Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 135, Bộ Kinh Sớ XXI, Số 1765 (Quyển Thượng- Trung- Hạ))

Đại Tập 135, Bộ Kinh Sớ XXI, Số 1765 (Quyển Thượng- Trung- Hạ))

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 960.

Chương 43: Mục Lục (Trang 945 - 960)

LINH SƠN PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
TẬP 135





BỘ KINH SỚ
XXI

SỐ 1765  → 1769







HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC
LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN
Lời Giơi Thiệu

Ngày nay, có thể nói, đại đa số Tăng Ni và Phật tử Việt Nam đều nhận thấy, một bộ Đại Tạng Kinh bằng chữ Việt là nhu cầu hết sức bức thiết, vì hai lý do:
 
Thứ nhất, hầu hêt các nước Phật giáo châu Á, kể cả Lào và Campuchia, đều đã có Đại Tạng Kinh riêng của họ, lẽ ra Phật giáo Việt Nam cũng đã phải có từ lâu rồi, nhưng cho đến nay vẫn chưa: điều này chứng tỏ Phật giáo Việt Nam đã thua kém Phật giáo các nước bạn rất xa. Đó là điều mà giới Phật giáo Việt Nam, đặc biệt giới xuất gia, cần quan tâm suy nghĩ.
 
Thứ hai, khả năng học tập, nghiên cứu Phật giáo trực tiếp qua Đại Tạng Kinh chữ Hán, có thể sẽ mỗi ngày một sút giảm dần; như vậy, nếu không có được bộ Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh và gấp rút, thì e các thế hệ học Phật tương lai sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu, học hỏi; và về lầu về dài, sự phát huy tinh thần Phật pháp ở Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng, nếu không nói bị hạn chế.
 
Chúng tôi nhấn mạnh, “Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh”, có nghĩa là trước nay  ở Việt Nam tuy cũng đã có một số lớn kinh điển Hán văn được dịch sang chữ Việt rồi, nhưng số đó còn rời rạc, lẻ tẻ, chứ chưa được tổ chức thành hệ thống hẳn hoi cho đúng với danh nghĩa Đại Tạng Kinh như tạng chữ Hán, để truyền trì cho đời sau, Hơn nữa, “hoàn chỉnh” còn có nghĩa là Đại Tạng Kinh chữ Việt phải gồm đủ Kinh, Luật, Luận và những tác phẩm chú thích, sớ giải v.v… của các bậc Tổ sư tiền bối cũng như của các học giả cận đại.
 
Nay, chúng tôi được biết, Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh – Tiến sĩ Triết học – hiện đang ở bên Đài Loan, phát nguyện đứng ra tổ chức phiên dịch và ấn hành Đại Tạng Kinh chữ Việt. Hòa thượng đã hoạch định một chương trình phiên dịch và ấn loát quy mô, công việc đang được tiến hành một cách thuận lợi và đều đặn. Chúng tôi vô cùng hân hoan và xin nhất tâm tùy hỷ.
 
Nhưng đây là sự nghiệp lớn lao, công đức cũng vô lượng, không phải sức của một người có thể chu toàn được, mà phải cần sự hỗ trợ của nhiều người. Cái khó trước kia là ở chỗ đã chưa có ai đề xướng và đứng ra gánh vác trách nhiệm, cho nên dù có người muốn hỗ trợ cũng không biết hướng về đâu. Thì nay đã có Hòa thượng Tịnh Hạnh, tương
Đối đủ năng lực và điều kiện, đứng ra cán đáng công việc to lớn này, nên chúng tôi chí thành tha thiết thỉnh cầu chư tôn Hòa thượng, chư Đại đức Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước, hãy phát đại tâm hộ trì Phật pháp, giúp đỡ Hòa thượng Tịnh Hạnh bằng hai cách:
 
  • Tích cực tham gia công trình phiên dịch, hiệu đính, chứng nghĩa góp ý v.v…
  • Hỗ trợ tài chính, tùy theo khả năng, cho công trình án loát, xuất bản v.v…
Đây là việc chung, có ảnh hưởng rất lớn đối với tiền đồ Phật giáo Việt Nam, chúng tôi ước mong quí vị sốt sắng tham gia, để phúc quả to tát này mau được viên mãn.
 
Sự nghiệp phiên dịch và xuất bản Đại Tạng Kinh chữ Việt, khi được hoàn thành, sẽ góp phần quan trọng trong việc phát triển nền văn học Phật giáo Việt Nam, đồng thời, giúp nâng cao địa vị của Phật giáo Việt Nam lên ngang tầm địa vị của các nước Phật giáo trên thế giới.
 
Nguyện cầu chư Phật, Bồ-tát, Thánh tăng, Hộ pháp, Hộ pháp thiện thần gia vị cho Hòa thượng Tịnh Hạnh và toàn thể quí vị Mạnh thường quân hộ trì Chánh pháp mau thành tựu đại nguyện.
 
Nam mô Hộ Pháp Chư Thiên Bồ-tát đại chứng minh.
 
Sài Gòn ngày 16 – 12 – 1998
Hội đồng Chứng minh
 
Lời Nói Đầu
 
Ba tạng giáo điển là kho tàng của trí tuệ Bát-nhã, là chìa khóa của sự thành tựu đạo nghiệp. Hơn mười ba thế kỷ trước, thấu triệt lẽ này, Đại sư Huyền Tráng đã phát đại hùng tâm phiên dịch kiện toàn ba tạng giáo điển, giúp Trung Quốc hồng phước sở hữu Trung văn Đại Tạng kinh.
 
Trải năm mươi năm ấp ủ một hoài bão tương tự, mãi đến ngày nay, chúng tôi, mới tạm hội đủ nhân duyên để thực hiện bộ Việt tạng; thành tựu ấy chẳng thể, chẳng phải do một cá nhân: nó là thành quả của một công đức cộng đồn, do nhiều trái tim, bộ óc hợp lại.
 
Xưa kia, sự hiện diện của Hán tạng đã góp phần to lớn vào sự nghiệp nâng cao đời sống văn hóa, tâm linh của Trung Hoa, giúp nước này đủ sức mạnh gốc rễ để đứng vững trước bao phong ba, thử thách. Nhận định về điều này, ông Phùng Hữu Lan, giáo sư Viện đại học Bắc Kinh đã viết:
 
“Vào thời đại Nam Bắc triều, giới tư tưởng Trung Quốc lại có sự chuyển mình lớn lao. Bởi vì lúc đó tư tưởng Phật giáo truyền vào Trung Quốc có hệ thống, người Trung Quốc đối với Phật giáo truyền vào Trung Quốc có hệ thống, người Trung Quốc đối với Phật giáo cũng thâm nhập hiểu được những huyền diệu sâu xa. Từ đó cho đến thời sơ diệp nhà Tống, những người có tư tưởng lỗi lạc nhất của Trung Quốc đều là những người nghiên cứu tư tưởng đạo Phật (khoảng năm sáu trăm năm). Tư tưởng Phật giáo vốn là sản vật của Ấn Độ nhưng được người Trung Quốc giảng giải, phần nhiều đem tư tưởng đó thâm nhập vào khuynh hướng tư tưởng người Trung Quốc, biến thành tư tưởng Phật giáo của Trung Quốc.” *
 
Sự hiện diện của Việt tạng đối với dân tộc ta đương nhiên cũng là như thế.
 
Về mặt nội dung, Việt tạng tiếp nạp cả Đại tạng Bắc truyền và Đại tạng Nam truyền. Về phần Đại tạng Bắc truyền, quan trọng nhất được chọn từ Đại Chánh Tan Tu Đại Tạng Kinh, Tục Tạng Kinh…; thêm vào những sắc thái đặc biệt của Đại tạng Tây Tạng, Nhật Bổn; những văn bản tư tưởng Phật giáo của các vị Cao tăng học giả Đông, Tây cận đại; tất cả vào khoảng một ngàn tập, mỗi tập dày một ngàn trang khổ 17x24 cm, như
 __________________________________
* Trung Quốc Triết Học Sử, trang 661, xb. 1970 tại Đài Loan:
“Nam Bắc triều thời, Trung Quốc tư tưởng giới hựu hữu đại biến động. Cái ư thị thời Phật giáo tư tưởng hữu hệ thống đích du nhập, nhi Trung Quốc nhơn đối chi diệc năng hữu thậm thâm liễu giải. Tự thử dĩ hậu, dĩ chí Tống sơ Trung Quốc chi đệ nhất lưu tư tưởng gia, giai vi Phật học gia. Phật học bổn vì Ấn Độ chi sản vật, đản Trung Quốc nhơn giảng chi, đa tương kỳ gia nhập Trung Quốc tư tưởng chi khuynh hướng, dĩ sử thành vi Trung Quốc chi Phật học. “
quý vị đang có trước mắt.
 
Chỉ nói sơ qua, đã mường tượng được công việc thực hiện Việt tạng là khó khăn như thế nào. Thử liếc nhìn qua nước Nhật Bổn chẳng hạn: chỉ mỗi phần việc biên tập tu đính dành cho bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (vì toàn bộ Đại Tạng Trung văn và Đại Tạng Nhật Bổn đã hoàn thành từ lâu), do hai học giả Phật giáo lỗi lạc vả Nhật Bản là Cao Nam Thuận Thứ Lang (Junjiro Takakusu) và Độ Biên Hải Húc (Watanabe) chủ trì, cùng với sự cộng tác của nhiều học giả Phật giáo và Đông phương học mà phải cống hiến ròng rã mười ba năm trí tuệ tâm huyết, mới tạm gọi là hoàn chỉnh.
 
Việc đã đành là khó, ngàn khó vạn khó, nhưng lẽ nào thấy khó mà không làm. Tự lượng sức mình có hạn, nhưng vì mỗi phút lòng thao thức cho sinh mệnh, tiền đồ của Phật giáo và dân tộc Việt Nam, chúng tôi đã mạo muội đứng lên khởi xướng, những mong một gọi nghìn thưa: mỗi Phật tử người Việt, xin ý thức trách nhiệm của mình, tự nguyện góp phần công đức vào sự nghiệp thực hiện bộ Việt tạng này, chẳng những là một phương tiện thù thắng để hoằng dương Chánh pháp, mà còn là đối với nền văn hóa dân tộc được cống hiến vô cùng sâu rọng, cũng xứng đáng là một tôn giáo đã có mặt trên đất nước Việt Nam ngót hai ngàn năm lịch sử.
 
Hôm nay Việt tạng bắt đầu xuất bản, vì là lần đầu, mặc dầu chúng tôi cố gắng đến mức tối đa, nhưng chắc cũng khó tránh khỏi những khuyết điểm về hình thức lẫn nội dung; hy vọng những vị cao kiến chỉ dạy để kịp thời sửa lại trong những tập sau cũng lần tái bản. Ở đây chúng tôi xin ghi ơn những vị tiền bối đã âm thầm góp sức, cũng như nhiều vị phụng hiến trí tuệ và mồ hôi qua sáu năm và những ngày sắp tới vào công việc gian lao này. Sau hết, không quên cảm ơn Chính phủ Việt Nam trong thời gian qua, đã dành cho chúng tôi nhiều sự dễ dàng trong khi thực hiện Đại Tạng Kinh chữ Việt.
 
Kính chúc Quý vị vô lượng cát tường.
 
Viết tại chùa Pháp-bảo TP. Hồ Chí Minh
Ngày 06 tháng giêng năm Canh thìn
 
P.L: 2544 – (2000)
 
Sa môn THÍCH TỊNH HẠNH
NHỮNG QUY ƯỚC THỐNG NHẤT
TRONG PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH

I- Viết hoa toàn bộ:
1. Tên người: (Phật) Vô Lượng, (vua) Tự Đức, (Thiền sư) Vạn Hạnh, (Bồ-tát) Quán Thế Âm...
2. Tên nước: Việt Nam, Trung Hoa, Thái Lan, Đài Loan...
3. Tôn Xưng danh hiệu Phật: Đức Như Lai, Bậc Chúng Hựu, Đấng Tối Chánh Giác...
4. Tác phẩm, kinh sách: luận Trung Quán, kinh Diệu  Pháp Liên Hoa, kinh Trường A-Hàm...
II- Viết hoa chữ đầu:
1. Địa danh: thành Vương xá, chùa Ấn quang, rừng Thi lợi...
2. Thuật ngữ phật học được nhấn mạnh: Bát chánh đạo, Tứ thánh đế, Khổ xuất yếu thánh đế...
3. Phẩm bậc, quả vị tôn kính: Hòa thượng, Thanh văn, Duyên giác, Thái tử (nói về Phật, Bồ-tát thị hiện độ sanh; ví dụ: Thái tử Tỳ-bà-thi), Tôn giả...
4. Chủng loại: chư Thiên
5. Phương hướng: phương Đông nam, hướng Tây bắc, phía Đông thành Vương xá...
III- Viết hoa chữ đầu + gạch nối: (những từ được phiên âm từ Pàli)
1. Nhân danh: Mãn-độ-ma, Xà-ni-sa, Xá-lợi-phất...
2. Địa danh: nước Bạt-kỳ, thành Xá-vệ, cõi Diêm-phù-đề...
3. Thuật ngữ phật học được nhấn mạnh: A-lại-da, Tam-phật-đà, Ba-la-đề-mục-xoa...
4. Phẩm bậc, quả vị: Tỳ-kheo, Ưu-bà-di, A-la-hán...
5. Chủng loại: A-tu-la, La-sát, Càn-thát-bà....
IV- Gạch nối (danh từ chung được phiên âm từ Pàli)
ví dụ: đàn-việt, na-do-tha, do-tuần...
V-Số:
1. Viết thành chữ: (những số quá lớn nên chú thích thêm số)
ví dụ: hai trăm năm mươi (giới), ba mươi hai (tướng tốt), mười lăm ức bảy ngàn sáu mươi vạn (1.570.600.000)...
2. Viết thành số: số hiệu kinh, số trang dẫn
ví dụ: Đại I, trang 15, cht. 52...
VI- Đặc biệt:
- Âm "y" và "i": dù đứng một mình, đứng đầu từ hoặc ở giữa từ, hoặc sau các phụ âm: K, L,M,T,Q vẫn viết theo thói quen cũ.
ví dụ: kỹ cương, lý luận, hoàn mỹ, quy định, li ti, hoan hỷ ...
- viết là " Phạm" không viết là " Phạn" (phát âm theo chữ Brahma).
- viết là "Tuệ" không viết là "Huệ"
 TP. Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 9 năm 2000
Sa môn Thích Tịnh Hạnh
VÀI NÉT VỀ TẬP 38

 
Tập 38 -  Kinh Sớ bộ phần 6 được  thu lục vào trong Hán tạng Đại Chánh Tân Tu gồm 18 luận sớ giải các Kinh, từ No 1765 đến No 1782 và được chuyển dịch Việt ngữ thành 4 quyển 135, 136,137,138 của tạng Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh Việt Nam.
Đó là:
No1765 – Đại Bát Niết Bàn Kinh Huyền Nghĩa, 2 quyển, do ngài Quán Đỉnh soạn vào đời Tùy. Đây là bộ phận sách giải thuyết kinh Niết bàn quan trọng nhất. Ở đầu quyển có Tự luận, trong đó chia phần giải thích làm hai loại: Biệt thích, Thông thích và dùng ba đức: Pháp thân, Bát nhã, Giải thoát để thuyết minh Kinh Niết Bàn. Sau đó lại chia kinh làm 5 khoa: Thích danh, Thích thể, Thích tông, Thích dụng và Thích giáo. Phương thức chia khoa này vốn là kiến riêng của ngài Trí Khải mà ngài Quán Đỉnh đã y theo.
No 1766 – Niết Bàn Huyền nghĩa phát nguyện Cơ yếu, 4 quyển, do Ngài Trí Viên soạn thuật vào đời Tống.
No 1767 – Đại Bát Niết Bàn Kinh Sớ, 33 quyển, do ngài Quán Đỉnh soạn thuật vào đời Tùy. Cũng gọi là Nam bản Niết Bàn Kinh Sớ, Niết Bàn Kinh Sớ. Bộ sách này dùng giáo chỉ của Tông Thiên Thai để giải thích kinh Niết Bàn (bản Nam) vả các kinh Phương Đẳng Bát Nê Hoàn, Đại Bát Nê Hoàn và Niết bàn (bản Bắc).
No 1768 – Niết Bàn Kinh Du ý, 1 quyển, do ngài Cát tạng soạn vào đời Tùy. Nội dung sách này lấy giáo nghĩa tông Tam luận làm chính để trình bày về đại cương của Kinh Niết bàn. Toàn bộ chia làm 6 môn: Đại ý, Tông chỉ, Thích danh, Biện thể, Minh dụng và Liệu giản.
No 1769 – Niết Bàn Tông Yếu, 1 quyển, do ngài Nguyên Hiểu soạn ở Tân La.
No 1770 – Bản nguyện Dược Sư Kinh Cổ tích, 2 quyển, do ngài Thái Hiền soạn ở Tân La.
 
No 1771 – Di Lặc Kinh Du Ý 1 quyển, do ngài Cát Tạng soạn vào đời Tùy.
No 1772 – Quán Di Lặc Thượng sanh Đâu Suất Thiên Kin Tán, 2 quyển, do ngài Khuy Cơ soạn vào đời Đường. Bộ sách này chú thích kinh Quán Di Lặc Bồ Tát Thượng sanh Đâu Suất thiên do Thư Cừ Kinh Thanh dịch. Nội dung chia làm 5 môn để giải thích văn Kinh:
1. Phật thành quyền thật:Bàn rò về Pháp thân, Báo thân, Ứng thân.
2. Từ thị sở nhân:Giải thích nguyên do tại sao Di Lặc lại có tên là Từ Thị và nhân duyên thành tựu quả vị của ngài.
3. Thời phận hữu thú: Tường thuật về tên các kiếp, tuổi thọ v.v… của ngàn vị Phật xuất hiện trong quá khứ, hiện tại theo thời gian mà có sự khác nhau.
4. Vãng sinh nam dị:So sánh sự khó dễ trong việc sinh về Tịnh độ phương thây của đức Phật A di đà và về cõi trời Đâu Suất của Bồ Tát Di Lặc.
5.Vấn đáp liệu giản: Vấn đáp để giải thích về tên họ của Bồ Tát Di Lặc và các vấn đề khác v.v…
No1773 –Di Lặc Thượng sanh kinh Tông yếu, 1 quyển, do ngài Nguyên Hiểu soạn thuật ở Tân La.
No1774 – Tam Di Lặc Kinh sớ, 1 quyển, do ngài Cảnh Hưng soạn thuật ở Tân La.
No 1775 – Chú duy Ma cật Kinh, 10 quyển, do ngài Tăng Triệu soạn vào đời Hậu Tần. Phần đầu sách là bài tựa của Tăng Triệu trình bày về quan điểm Bản, Tích, thẩm xét thấy suốt nghĩa gốc của Kinh Duy Ma, đồng thời phải hội nhập với giáo lý vi diệu của kinh Pháp Hoa. Nội dung sách này là y theo kinh văn mà giải thích,   là sách chú thích duy Ma đầu tiên ở Trung Quốc.
No 1776 -  Duy ma nghĩa Ký, 8 quyển, do ngài Tuệ Viễn soạn vào đời nhà Tùy. Sách này giải thích văn nghĩa của kinh Duy ma cật. Trước hết nói rõ về hai tạng của Kinh Thanh Văn, Bồ Tát, đồng thời chỉ ra sự khác nhau giữa Tiệm giáo và Đốn giáo và phán định Kinh Duy
Ma này thuộc Bồ tát Đốn giáo; kế đến giải thích đề Kinh Duy ma, sau hết phần còn lại lần lược giải thích văn nghĩa của kinh.
No1777 – Duy ma Kinh Huyền sớ, 6 quyển, do ngài Trí Khải soạn vào đời Tùy. Bản sách này dùng Ngũ trùng huyền nghĩa, phương pháp giải thích của Tông Thiên Thai để chú giải ý nghĩa sâu kín của Kinh Duy ma theo bản dịch của ngài Cưu ma la thập, có thể được xem là tác phẩm khái luận như: Hoa nghiêm, Pháp Hoa, Niết Bàn, Ma ha Bát nhã, Địa Trì, Thanh tịnh Pháp hành, Đại Trí độ luận, Thập địa Kinh luận, Nhiếp đại Thừa luận…
No 1778 – Duy ma Kinh Lược Sớ, 10 quyển, do ngài Trí Khải thuyết,  ngài Trạm Nhiên tóm tắt thuật và nhà Đường.
No 1779 – Duy ma Kinh Lược sớ Thùy Dụ Ký, 10 quyển, do ngài Trí Viên soạn vào đời Tống.
No. 1780 – Tịnh Danh Huyền Luận, 8 quyển, do ngài Cát Tạng soạn vào đời Tùy. Nội dung Luận này nói về yếu chỉ của kinh Duy ma . Trước hết trình bày lý do soạn luận, kế đến chia ra 3 khoa: Danh đề, Tông chỉ, Hội xứ. Trong sách trích dẫn hơn 30 bộ kinh luận: Đại Phẩm Bát Nhã, Pháp Hoa, Niết Bàn…
No 1781 – Duy ma Kinh Nghĩa Sớ, 6 quyển, do ngài Cát Tạng soạn và đời Tùy. Tác giả luận này đứng trên lập trường của tông Tam luận để giải thích Kinh Duy ma. Trước hết bàn về Huyền nghĩa, kế đến chú thích bản văn trong 14 phẩm của Kinh Duy ma. Phần Huyền nghĩa  có thể được coi như khái luận về k kinh Duy ma, cũng có thể được xem như lời tựa của sách này.
No 1782 – Thuyết Vô Cấu Xưng Kinh Sớ, 12 quyển, do ngài Khuy Cơ soạn thuật vào đời Đường. Đây là sách chú thích Kinh Duy ma của ngài Huyền Trang dịch. Sách này y cứ vào giáo phán ( 3 thời giáo, 8 tông) của tông pháp tướng mà phối hợp kinh duy ma với thời thứ 2 (Không), thời thứ 3 (Trung đạo) trong 3 thời và với tông thứ 7 (Thắng nghĩa giai không tông), tông thứ 8 ( Ứng ly viên thục tông) trong 8 tông; đồng thời dùng kinh này làm giáo thuyết cho thời quá độ giữa thời giáo thứ 2 và thứ 3 của tông Thiên Thai, bắt đầu mở rộng từ lý Khôngdần tiến đến Trung Đạo.
 
Trên đây là tóm lược nội dung tập 38 Hán tạng Đại Chánh Tân Tu
 BAN BIÊN TẬP.
MỤC LỤC

(BỘ KINH SỚ 21 – TẬP 135)


 
SỐ 1765 – ĐẠI BÁT NIẾT BÀN KINH HUYỀN NGHĨA ............... 3
QUYỂN THƯỢNG: ............................................................................... 3
QUYỂN HẠ: ......................................................................................... 27
SỐ 1766 – NIẾT BÀN HUYỀN NGHĨA PHÁT NGUYÊN CƠ YẾU   
................................................................................................................ 53
BÀI TỰA: .............................................................................................. 53
QUYỂN 1: ............................................................................................. 57
QUYỂN 2: ............................................................................................. 79
QUYỂN 3: ........................................................................................... 100
QUYỂN 4: ........................................................................................... 122
SỐ 1767 -  ĐẠI BÁT NIẾT BÀN KINH SỚ ................................... 147
BÀI TỰA: ............................................................................................ 149
QUYỂN 1: PHẨM 1: TỰA (Phần Đầu) ............................................. 150
QUYỂN 2: PHẨM 1: TỰA (Phần Cuối) ............................................ 172
QUYỂN 3: PHẨM 2: THUẦN ĐÀ (Phần Đầu) ................................ 192
QUYỂN 4: PHẨM 2: THUẦN ĐÀ (Phần Giữa) ............................... 210
QUYỂN 5: PHẨM 2: THUẦN ĐÀ (Phần Cuối) ............................... 231
- PHẨM 3: AI THÁN (Phần Đầu) ...................................................... 236
QUYỂN 6: PHẨM 3: AI THÁN (Phần Cuối) .................................... 252
QUYỂN 7: PHẨM 4: TRƯỜNG THỌ (Phần Đầu) ........................... 273
QUYỂN 8: PHẨM 4: TRƯỜNG THỌ (Phần Cuối) .......................... 295
- PHẨM 5: KIM CƯƠNG THÂN ...................................................... 301
- PHẨM 6: DANH TỰ CÔNG ĐỨC ................................................. 312
QUYỂN 9: PHẨM 7: BỐN TƯỚNG (Phần Đầu) .............................. 315
- PHẨM 7: BỐN TƯỚNG (Phần Cuối) .............................................. 330
QUYỂN 10: PHẨM 8: TỨ Y .............................................................. 341
QUYỂN 11: PHẨM 9: TÀ CHÁNH             365

 
- PHẨM 10: TỨ ĐẾ ............................................................................ 370
- PHẨM 11: TỨ ĐẢO ......................................................................... 373
- PHẨM 12: NHƯ LAI TÁNH ........................................................... 375
QUYỂN 12: PHẨM 13: VĂN TỰ ...................................................... 405
- PHẨM 14: ĐIỂU DỤ ....................................................................... 410
- PHẨM 15: NGUYỆT DỤ ................................................................ 416
- PHẨM 16: BỒ TÁT .......................................................................... 420
QUYỂN 13: PHẨM 17: NHẤT THIẾT ĐẠI CHÚNG SỞ VẤN ..... 439
- PHẨM 18: HIỆN BỆNH .................................................................. 449
- PHẨM 19: THÁNH HẠNH (Phần 1) .............................................. 456
QUYỂN 14: PHẨM 19: THÁNH HẠNH (Phần 2) ........................... 460
QUYỂN 15: PHẨM 19: THÁNH HẠNH (Phần 3) ........................... 479
QUYỂN 16: PHẨM 19: THÁNH HẠNH (Phần 4) ........................... 498
QUYỂN 17: PHẨM 20: PHẠM HẠNH (Phần 1) .............................. 513
- PHẨM 20: PHẠM HẠNH (Phần 2) ................................................. 529
QUYỂN 18: PHẨM 20: PHẠM HẠNH (Phần 2 – Tiếp Theo) .......... 536
- PHẨM 20: PHẠM HẠNH (Phần 3) ................................................. 546
QUYỂN 19: PHẨM 20: PHẠM HẠNH (Phần 4) .............................. 556
- PHẨM 20: PHẠM HẠNH (Phần 5) ................................................. 563
- PHẨM 21: ANH NHI HẠNH .......................................................... 576
QUYỂN 20: PHẨM 22: ĐỨC VƯƠNG (Phần 1) .............................. 581
QUYỂN 21: PHẨM 22: ĐỨC VƯƠNG (Phần 2) .............................. 606
- PHẨM 22: ĐỨC VƯƠNG (Phần 3) ................................................. 616
- PHẨM 22: ĐỨC VƯƠNG (Phần 4 –Đầu) ....................................... 623
QUYỂN 22: PHẨM 22: ĐỨC VƯƠNG (Phần 4 – Cuối) .................. 627
- PHẨM 22: ĐỨC VƯƠNG (Phần 5) ................................................. 638
QUYỂN 23: PHẨM 22: ĐỨC VƯƠNG (Phần 6) .............................. 652
- PHẨM 23: SƯ TỬ HỐNG (Phần 1 – Đầu) ...................................... 663
QUYỂN 24: PHẨM 23: SƯ TỬ HỐNG (Phần 1 – Cuối) .................. 670
QUYỂN 25: PHẨM 23: SƯ TỬ HỐNG (Phần 2) .............................. 683
QUYỂN 26: PHẨM 23: SƯ TỬ HỐNG (Phần 3) .............................. 702
- PHẨM 23: SƯ TỬ HỐNG (Phần 4) ................................................. 710
QUYỂN 27: PHẨM 23: SƯ TỬ HỐNG (Phần 5) .............................. 721
- PHẨM 23: SƯ TỬ HỐNG (Phần 6) ................................................. 733
QUYỂN 28: PHẨM 24: Ca Diếp (Phần 1) ......................................... 743
QUYỂN 29: PHẨM 24: Ca Diếp (Phần 2) ......................................... 764
QUYỂN 30: PHẨM 24: Ca Diếp (Phần 3) ......................................... 781
QUYỂN 31: PHẨM 24: Ca Diếp (Phần 4) ......................................... 798
- PHẨM 24: Ca Diếp (Phần 5) ............................................................ 809
QUYỂN 32: PHẨM 25: KIỀU TRẦN NHƯ (Phần 1) ...................... 823
QUYỂN 33: PHẨM 25: KIỀU TRẦN NHƯ (Phần 2) ...................... 840
SỐ 1768 – NIẾT BÀN KINH DU Ý ................................................ 863
SỐ 1769 – NIẾT BÀN TÔNG YẾU ................................................ 895
/43
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »