nguyên do. Hà Tây cho rằng hai gốc phương Đông biểu thị cho thường và vô thường, vì các ngoại đạo tôn thờ trời Đại Tự Tại trụ ở phương Đông, giáo hành ở phương Tây; nay Phật pháp phá vô thường của ngoại đạo, nên nói hai câu ở phương Đông biểu thị cho Thường và Vô thường. Hai cây ở phương Nam biểu thị cho ngã và vô ngã, vì Nam là phương bên phải, tay phải thì thuận, dụ cho dụng của ngã tự tại. Phương Tây biểu thị cho lạc, vì phương Tây tu hành Phật giáo được an vui, biểu thị cho sự an vui của Phật pháp. Phương Bắc biểu thị cho tịnh, vả lại đó là nơi xuất gia, cho nên biểu thị cho sự thanh tịnh trong Phật pháp. Lại nói trời Đại Tự Tại, mặt hướng về Đông, tay phải thuộc phương Nam; đều biểu thị cho ý nghĩa phá bốn điên đảo của ngoại đạo, đạt được bốn đức của Phật pháp; cho nên lập ra cách phối hợp này.
Từ câu: “Này thiện nam! v.v...” trở xuống là ý thứ hai, hộ pháp. Trước nêu Sự, sau nói về Lý. Sự là dưới cây Ta-la mà nhập Niết-
bàn, bốn vị Thiên vương thường giữ gìn cây này, chẳng để người ngoài chặt phá cành lá. Ngày xưa, Thiệu Bá ngồi dưới cây tiểu thường mà thành Tiên, người đời sau vẫn còn bảo vệ cây này, huống chi Ta-la song thọ của Như Lai.
Từ câu: “Ta-la song thọ v.v...” trở xuống là đoạn ba, nói lợi ích của pháp vị.
Trước là dụ, sau là hợp giải thích. Hoa quả: Hoa nở tô điểm, người thấy sinh tâm ưa mến dụ cho pháp thân vắng lặng thường trụ không thay đổi. Dùng hoa biểu thị cho Ngã, quả biểu thị cho Lạc, vì chúng có vị ngon ngọt, đầy đủ sắc và hương, người thấy, ngửi, xúc chạm, ăn vào đều ưa thích, Pháp thân cũng như thế, tất cả chúng sinh đều đồng có tánh lạc này.
Từ câu: “Bố-tát Sư Tử Hống v.v...” trở xuống là đoạn hai, nói về thời duyên, có hai ý: một, là nói về tháng hai; hai nói về ngày mười lăm. Thứ nhất có hỏi và đáp.
Đáp có hai ý: Một là nêu dụ để nói về Sự; hai, là hợp dụ để nói về Lý. Thứ nhất:
Nếu nói theo lịch nhà Hạ thì thuộc tháng hai, nếu theo lịch nhà Châu thì thuộc tháng tư, bấy giờ chúng sinh đều nghĩ là thường và rất ưa thích; nên phá chấp trước, được ngộ đạo. Lại nói trong sáu thời, có hai cách giải thích: Hà Tây cho rằng ở Ấn-độ hai tháng là một mùa (thời), một năm có sáu mùa, thế thì ba mùa xuân, hạ và đông mỗi mùa đều có trước và sau. Kinh Kim Quang Minh chép rằng: Nếu hai tháng là một mùa thì một năm có sáu mùa; nếu nói ba tháng là một mùa thì một năm có bốn mùa. Ở đây nói hai tháng là một mùa, đầy đủ sáu mùa. Chiêu- đề cho rằng: Hai mùa Xuân và Đông mỗi mùa đều có mạnh, trọng và quý, nên nói là sáu thời, trong văn nêu Mạnh đông đối lại với Dương xuân, v.v...
Từ câu: “Tháng hai v.v...” trở xuống là hợp dụ để nói về lý.
Hai loại Pháp thân tức là chân thân và Ứng thân. Hà Tây cho rằng thân Thường và thân Vô thường đều thuận theo thế gian. Quả dụ cho bốn quả, lý thuyết cho rằng bốn quả Tiểu thừa, vì Đại bao gồm Tiểu. Có chỗ cho rằng đó là bốn đức.
Từ câu: “Bồ-tát Sư Tử Hống v.v...” trở xuống là ý thứ hai, nói về ngày. Trước hỏi, sau đáp.
Kinh Trường A-hàm nói mồng tám xuất gia, mồng tám nhập Niết-
bàn, ở đây nói ngày mười lăm, đó là do cơ cảm của chúng sinh mà thấy khác nhau, đó cũng là thân mật tự tại của Như Lai.
Đức Phật đáp: Một, là y cứ theo Bản, hai, là y cứ theo Tích. Thứ nhất, là muốn nói diệu bản viên mãn tột cùng , nên lấy ngày mười lăm làm dụ.
Từ câu: “ngày mười lăm v.v...” trở xuống là y cứ theo Tích.
Từ câu: “Bồ-tát Sư Tử Hống v.v...” trở xuống là đoạn ba, nói về người làm duyên: Trước nêu người, kế là nói nghĩa. Thứ nhất có hỏi và đáp.
Nói trang nghiêm; tức là người này phải có đủ đức, hạnh, trí, khéo chỉ bày, giảng nói mới có thể trang nghiêm Song thọ; cũng là nói người có đầy đủ đức hạnh có khả năng làm chỗ nương cho tất cả chúng sinh, cho nên được duyên này.
Phật đáp có hai: Một, là nói sáu hạng người trong nhân, sáu người có lẽ là lược nói, hoặc là cơ nghi của chúng sinh, hoặc là đối trị với sáu vị giáo chủ ngoại đạo ở trên, cho nên nêu sáu.
Hỏi: Vì sao chẳng dùng Bồ-tát để trang nghiêm song thọ.
Đáp: Vì Bồ-tát du hóa vô định, không thường theo cạnh Phật, còn sáu vị này thì thường ở bên Phật nên có duyên đối với người, hơn nữa sáu vị Tỳ-kheo này đều là Bồ-tát, v.v...
Văn kinh nói: Ngài Thân Tử nghe Niết-bàn mà chẳng lo buồn, điều này trong A-hàm nói: Thân Tử nghe nói Phật sắp nhập Niết-bàn, không nỡ thấy Phật diệt độ, nên nhập diệt trước, vì sao nay lại nói nghe Phật Niết-bàn mà không lo buồn? Trong lời đáp của Phật, ngài đã nói về quả đức thì biết đó là nghĩa của Bồ-tát, chẳng nên giải thích theo ý Tiểu thừa.
Từ câu: “Nếu có Tỳ-kheo, v.v… trở xuống là đoạn hai nói về người đã chứng quả, tức Như Lai là người đã nêu ở trước.
Kế là từ câu: “Kính mong v.v...” trở xuống là phần nói nghĩa, có ba phen hỏi đáp.
Tuy chẳng phải là chánh thức hỏi, nhưng cũng được cho là một câu hỏi.
Từ câu: “Phật bảo v.v...” trở xuống là lời đáp, có hai; Trước nói về Bản, sau nói về Tích. Về Bản lại có hai: Một là nói lược về vô trụ.
Hai là nói rộng về vô trụ, có hai ý; trước là nêu pháp thuyết, sau là dụ thuyết, trong pháp thuyết, trước giải thích về Trụ. Kế là giải thích Vô trụ.
Diệu thể là phi hữu nên nói là hư không. Tam-muội Kim cương
tức là Như Lai, xưa giải thích rằng: Thập địa tu học tột cùng mà vẫn chưa phải là Phật, nhưng trong đạo tương tục thì chuyển tâm Kim cương tức gọi là Phật. Nay y cứ theo văn này nên nói là Như Lai, từ này chung cho nhân và quả, thí như Thủ-lăng-nghiêm chung cho nhân quả. Nói Đàn ba-la-mật, chẳng nên cho rằng sáu hạnh có công năng thành tựu quả. Văn trên nói đủ sáu Ba-la-mật, Đạo phẩm cũng như thế.
Từ câu: “Thí như hư không v.v...” trở xuống là đoạn hai, y cứ theo dụ để nói về vô trụ. Trước là dụ, sau là hợp.
Kế là hợp dụ, trái lại dùng khác nhau để phân biệt Không, Không tức là Vô trụ.
Nói Bồ-tát trụ thứ sáu vì nhân duyên phiền não mà đọa vào ba đường ác, đây có lẽ là chỉ cho sáu tâm, hoặc là nói Lục địa.
Nói thêm: E rằng đó là Lục địa.
Từ câu: “Hôm nay v.v...” trở xuống là đoạn hai, nói về Tích.
Trong đạo Phương tiện lại trở về vắng lặng, chúng sinh chẳng thấy, cho rằng Phật nhập Niết-bàn.
Từ câu: “Bồ-tát Sư Tử Hống v.v...” trở xuống là phen hỏi thứ hai, là hỏi vì sao Như Lai chẳng thường trụ làm lợi ích chúng sinh mà lại nhập Niết-bàn.
Phật đáp rộng nghĩa trên. Nói Pháp tạng bất cộng là chẳng chung với hàng Nhị thừa, trong đó hoặc là nói Diệt ác, hoặc là nói Sinh thiện, tức là ý bốn tất-đàn, nên cần phải nhập định vắng lặng.
Từ câu: “Bồ-tát Sư Tử Hống v.v...” trở xuống là phen hỏi đáp thứ ba, hỏi vì sao gọi Niết-bàn là Vô tướng?
Phật đáp có ba ý, trước nói không có mười tướng. Kế là nói về chỗ mất của hữu tướng.
Thứ ba là nói về chỗ được của vô tướng.
Từ câu: “Bồ-tát Sư Tử Hống v.v...” trở xuống là đoạn ba, nói về Dụng của tu đạo. Văn có ba: Một, là nói ba pháp; hai là nói về hai pháp giúp nhau; ba là nói về lực dụng. Thứ nhất, trước là hỏi đáp lược, sau là hỏi đáp rộng.
Nhưng ba pháp khác nhau, nếu ở phẩm Thánh Hạnh dùng ba pháp Giới, Định, Tuệ, thì nay văn này dùng ba pháp giới, tuệ và xả, trong đó định tuệ là chánh, xả là tùy nghi (hoặc xả định tu tuệ, hoặc xả tuệ tu định). Nhưng nói thường thường tức chẳng phải chỉ chuyên tu một phẩm mà phải điều hòa, để được tự tại.
Từ câu: “Sư Tử Hống v.v...” trở xuống là đoạn hai, hỏi đáp rộng.
Phần hỏi có hai: trước hỏi chung thế nào là tướng của định, tuệ, xả.
Kế là hỏi riêng ba pháp, có hai: Một là rộng y cứ theo định để hỏi; hai, là dùng tuệ xả để dụ. Hỏi về định có ba ý: Một là y cứ theo bản hữu; hai, là y cứ theo một cảnh; ba, là y cứ theo một hạnh.
Nói đều có, tức chúng sinh đều có Tam-muội. Các sư Số Luận nói trong mười đại địa pháp có Tam-ma-đề, đó là định số, định này vốn có, đâu cần tu tập. Hà Tây cho rằng đây là lấy tâm chuyên chú làm định, chẳng cần phải là định số trong mười Đại địa.
Kế là nói tâm ở một cảnh.
Nếu chỉ hành một cảnh gọi là định, thì tất cả các duyên khác chẳng phải là định, nếu chẳng biết các duyên khác thì đâu được gọi là bậc Nhất Thiết Trí?
Thứ ba là y cứ theo một hạnh để hỏi.
Nếu một hạnh là Tam-muội thì khi thực hành các hạnh khác chẳng phải là Tam-muội. Nếu chẳng thực hành các hạnh khác thì chẳng phải là Nhất Thiết Trí.
Kế là nói tuệ xả cũng như câu hỏi trên.
Phật đáp, trước là đáp câu hỏi riêng, sau đáp câu hỏi chung. Đáp câu hỏi riêng có hai ý: Trước đáp về định, sau đáp về tuệ xả. Đáp về định, trước hỏi định có ba hướng, bây giờ thứ nhất là đáp câu hỏi thứ hai, dùng câu thứ ba để so sánh; kế đến câu hỏi thứ nhất là xưa có (bản hữu).
Nói: Các duyên khác cũng là duyên một cảnh, tức là chuyên tâm vào một duyên. Đây là định cảnh; dùng định mà duyên thì không cảnh nào chẳng định; chẳng thể cho rằng giống như câu hỏi trước chỉ duyên một cảnh. Bởi vì định tâm duyên định cảnh, chứ chẳng phải tán tâm. Dùng định mà chuyên nhất ở Nhất thiết, nên gọi là Nhất thiết trí. Nếu dùng tán tâm duyên cảnh thì bị cảnh dẫn dắt. Nếu dùng định tâm duyên cảnh thì dẫu có đổi duyên thay quán, chẳng phải cảnh kéo dắt tâm, nên gọi là định. Hạnh cũng giống như thế, tức đáp cả câu hỏi thứ ba về nhất hạnh. Nếu dùng tán tâm mà tu tập các hạnh thì hạnh dẫn dắt tâm, nếu dùng định tu tập các hạnh, thì khiến các hạnh là một hạnh.
Từ câu: “lại nói v.v...” trở xuống là truy đáp câu hỏi thứ nhất, hỏi về vốn có.
Thiện Tam-muội: Chẳng phải lấy định chung cho ba tánh định là lấy định khéo tu (Định thiện tu, tức tam chỉ viên tu) làm Thiện Tam- muội.
Kế là từ câu: “Vì trụ trong v.v...” trở xuống là đáp câu hỏi về tuệ, xả; có hai ý: Trước đáp tướng của tuệ. Kế là đáp về tướng xả.
Từ câu: “Lại nữa, Này Thiện nam! v.v…” trở xuống là đáp câu hỏi chung. Có bốn ý: Một, lược nêu thể của ba pháp; hai, là giải thích tên của ba pháp; ba, là nói rộng thêm về thể của ba pháp; bốn, là nói về công dụng. Thứ nhất nêu thể, có ba ý: một, là nêu thể của định.
Nói thủ tướng sắc, chẳng phải là tâm định chấp tướng sắc, mà đó là tướng nhập, trụ, xuất của môn thiền định. Nói chẳng quán tướng Thường và Vô thường của sắc; vì đã thuộc về tịnh, chẳng thực hành chiếu tri nên chẳng thể quán.
Từ câu: “Nếu có thể quán v.v...” trở xuống là nêu thể của Tuệ. Thường và Vô thường đều chiếu soi, nên chẳng phải là Thiên tuệ.
Thứ ba, là từ câu: “Tam-muội, tuệ v.v...” trở xuống là nói về thể
của xả. Hai việc hòa hợp nên gọi là Bình đẳng. Văn có ba: là pháp, dụ và hợp. Kế là dụ. Thiên định là chậm, Thiên tuệ là nhanh, hai pháp phải ngang bằng, vì thế dùng xe bốn ngựa kéo làm dụ.
Từ câu: “Bồ-tát cũng như thế” v.v… trở xuống là hợp dụ.
Nói Bồ-tát Thập Trụ tuệ nhiều, định ít, Hà Tây giải thích rằng: Mười trụ tiến cầu cảnh giới cao quý mới xây dựng Đại Thừa, trang ng- hiêm cõi nước, giáo hóa mọi người, thiên khởi trí dụng, cho nên chẳng thấy tánh. Hàng Nhị thừa tự hàng phục, tự tịnh tâm ý, mong cầu chứng đắc, nên định nhiều tuệ ít, do đó chẳng thấy tánh. Nếu định tuệ đồng nhau thì mới thấy tánh. Ở đây nói rằng nếu nhập “Không” nhiều thì là tướng chậm, nhập “giả” nhiều thì là tướng nhanh, không giả đều bặt là tướng bình đẳng, thấy tánh, đó là ý Biệt giáo. Như tức không tức giả tức trung, chẳng chậm chẳng nhanh, khéo cỡi xe bốn ngựa kéo, mới thấy được Phật tánh, đây là ý Viên giáo.
Từ câu: “Xa-ma-tha” v.v… trở xuống là thứ hai, giải thích tên gọi.
Trước giải thích tên Định. Có bản gọi là Đà, đều do âm Phạm nặng nhẹ, dịch danh khác nhau, hoặc dịch là chỉ, tức dứt bỏ duyên ác; hoặc dịch là Định; từ này có rất nhiều cách dịch cho nên âm Phạm không theo một nghĩa riêng nào. Tỳ-bà-xá-na dịch là Quán, cũng gọi là Kiến. Ưu-tất-la dịch là tướng xả, cũng dịch là Bình đẳng, bất tranh, v.v...
Từ câu: “Xa-ma-tha v.v...” trở xuống là đoạn ba, nói rộng về thể của ba pháp, đều dùng tăng số để nói. Thứ nhất nói về định, tăng đến mười pháp.
Làm được lợi ích lớn, Bách luận giải thích là Tam-muội đạt phần;
nhân quả đều vui, Hà Tây giải thích rằng: Định mà chư Phật đạt được thì xuất nhập tự tại, trước sau thường vui; niệm giác quán, tức là thiện ác giác quán đều là tội lỗi; quán sinh diệt, tức là con người phần nhiều đối với sinh diệt mà khởi quán đoạn thường. Mười Nhất thiết xứ, chỉ nêu đất, nước và gió mà không nói lửa, có người cho rằng kinh này ghi sót mất chữ Lửa. Hà Tây cho rằng người tu hành quán bốn đại trong thân chứ chẳng phải quán bốn đại bên ngoài. Ba đại trong thân; trong đó xương thịt v.v... là đất, nước mắt, nước mũi v.v... là nước, còn lửa yếu kém, chỉ là hơi ấm, cho nên chỉ nêu ba. Nhưng chẳng dùng làm xứ là vì muốn nói từ Hạ địa trở xuống chẳng dùng xứ. Chiêu-đề cho rằng: Hỏa đại chẳng thường hằng, nhờ củi đốt mới có, không có củi thì chẳng phát sinh, cón ba đại kia thường hằng, vì thế mới dùng làm xứ. Còn chẳng dùng xứ là muốn nói pháp quán này đã thành tựu, nên chẳng dùng xứ, cho nên tính là một.
Từ câu: “Tuệ có hai v.v...” trở xuống là nói rộng về thể của tuệ.
Bát-nhã chính là Tuệ, Tỳ-bà chính là quán, cũng gọi là Kiến, Xá-na chính là Trí. Giải thoát Bát-nhã là tất cả chúng sinh, tức hiển bày Bát-nhã là Tuệ biết tất cả số chúng sinh. Lại giải thích Tỳ-bà là tướng chung, cũng có tam-muội, vì thế Tam-muội và Tuệ biết được tất cả. Thường giải thích rằng Tuệ là bất si, cho nên ở phàm phu, Kiến gọi là Tiểu thắng nên ở bậc Thánh, trí là quyết đoán, là tối thắng, nên ở chư Phật. Tướng chung, tướng riêng, Phá tướng cũng y cứ theo hơn kém. Hưng Hoàng cho rằng phàm phu có phân biệt tức là tướng riêng, bậc Thánh Nhị thừa là gom chung các pháp vô thường nói ở trước nên thuộc về tướng chung. chư Phật, Bồ-tát phá chung riêng nên gọi là Phá tướng.
Ở đây cho rằng chẳng đúng như thế, đó là nói một tâm ba trí, Phá tướng là chiếu Không, tướng riêng là chiếu Giả, tướng chung là chiếu Trung. Trong ba trí một tâm chỉ được nói về Tuệ không nghĩ bàn, chẳng nói xả, là vì khác thể thì chẳng phải.
Thứ tư nói về công dụng, như văn kinh có nói.