Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 135, Bộ Kinh Sớ XXI, Số 1765 (Quyển Thượng- Trung- Hạ))

Đại Tập 135, Bộ Kinh Sớ XXI, Số 1765 (Quyển Thượng- Trung- Hạ))

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 960.

Chương 26: Đại Bát-Niết-Bàn Kinh Sớ - Quyển 19 (Trang 557 - 580)

ĐẠI BÁT-NIẾT-BÀN KINH SỚ
 
QUYỂN 19
 
PHẨM 20: PHẠM HẠNH (PHẦN 4)
 
Đầu phần bốn là đoạn hai, khen ngợi công năng diệt ác của kinh. Ác tức Nhất-xiển-đề, bốn giới trọng, năm tội nghịch đều bị dứt trừ. Xưa giải thích rằng: “Vua A-xà-thế thật phạm tội nghịch nhờ năng lực của kinh mà diệt được tội”. Thật cũng có ý nghĩa này. Nhưng kinh Mật Tích ghi: “Vua A-xà-thế là phương tiện thị hiện pháp diệt tội nghịch. So sánh biết được Điều-đạt phá Tăng chắc chắn chẳng phải thật phá. Cũng như Thiện Tinh thị hiện là Nhất-xiển-đề, thật chẳng phải là Nhất-xiển-đề, Na-đề phạm giới trọng thật chẳng phải phạm. Oai lực của kinh này   trừ các tội ác nặng, khiến cho người thật phạm nương tựa, tức là hiển bày phạm hạnh có thể làm cho bất tịnh thành thanh tịnh. Lương Vũ Đế chẳng thấy nghĩa này, cho rằng đoạn kinh văn trên chẳng phải thứ lớp của kinh mà thuộc phẩm khác; nếu đạt được ý bất tịnh thành thanh tịnh thì chính là phạm hạnh chứ chẳng phải phẩm khác. Văn có hai: Trước nói khởi ác, sau nói diệt ác.
Thứ nhất có ba ý: Một, là nói về nhân ác. Thích chém giết, miệng phạm bốn điều ác, tâm ác đầy dẫy, đó là nhân của mười điều ác.
Hai là nói về duyên ác, tức chỉ dùng kẻ ác làm quyến thuộc.
Ba là từ câu “Tham đắm v.v...” trở xuống chính thức nói về việc gây ra điều ác.
Từ câu “hại rồi v.v…” trở xuống là thứ hai, nói về diệt ác. Có ba: Một, là diệt nhân ác; hai, là diệt duyên ác; ba, là chánh diệt ác.
Thứ nhất có bốn câu: Một là diệt nhân ác Hai, là tin sâu nhân quả.
Ba, là người mẹ thoa thuốc. Bốn là tự cảm thương.
Từ câu “Bấy giờ v.v...” trở xuống là ý thứ hai nói về diệt duyên ác, có hai: một, là người ác làm duyên; hai, là người lành làm duyên.
Hỏi: Làm ác có thể dùng người ác làm duyên, nay nói về diệt ác, vì sao lại dùng người ác?
Đáp: Người ác khuyên làm ác, nếu chẳng theo lời ác thì diệt được duyên tội.
Hỏi: Nếu thế, người lành khuyên làm lành, nếu chẳng nghe theo lời lành mà làm ác, vậy người lành cũng làm duyên ác ư?
Đáp: Vừa xem qua thì cũng có ý này. Như kinh Đại Niết-bàn vừa là cam lộ vừa là thuốc độc. Nếu xét kỹ thì chẳng giống. Tâm Phật vốn chẳng vì chúng sinh mà làm duyên phiền não, vì thầy chẳng nhận lời khuyên, thì tự đó là duyên ác. Chẳng nhận lời khuyên làm ác thì tự thầy trở thành duyên lành. Tất cả đều do thầy, đều do tự tâm người làm duyên ác thì y cứ theo sáu vị quan làm sáu chương. Mỗi chương đều có bốn ý riêng: một, vị quan vào triều tâu; hai, là vua đáp; ba, là tâu vua, nói về nơi diệt tội; bốn, là nói lời quy y.
Xưa cho rằng vua A-xà-thế là thật, điều này chẳng đúng, có chỗ cho là Ứng, hoặc cho là dụng của pháp giới. Nhưng đó đều là phương tiện khéo léo của bậc thánh. A-xà-thế là khai phương tiện nghịch để nói lên oai lực của kinh có công năng diệt ác.
San-xà-da, kinh Tịnh Danh ghi là Dạ, là hai âm nhẹ và nặng. Đây là chữ San thi định thể.
A-kỳ-đa là tên, Xí-xá là y cũ rách, Khâm-ba-la là y báu xưa.
Chữ tĩnh có hai âm là Tĩnh và Tịnh. Phần nhiều dùng âm Tịnh.
Về thể của chữ cũng có hai: một là bộ phụ; hai là bộ huyệt, phần nhiều dùng bộ huyệt.
Từ câu “Bấy giờ thầy thuốc, v.v...” trở xuống là nói về người lành làm duyên. Có hai người là anh và cha. Thứ nhất có bốn câu: Một, là Kỳ-bà hỏi; hai, là vua đáp; ba, là khuyên đến nơi Phật trụ; bốn, là hổ thẹn chưa chịu đi. Thứ nhất là Kỳ-bà, Hán dịch là Cố Hoạt Đồng Tử. Khi mới sinh ra, tay đã cầm hộp thuốc, tay cầm ống đựng kim. Thuở xưa, ông đã nguyện làm thầy thuốc chữa trị cho mọi người. Từ đức mà đặt hiệu, nên dịch là Cố Hoạt, là con của cô gái Am-la.
Thứ hai, là vua dùng kệ đáp có bảy mươi câu và một ít văn xuôi, chia làm ba: Một, gồm bốn mươi sáu câu nói chung về người ngủ yên giấc; hai, là hai mươi bốn câu nói chung về người ngủ chẳng yên giấc; ba, phần văn xuôi nói vua không yên giấc.
Văn thứ nhất lại có bốn đoạn: Một, là gồm mười sáu câu nói về Đức Phật ngủ an ổn; hai, là hai mươi hai câu nói về Bồ-tát ngủ được an ổn; ba, là bốn câu kết luận về Đức Phật; bốn, là bốn câu kết luận về
Bồ-tát.
Trong phần nói về Đức Phật lại chia thành hai đoạn: một, là tám câu đầu nói về lìa sinh tử được Niết-bàn; hai, là tám câu cuối nói về lìa tội ác được Thường trụ.
Chỉ có chư Phật mới thật không ngủ, vì không còn phiền não, trụ trong tánh an vui. Theo nghĩa mà nói là ngủ nghỉ an ổn.
Thứ ba như văn kinh có ghi.
Từ câu “chúng sinh thầm hợp với vô minh” v.v… trở xuống là đoạn thứ hai nói về người ngủ chẳng an ổn. Có hai: Một, là mười hai câu đầu thuộc về pháp thuyết; hai, là mười hai câu kế thuộc về dụ thuyết.
Nói Thái tử chưa nối ngôi, tức tiên đế chưa băng, ngôi kế thừa chưa được lập, bốn phương chưa thái bình thì ngủ nghỉ chẳng yên, chẳng phải nói Đông cung ngủ nghỉ chẳng yên.
Từ câu “Này Kỳ-bà v.v...” trở xuống là đoạn ba, một ít văn xuôi tự nói mình chẳng yên ổn ngủ nghỉ. Có hai: Một là nêu lên; hai là giải thích, phần nêu lên lại có hai ý: Một, là nếu bị bệnh nặng.
Thứ hai, là nói không có thầy.
Từ câu “Vì sao v.v...” trở xuống là giải thích hai việc. Trước là giải thích bệnh nặng, sau là giải thích không có thầy thuốc.
Từ câu “Kỳ-bà đáp v.v...” trở xuống là đoạn ba, Kỳ-bà an ủi, khuyên đến chỗ Phật. Văn có hai đoạn: Một, là đáp hai ý nghĩa ở trước; hai, là chỉ thuốc hay cho vua.
Văn thứ nhất lại có bốn ý: một, vì vua có đức nên phạm tội nhẹ; hai, người không có năm đức nên phạm tội nặng; ba, kết luận không  có bốn đức là hạng Nhất-xiển-đề; bốn, kết luận vua có năm đức, nên chẳng phải Nhất-xiển-đề.
Đầu tiên có năm đức, trong đó chỉ nói bốn đức, lược bỏ một việc là gần gũi bạn lành. Đã dùng dưới để đối chứng với trên, theo lý thì trên phải có, nhưng Kỳ-bà chính là việc gần gũi bạn lành, nên chẳng nói qua. Nói bốn đức: Một, vua biết hổ thẹn; hai, vua biết sám hối; ba, vua biết phát lộ, phát lộ sám hối về địa thể thì tương tự, nhưng cũng có một vài điều khác nhau; sám là sám trừ, hối là hối lỗi; còn phát lộ tức tỏ bày lỗi lầm đã phạm cho người biết; bốn, là nói vua có tín tâm.
Nhưng bốn việc đã có mà chưa tin lời Kỳ-bà. Nếu chắc chắn tin thì tức là bạn lành, vì chưa chắc chắn cho nên chỉ nói bốn đức mà thôi.
Từ câu “Nếu có chúng sinh v.v...” trở xuống là thứ hai, nói người kia không có năm đức nên tội nặng.
Gây ra tội tức là không có đức phát lồ, che giấu không ăn năn tức
là không có đức sám hối. Chậm chạp ngu độn tức là không có đức hổ thẹn, chẳng thấy nhân quả tức là không có đức tín tâm, chẳng thưa hỏi tức là không có đức hiểu biết.
Từ câu “Vì sao v.v...” trở xuống là đoạn ba, theo nghĩa không có năm đức mà kết luận là Nhất-xiển-đề.
Từ câu “vì sao người tội v.v…” trở xuống là y cứ có năm đức kết luận chẳng phải Nhất-xiển-đề.
Từ câu “Như vua nói v.v...” trở xuống là phần thứ hai, chỉ bày thuốc cho vua. Văn có hai: Một, là chỉ thầy thuốc; hai, là chỉ thuốc  hay.
Tất-đạt-đa, Hán dịch là Thành Lợi.
Từ câu “Rõ biết các căn v.v...” trở xuống là đoạn hai, chỉ bày thuốc hay. Thuốc tức là thắng pháp, thuốc hay và thầy thuốc rõ ràng là bên nhau, vì sao nói là không có thuốc hay. Văn có hai: Một, là nói về căn cơ.
Kế là từ câu “Hiện nay v.v...” trở xuống là nói về thuyết pháp, có hai ý là chung và riêng.
Đầu tiên là nói về thuyết pháp chung cho tất cả.
Kế là từ câu “Đó là v.v...” trở xuống là nói pháp riêng. Nói riêng có hai: Một, là y cứ theo hai pháp; hai, là y cứ theo ba pháp.
Nói có không tức hai đế, nói hữu vi vô vi là phiền não Niết-bàn, nói hữu lậu vô lậu tức bốn Đế, quả phiền não là khổ tập, quả pháp lành tức đạo diệt.
Từ câu “Sắc pháp v.v...” trở xuống là nói ba pháp.
Sắc, phi sắc, chẳng phải sắc chẳng phải phi sắc, các sư Số Luận Tỳ-đàm cho rằng sắc là mười một sắc, phi sắc là pháp tâm, tâm số; chẳng phải sắc, chẳng phải phi sắc tức là mười bốn pháp bất tương ưng hành. Các Luận sư Thành Thật cho rằng sắc là mười bốn sắc, phi sắc là tâm pháp, phi sắc chẳng phải phi sắc, tức là vô tác. Các Sư Trung Quán cho rằng sắc là sắc pháp, phi sắc là tâm, phi sắc chẳng phải phi sắc, tức Trung đạo Đệ nhất nghĩa xa lìa hai bên. Hai bên đều xa lìa này chỉ mới là Tục đế, đâu thể thành Trung đạo?
Ở đây cho rằng chẳng đúng. Trước nói hai Đế, còn ở đây nói ba Đế, trong đó sắc tức tục, phi sắc tức chân, phi sắc chẳng phải phi sắc tức Trung đạo Đệ nhất nghĩa đế. Tự làm tự chịu rất dễ hiểu. Ở đây nói tự làm tự chịu, văn sau lại nói: Không có ta làm mà người khác chịu quả, hai văn mâu thuẫn nhau, nhưng mỗi văn đều có nghĩa để y cứ, nay hãy giải thích: Nói ta làm người khác chịu, có người nói rằng: “Như do mọi
người phát tâm mà khiến cho tội của vua trừ diệt”. Lại các công đức mà các Bồ-tát có được đều ban cho chúng sinh, chúng sinh được an vui, đó cũng gọi là tha thọ (người khác được hưởng). Chẳng đúng như thế, tự làm tự chịu là từ giả vào không, chẳng làm chẳng thọ là Trung đạo. Các văn đều như thế. Văn sau nói: “Nếu đến chỗ Phật, nghe được nghĩa chẳng làm chẳng thọ thì tội liền tiêu diệt”, nên biết đó là Trung đạo.
Từ câu “Đại vương hãy lắng nghe! v.v...” trở xuống là đoạn hai, khuyên đến chỗ Phật. Văn có ba phần:
  • Dẫn rộng mười ba việc khi xưa để khuyên
  • Nói tâm Phật bình đẳng để khuyên
  • So sánh phước đức để khuyên.
Theo thứ lớp từ xưa đến nay, xưa làm người ác đều đến gặp Phật thì tội tiêu trừ. Tâm Phật bình đẳng chẳng xem trọng xưa bỏ nay.
Đầu tiên là nói mười ba việc, có hai đoạn: một, là chính thức nêu các việc.
Thứ hai là từ câu “Nếu Đại vương v.v...” trở xuống là tổng kết ý dẫn chứng.
Từ câu “Tâu đại vương v.v...” trở xuống là đoạn hai, tâm Phật bình đẳng không phân cách.
Thứ ba là từ câu “Dù cho v.v...” trở xuống là so sánh phước cao quý.
Từ câu “Bấy giờ, nhà vua đáp v.v...” trở xuống là đoạn bốn, vì hổ
thẹn nên chẳng chịu tin theo.
Từ câu “Bấy giờ v.v...” trở xuống là đoạn hai, nhà vua làm duyên.
Văn có bốn đoạn:
  • Trên hư không phát ra tiếng nói
  • Vua hỏi ngược lại
  • Vua cha nói thật
  • A-xà-thế buồn thảm ngất đi
Thứ nhất lại có ba ý: Một, là nói Phật pháp sắp diệt nên  khuyên bảo.
Từ câu “Nay Đại vương v.v...” trở xuống là ý thứ hai, vì tội nặng
sẽ vời lấy quả địa ngục cho nên khuyên bảo.
Từ câu “Nay tôi biết v.v...” trở xuống là tổng kết hai việc, khuyên hãy đến gấp.
Thứ hai là vua hỏi.
Thứ ba là tiên vương nói thật.
Thứ tư là vua A-xà-thế buồn thảm ngất đi.
Hỏi: Nhà vua đã chết, vì sao có tiếng nói?
Đáp: Có hai ý: Một, là nhà vua đã đắc đạo, tuy bị giết nhưng chẳng chết, vì thế có thể khuyên; hai, là chẳng phải là nhà vua khi xưa, chính là các Thánh gá mượn làm tiếng của nhà vua.
 
----------------------------------
PHẨM 20: PHẠM HẠNH (PHẦN 5)
 
Đầu quyển là phần thứ ba nói về diệt tội. Toàn văn có hai đoạn là trụ thế và diệt tội. Văn thứ nhất lại có hai là trụ thế và nói về nghĩa.
Luận nghĩa: Trước hỏi, sau đáp.
Đáp có hai: Một, là chánh đáp; hai, là mật ngữ.
Nghĩa là đồng ở tại Song lâm thì đều biết Phật chẳng diệt độ, chỉ có vua A-xà-thế cho là diệt nên phải nói cho ông ấy nghe.
Từ câu “Như ta v.v...” trở xuống là đoạn hai, mật ngữ của Như Lai. Có ba ý: một, là xướng mật ngữ; hai, là giải thích; ba, là kết luận khen ngợi.
  1. Xướng mật ngữ như văn kinh.
  2. Giải thích có sáu phần:
Một, nói rằng lời này bao gồm nhiều nghĩa tức là chung cho tất cả.
Hai, nói chẳng là vô vi, có ba cách giải thích: Một, là cho rằng Bát địa trở lên là chúng sinh vô vi; hai, là nói Sơ địa trở lên chân chứng mới là vô vi; ba, cho rằng đã tự nói vô vi tức chẳng phải chúng sinh, nên biết quả Phật mới gọi là chúng sinh vô vi.
Ba, lại nói chúng sinh trong lý đều là vô vi. Nhưng chẳng những các sư có các kiến giải khác nhau, mà trong kinh nói cũng khác nhau. Văn kinh nói: “Vì tức là vì tất cả”, lại nói: “Vì người gây ra năm tội ngịch, năm tội nghịch và tất cả”, hai nghĩa khác nhau.
Bốn, lại nói vì người chưa phát tâm. Sau đó lại ghi: “Người đã phát tâm vào thời Phật Tỳ-bà-thi, phát tâm và chưa phát tâm khác nhau”. Nói “vương tức là người chẳng thấy Phật tánh, đầy dẫy phiền não”.
Năm, lại nói “vua A-xà-thế tức chẳng sinh”, chẳng sinh gọi là Niết-bàn, Niết-bàn há chẳng thấy tánh ư?
Sáu, có người cho rằng mật ngữ là hiểu biết khác nhau. Ở đây nói mật ngữ của Như Lai, đâu thể nhất định là sâu, cạn, xa, gần được?
  1. Từ câu “Mật ngữ v.v...” trở xuống là thứ ba, kết luận khen ngợi chẳng thể nghĩ bàn.
Từ câu “Bấy giờ v.v...” trở xuống là thứ hai, nói về diệt độ. Văn có hai: trước là thân, sau là tâm.
Cho nên kinh ghi: “trước trị thân bệnh cho vua, sau mới đến tâm”. Vì trước vua nói không có thầy thuốc trị thân tâm. Do đó phát ra ánh sáng trị thân bệnh, nói pháp trị tâm bệnh. Thứ nhất trị thân, văn có hai ý: Một, là phát ra ánh sáng; hai, là nói về ánh sáng. Phát ra ánh sáng
như văn kinh có ghi.
Từ câu “Vua biết v.v...” trở xuống là phần hỏi đáp thứ hai, nói về ánh sáng. Có năm câu, trong đó gom vào hai: bốn phần đầu nói về ánh sáng; một phần sau là giải thích Tam-muội Nguyệt ái. Trong bốn phần đầu, mỗi phần đều có hỏi và đáp. Ba phần trước như văn kinh có nói.
Nói trong bảy người con có một người bệnh, có ba cách giải thích: Một, là dụ chung cho sáu đường, riêng những kẻ có tội là dụ cho một người con bị bệnh; hai, là sáu bậc Bồ-tát của trụ vị cộng với ngoại phàm là bảy, trong đó ngoại phàm là bệnh; ba, là bốn quả Thanh văn, Bích- chi-phật và Bồ-tát là sáu, cộng với ngoại phàm là bảy, một người con bị bệnh là dụ cho ngoại phàm khởi ác.
Ở đây nói chẳng đúng, văn ghi: “Trong bảy người con có một người bị bệnh”, chớ đâu nói ngoại phàm bị bệnh. Vả lại nói rằng tất cả chúng sinh là con của ta, như trước đã giải thích, hoặc tiến hay lùi cũng chẳng gồm thâu trọn nghĩa. Nay lấy các căn tánh giai vị Thất phương tiện của Viên giáo và bảy người con, trong bảy người này, người nào khởi tâm nghịch ác, thì Như Lai nhớ nghĩ đến nhiều hơn.
Nói sáu trụ có hai cách giải: Một, là sáu địa chân giải; hai, là sáu tâm tự giải.
Phần sau giải thích Nguyệt ái, trước nêu Tam-muội mà Như Lai đã nhập, kế là hỏi, kế là giải thích.
Đoạn trên mỗi câu đều nêu mặt trăng làm dụ, có sáu câu.
Từ câu “Vua bèn nói v.v...” trở xuống là ý thứ hai, diệt tội của tâm. Có hai phần, trước nói về duyên của tội, sau là diệt tội. Thứ nhất có bốn: Một, là tự chưa phát tâm; hai, là nhận lời khuyên mà đến; ba, là Như Lai khen ngợi; bốn, là đến chỗ ở của Phật.
Trong phần nói chưa phát tâm lại có hai phần hỏi đáp: Một, là vua chẳng thể phát tâm; hai, là Kỳ-bà khuyên đến chỗ Phật.
Phần thứ hai nói về Nhất-xiển-đề, trước hỏi sau đáp.
Trong lời đáp, trước nêu dụ, sau là hợp. Dụ có bốn: Một, là Nhất- xiển-đề dứt mất gốc thiện; hai, là căn duyên cảm Phật; ba, là điều thiện chẳng thể sinh; bốn, là vì đó mà nói pháp.
Văn thứ nhất lại có hai: Một, là nói về khởi năm độn sử; hai, là nói về khởi năm lợi sử. Thứ nhất lại có hai ý: một, là khởi ác; hai, là mất điều thiện.
Khởi ác chia làm hai ý: Một, là nói chung về khởi ác; hai, là nói riêng về năm độn sử.
Có hai câu: Đầu tiên là nói về người bệnh, dụ cho  Nhất-xiển-đề
có trọng ác; thứ hai nói nằm trong mộng là dụ cho tâm vô minh, lên điện một trụ là dụ cho Nhất-xiển-đề cắt đứt gốc thiện của hiện tại và vị lai, chỉ còn một ít gốc thiện ở quá khứ. Báo thân được cảm dụ như ngôi điện chỉ còn một cây trụ sắp ngã đổ.
Kế là từ câu “Uống dầu bơ, ăn mỡ v.v...” trở xuống là ý thứ năm nói khởi riêng năm độn sử.
Phàm ái sử nhờn dính dụ như dầu bơ, tham dục nhuần thấm dụ như mỡ, ở miệng thì gọi là uống, ở thân thì gọi là xoa, ý nói chung cho thân và miệng. Nằm trên tro, ăn tro dụ cho tâm khởi sân sử, thể của sân mạnh mẽ nhanh chóng nên dụ như tro, độc khởi ở miệng thì ăn tro nóng, ý nói chung thân và miệng. Leo lên cây khô dụ cho khởi mạn, tự cao kh- inh thường người. Vì sao chẳng nói trèo lên cây tươi tốt? Nếu bậc Hiền thánh tự cao thì có thể dụ cho cây tươi tốt. Còn đây là dùng điều ác để tự đề cao nên dụ cho cây khô. Hoặc thấy cùng với khỉ vượn v.v... là dụ cho tâm khởi nghi sử. Nghi sử chẳng nhất định, như khỉ vượn leo trèo, chuyền từ cành này đến cành khác, bỏ một bắt một, dụ cho tâm nghi mà cầu lý thì chấp có chấp không, hoặc nói là ngã vô ngã. Vả lại khỉ vượn giống như người mà thật chẳng phải người, dụ cho tâm tưởng rằng đã được lý mà thật chưa được lý. Trầm mình trong bùn nước v.v... là dụ cho vô minh, nhẹ thì như trầm trong nước, nặng thì như lún trong bùn.
Từ câu “Rơi từ v.v...” trở xuống là thứ hai, nói về mất gốc thiện.
Có hai ý: trước mất ba phẩm, sau nói mất ba thừa.
Nói té từ lầu là dụ cho việc mất tuệ; lầu là nơi để nhìn ra xa, dụ cho trí tuệ hiển bày soi chiếu khắp nơi, mà nay rơi té thì biết mất phẩm tuệ. Té từ núi cao là dụ cho mất giới, té từ cây khô là dụ cho mất phẩm định.
Kế là dụ cho mất ba thừa.
Xét ý văn này lẽ ra có bốn thừa kế nhau, nhưng chỉ nói mất ba thừa. Bốn thừa đều có lời văn nói đọa lạc, nhưng văn đã lược bỏ.
Từ câu “Thân mặc v.v...” trở xuống là thứ hai, khởi lên lợi sử. Có hai ý là khởi lợi sử và khởi các duyên ác khác.
Thân mặc quần áo là dụ ngã kiến khởi, như người chấp ngã có bốn thứ khác nhau: Bà-la-môn chấp là vàng; Sát-lợi chấp là đỏ; Tỳ-xá chấp là xanh; Thủ-đà-la chấp là đen. Vui cười ca múa dụ cho là kiến chấp khởi; đối với không vui mà nghĩ là vui, đối với không cao quý mà tưởng là cao quý. Quạ, kên kên, chồn là dụ cho tà kiến khởi, bốn loại này đều ăn thịt nên dụ cho tà kiến ăn nuốt gốc thiện. Răng tóc rụng là dụ cho biên kiến, tức hai bên đoạn thường, nay chỉ nói đoạn kiến. Trần
truồng, gối đầu trên chó là dụ cho giới thủ, tức giữ giới chó, chó là loài đầu tiên được tin theo, nên nói gối đầu trên chó.
Nay nói thêm rằng: Ở đây hoàn toàn là chấp năm ấm, nên nói nằm trong phân dơ”.
Từ câu “Lại thấy cùng với v.v...” trở xuống là ý thứ hai, khởi lên lẫn lộn nhiều duyên ác, gặp tri thức xấu ác. Vong là người chết đã dụ cho dứt mất gốc thiện đã hết.
Nay cho rằng bốn oai nghi đều vận động thì không có chỗ để sinh ra điều thiện, nên nói là đi, đứng, nằm, ngồi.
Điều thiện vừa sinh thì tà niệm vừa khởi, nên nói dắt tay nhau. Dùng tà để tư dưỡng thân tâm nên nói là ăn nuốt. Rắn dụ cho đa sân.
Nay nói thêm rằng: Hành xứ của tâm sở thường tương ưng với sân.
Nên nói: Đi trên đường đầy rắn.
Người nữ búi tóc dụ cho người nặng về ái; y phục lá cây là dụ cho người không biết hổ thẹn; đi trên xe lừa hư là dụ cho pháp ác tự vận hành. Chánh nam có ba cách giải: Một, cho rằng Nam là đất ly, Bắc là đất khảm, bỏ khảm về lìa dụ cho mất điều thiện, khởi ác; Hai, là theo các phương thì Bắc là phương trên dụ cho người đã dứt bỏ gốc thiện, từ trên cao rơi xuống; ba, là thiên tử ngồi quay mặt về phương Nam tự do giết tha, tức người này có tà kiến, chấp không có nhân quả. Tâm này tự do thì thân càng bệnh nặng, dụ cho các điều ác ngày càng nặng thêm.
Từ câu “Vì bệnh tăng v.v...” trở xuống là đoạn hai, nói về nhân duyên chiêu cảm Phật.
Bệnh tăng dụ cho tâm dứt mất điều thiện càng nặng. Về thân quyến, có ba cách giải: một, là nói giới quá khứ là nghiệp lành, nên cảm được thân này, chỉ nói pháp lành này tồn tại nên dụ như thân quyến; hai, là cho rằng Nhất-xiển-đề dứt mất gốc thiện của hiện tại và quá khứ, nhưng điều thiện ở tương lai mới sinh đều có khả năng làm Phật nên gọi điều thiện chưa sinh là quyến thuộc; ba, là chẳng phải như thế, tự có pháp lành chiêu cảm Phật, tự có pháp ác chiêu cảm Phật. Nhất- xiển-đề chỉ dùng pháp ác cảm ác làm quyến thuộc. Liền sai người mời thầy thuốc, thân hình xấu xí lùn thấp: Nếu cho điều thiện là người đi mời thầy thuốc thì điều thiện này bị điều ác chữa trị, nên nói là lùn thấp. Nếu cho điều ác là người đi mời thì đạo lý ác này tự kém xấu, gốc thiện yếu mỏng nên gọi là khuyết, không có tín nên gọi là lùn thấp.
Nói thêm rằng: Tín v.v... Chẳng đủ nên nói các căn chẳng đầy đủ.
Đầu tóc đầy bụi tóc dụ cho năm trụ che phủ. Mặc áo quần rách nát

là dụ cho không biết hổ thẹn. Ngồi trên xe hư dụ cho việc nhờ vào gốc thiện đời trước cảm vời được thân này, nhưng thiếu kém gốc thiện.
Nay nói thêm rằng: Cơ duyên thầm hợp, thầy thuốc mau chóng. Lên xe là dụ cho tâm hy vọng có cảm ứng.
Từ câu “Bấy giờ thầy thuốc v.v...” trở xuống là ý thứ ba, quán điều thiện chẳng thể sinh, có hai đoạn: một, là quán sát; hai, là chấp thuận. Thứ nhất lại có hai: Một, là sơ quán căn cơ; hai, là quán sát kỹ một lần nữa.
Đầu tiên vừa quán cơ, đã chẳng thấy gốc thiện, Đức Phật vẫn chưa muốn xả bỏ nên quán xét lại.
Thứ hai, là từ câu “Lại suy nghĩ v.v...” trở xuống là quán xét lại. Văn có hai: Một, là quán hiện tại; hai, là quán quá khứ. Quán hiện tại có ba ý: Một, là xem ngày dụ cho người thượng căn; hai, là xem tinh tú dụ cho hàng trung căn; ba, là xem thời dụ cho kẻ hạ căn. Về thời nói ban đêm tức dụ cho hàng Nhất-xiển-đề thấp kém nhất. Tinh tú kém hơn ngày nên dụ cho trung phẩm. Nhất-xiển-đề tuy có ba phẩm nhưng đều đã dứt hết gốc thiện.
Ngày mồng bốn dụ cho bốn đảo; ngày mồng sáu dụ cho sáu tệ; ngày mồng tám dụ cho tám tà; ngày mười hai là bác bỏ mười hai nhân duyên, cũng dụ cho mười hai ngã kiến; ngày mười bốn là bác bỏ không có mười bốn đế. Mười bốn Đế xuất xứ từ kinh Hoa Nghiêm. Mười bốn đế là Tướng đế, sai biệt đế, Sự đế, Sinh khởi đế, Tận vô sinh đế, Thuyết nhập đạo đế, Như Lai trí thành tựu đế...
Xem sáu vì sao là dụ cho được sáu vị giáo chủ ngoại đạo chỉ dạy.

Xem năm thời là dụ cho việc đã dứt mất gốc thiện của năm thừa.
Từ câu “Lại suy nghĩ rằng v.v...” trở xuống là ý thứ hai, quán gốc
thiện đời quá khứ.
Quán cả hai đời đều không có gốc thiện.

Từ câu “Suy nghĩ rồi v.v…” trở xuống là ý thứ hai, chấp nhận. Văn có ba đoạn: một, là chấp nhận; hai, là chính thức chấp nhận. Thứ nhất có hai câu: một, là chấp nhận; hai, là quán sát lại.
Nói cùng đi với người kia, tức vừa chấp nhận thì đường cảm ứng liền giao nhau cho nên gọi là “cùng đi với”.
Từ câu “Đi trên đường v.v...” trở xuống là quán sát lại. Văn có hai là quán hiện tại và quán vị lai.
Nói hai đứa bé dụ cho đoạn thường, hữu vô. Thấy cầm lửa tự nhiên tắt, tức lửa mà chẳng phát ánh sáng, dụ cho mất tuệ. Chặt cây cối

dụ cho mất định. Kéo tấm da dụ cho mất giới phẩm. Nhất-xiển-đề tuy có thọ mà không vâng giữ giống như tấm da khô. Vật rơi trên đường là điều thiện xuất thế đã hết. Tuy có các điều thiện như vợ con, thân thuộc nhưng đó là điều mà bậc Thánh vất bỏ. Thùng không là nói tuy có thân mà chẳng có đạo đáng ưa thích. Sa-môn độc hành là cho pháp xuất thế là độc nhất không có thân thuộc. Thấy cọp sói là thú ăn thịt dụ cho pháp ác ở hiện tại ăn nuốt hết pháp lành.
Từ câu “Lại thấy v.v...” trở xuống là quán vị lai. Có hai ý là quán nhân vị lai và quán quả vị lai.
Nói đứng phía trước, tức nói thân sau cũng chưa sinh điều thiện. Từ câu “Lại nghe v.v...” trở xuống là quán quả vị lai.
Tức quả báo ở ba đường. Tiếng chim thú dụ cho âm thanh chịu khổ.
Từ câu “Bấy giờ v.v...” trở xuống là chính thức nhận chữa trị. Có hai ý: một, là dụ; hai, là quán xét.
Dụ thứ nhất là vào nhà, tức bỏ bản địa mà vào sinh tử, nên nói là “vào nhà người bệnh”.
Từ câu “Thấy người bệnh v.v...” trở xuống là quán xét lại, có hai là quán hiện tại và quán quá khứ.
Quán hiện tại có bốn: Quán ba độc, quán năm căn, quán mười sử, quán ba nghiệp. Thứ nhất, ba độc là lạnh ngưng kết, dụ cho si, nóng thì đột biến dụ cho tham. Văn lược bỏ không nói sân.
Kế nói về xương cốt chi thể đau nhức là dụ cho năm căn.
Xương cốt chi thể là thân căn, mắt đỏ là nhãn căn, tai ù là nhĩ căn, cổ họng là thiệt căn, lược bỏ không nói là tỷ căn.
Thứ ba, từ câu “Sắc tướng v.v...” trở xuống là nói quán mười sử.
Mầu đen dụ cho vô minh sử, đầu chẳng cất lên nổi là dụ cho mạn sử, muốn khinh mạn tự cao mà chẳng được. Thân khô không có mồ hôi là dụ cho sân sử không được thấm nhuần. Đại tiểu tiện chẳng thông dụ cho hai chấp đoạn thường. Thân phù dụ cho ngã kiến.
Lời nói là khẩu nghiệp, toàn thân da nổi xanh vàng là thân ng- hiệp, bụng đầy hơi là ý nghiệp.
Từ câu “Thầy thuốc thấy vậy v.v...” trở xuống là đoạn hai, quán lại quá khứ, gồm có hai: một, là quán xét căn duyên.
Nói “từ hôm qua đến giờ, há chẳng phải là quá khứ hay sao”? Kế là nói căn duyên đối đãi.
Nêu năm câu, một câu đầu mất tâm lành xuất thế, bốn câu sau nói mất tâm lành thế gian: Một, là mất tâm lành kính tin Tam bảo; hai, là
mất tâm lành tuệ trí; ba, là mất tâm lành ít ăn và nhường nhịn; bốn, là mất tâm lành bạc ác; năm, là mất tâm lành từ hiếu.
Đã nói Tam bảo thì biết là xuất thế, còn bốn câu sau là điều thiện thế gian, như văn kinh có ghi. Nói vốn tánh bạc ác nay thuần thiện, ng- hĩa là chỉ có tâm thuần thiện là yêu thương vợ con, còn nói bạc ác tức là tâm lành mạnh mẽ bảo vệ chánh pháp.
Từ câu “Thầy thuốc nghe rồi v.v...” trở xuống là đoạn thứ tư, nói pháp. Văn có ba ý là nói pháp, thân giáo hóa và tuyệt ứng. Nói pháp có hai ý: một, là vừa nghe liền nói; hai, xét cùng tận mà nói pháp lại.
Nói ngửi người bệnh là dụ cho vừa xem qua vừa nói pháp. Bảy mùi thơm dụ cho bảy lậu, năm mùi hôi dụ cho năm dục.
Từ câu “Liền xúc chạm v.v...” trở xuống là xét đến cùng tận mà nói pháp.
Chuyển lại gần nhau, như chạm vào thân thì chỉ thấy ba độc.
Từ câu “Lại nói với v.v...” trở xuống là ý thứ hai thôi giáo hóa.
Nói bây giờ ta bận việc là đi giáo hóa các nơi khác. Nói sáng mai trở lại là nói hiện tại không có nội tâm, hóa duyên đã hết, vả lại đó là chỉ cho vị lai sâu xa. Nói tùy ý chớ cấm ngăn thì chẳng phải điều Phật chế.
Từ câu “Sáng hôm sau v.v...” trở xuống là nói về tuyệt ứng.
Người đến rước là dụ cho việc lại cảm đến Phật. Điều thiện chẳng sinh nên nói la “việc của ta chưa xong”.
Từ câu “Tâu Đại vương v.v...” trở xuống là hợp dụ. Văn có ba: một, là chánh hợp; hai, là phân biệt Nhất-xiển-đề; ba, là vào ba đường cứu giúp.
Phần chánh hợp chỉ lược hợp với đại ý, nếu so sánh với dụ ở trước thì chỉ hợp với hai ý sau, chẳng hợp với hai ý trước. Đầu tiên là hợp với ý thứ tư nói pháp. Sau là hợp với ý thứ ba quán điều thiện chẳng thể sinh.
Từ câu “Nhất-xiển-đề v.v...” trở xuống là thứ hai, phân biệt người Nhất-xiển-đề.
Nói đời này hoặc đời sau, nếu nói ngay nơi Sự thì ba đời đều không; nếu y cứ theo mà so sánh thì có nghĩa sinh điều thiện. Lại có hai ý: đầu tiên là giáo hóa khi tu nhân, sau là cứu độ khi đắc quả.
Từ câu “Thí như v.v...” trở xuống là thứ ba, vào ba đường để cứu giúp chúng sinh.
Từ câu “Vua bảo Kỳ-bà v.v...” trở xuống là đoạn ba, nhận lời khuyên mà đến chỗ Như Lai trụ.
Từ câu “Bấy giờ, Phật bảo v.v...” trở xuống là đoạn ba, Như Lai khen ngợi. Văn có bốn ý: Một, là vua nghi ngờ. Hai, là Phật vì vua mà quyết định. Ba, là Bồ-tát Trì Nhất Thiết hỏi. Bốn, là Phật đáp.
Nghi là nghi trí Phật chẳng biết có diệt được tội hay không, nghi tội mình chẳng biết có diệt được hay không.
Từ câu “Nay ta v.v...” trở xuống là Phật quyết định. Dùng trí năng trừ để diệt tội sở trừ.
Thứ ba là từ câu “Bấy giờ v.v...” trở xuống là Bồ-tát Trì Nhất Thiết thưa hỏi.
Phật nói tất cả đều không nhất định, vì sao lại vì vua mà nói là nhất định.
Từ câu “Phật nói v.v...” trở xuống là Phật đáp.
Vua tự cho rằng có thể trừ, chẳng thể trừ. Ta vì người mà trừ, trừ tâm bất định mà làm cho nhất định.
Từ câu “Bấy giờ v.v...” trở xuống là đoạn bốn, nói về trụ xứ Phật.
Có bốn: một, là vua đến.
Hai, là Thế Tôn thăm hỏi. Như Lai dùng lời hòa diệu yêu thương gọi đến ta, gọi chung thì còn nghi ngờ, đến khi gọi riêng thì tâm vui mừng.
Thứ ba, là Ca-diếp thuật lại.
Bốn là vua vui mừng cúng dường, như văn kinh.
Từ câu “bấy giờ, người ấy bảo, v.v…” trở xuống là đoạn hai chính thức diệt tội. Có hai ý: một, là lược nói pháp; hai, là giảng nói rộng. Văn thứ nhất lại có hai là nói lược và lãnh giải. Nói lược có ba câu: một, là chấp nhận chỉ dạy; hai, là chánh nói; ba, là kết luận.
Trong phần chánh nói, đầu tiên nêu hai mươi việc, sau đó giải thích.
Trong phần giải thích, đầu tiên là nói không có chân pháp vô lậu, kế là nói không có hữu lậu tự giải. Chân và tự này là một cặp.
Kế là đầu tiên nói chung có nhân ác sinh tử, sau nói là đọa vào quả ác ba đường, hợp thành một cặp.
Thứ ba, đầu tiên là nói không có trí tuệ phương tiện, trước chứng đạo, sau nói không có năng lực tu định trước chứng đạo thành một cặp.
Thứ tư, trước nói bốn điên đảo sinh tử chỉ là khổ, vô thường. Sau nói chẳng thoát tám nạn. Đảo và nạn là một cặp.
Thứ năm, oán báo là một cặp.
Thứ sáu, đầu tiên là nói chẳng tránh khỏi quả khổ của ba đường. Sau nói chẳng tránh khỏi nhân khổ, hạt giống phược và quả phược là
một cặp.
Thứ bảy là một cặp vô thỉ vô chung. Thứ tám là cặp không hữu.
Thứ chín là một cặp nhân quả.
Thứ mười là một cặp ngu si, buông lung.
Nay y cứ theo ba Đế để giải thích hai mươi quán: một, là không có vô lậu, không có gốc thiện, đây là nói chân và tự trong chân đế; hai, là, nói sinh tử chưa được điều phục, hầm sâu đáng sợ hãi, đây là nói nhân quả trong tục đế đáng sợ; ba, là hai câu nói về Phật tánh, tức là nói không có năng lực định tuệ trước chứng đạo của Trung đạo; bốn, là nói bốn điên đảo là phiền não đạo, tám nạn khổ đạo, kẻ thù và các hữu là nghiệp đạo...
Từ câu “Kẻ phàm phu v.v...” trở xuống là ý thứ ba, kết luận nêu được mất.
Có quán hai mươi việc là được, không quán thì mất. Như văn kinh có ghi.
Từ câu “Vua bạch rằng v.v...” trở xuống là thọ lãnh, tin hiểu.
Từ câu “Bạch Đức Thế Tôn v.v...” trở xuống là đoạn hai, giảng nói rộng. Lại có ba: Một, là vua khởi chấp; hai, là Phật phá; ba, là vua vâng theo giáo hành trì.
Khởi chấp có bốn ý: Một, là chấp tội nặng; hai, là chấp nhà vua; ba, là chấp vô tội; bốn, là chấp nhất định bị đọa.
Chấp chặt bốn điều này thì hại cho việc nhập đạo, nên cần phải phá.
Từ câu “Phật bảo rằng v.v...” trở xuống là đoạn hai, Phật phá
chấp. Gồm có ba ý; là phá riêng, phá chung và kết luận khuyên bảo. Thứ nhất là phá riêng, tức phá bốn chấp nêu trên, nhưng chẳng theo thứ lớp. Đầu tiên là phá chấp thứ tư là chắc chắn sẽ đọa, có ba câu: một, là chánh phá.
Sát không có tướng nhất định, như kinh Phổ Hiền Quán ghi: “Tất cả các tội nghiệp đều từ vọng tưởng sinh, ngồi thẳng niệm thật tướng, biết tội như sương móc, mặt trời tuệ chiếu tan”. Nếu đạt được vọng tưởng thì tội nghiệp tiêu diệt. Vì không có nghiệp nên chẳng có đọa.
Kế là vua thọ lãnh, tin hiểu. Thứ ba là Như Lai xác định.
Từ câu “như lời nhà vua nói v.v...” trở xuống là đoạn hai, chấp nhà vua. Tuy gồm nêu chung câu nhà vua vô tội nhưng trước phá chấp nhà vua. Đầu tiên nói về nhân duyên giả có nên chẳng có nhà vua; kế
là nói niệm niệm sinh diệt, nên không thấy có nhà vua.
Trong các pháp, suy cầu tìm kiếm pháp được gọi là cha đều chẳng thật có. Nếu theo Thế đế, bẩm tánh con người tôn trọng tình cha con là lẽ tất nhiên. Nếu y cứ theo chân không thì các pháp bình đẳng không khác nhau. Đã không có cha con khác nhau, thì đâu có sắc hay giết và bị giết? Nói sắc có mười thứ tức năm căn, năm trần cho đến lẽ ra phải có bốn đại nhưng văn kinh đã lược bỏ. Đó cũng là gồm thâu năm trần thành bốn đại, bốn đại thành năm căn. Bốn đại thành năm căn tức bốn đại gồm thâu mười sắc. Năm trần thành bốn đại thì mười sắc gồm thâu bốn đại, cho nên chẳng nói rộng.
Từ câu “Tuy có thể v.v...” trở xuống là ý thứ hai, nói về niệm niệm sinh diệt nên vô tội.
Từ câu “Tội nặng v.v...” trở xuống là ý thứ ba, phá định chấp thứ nhất là có tội nặng.
Dứt tâm cao thấp, bỏ chấp phân biệt.
Từ câu “Vua Tần-bà-sa-la v.v...” trở xuống là thứ tư, phá chấp thứ ba là vô tội. Văn có hai: trước dẫn việc xưa, kế là nên chấp để phá.
Từ câu “Này đại vương v.v...” trở xuống là phần thứ hai, phá chung. Văn có ba đoạn: Một, là nêu bốn thứ điên đảo, dứt bỏ định chấp thật có; hai, là từ câu “Như trong cung vua, v.v...” là phá chấp không có tâm từ, không bình đẳng; ba, là từ câu “Như Niết-bàn v.v...” trở xuống là phá sự trệ ngại mất lý. Thứ nhất có hai là pháp và dụ.
Tâm tham cuồng mạnh mẽ làm đảo loạn tất cả. Thuốc cuồng làm mê muội như nước lửa xung đột; chú thuật cuồng thì ngang dọc làm điều phi pháp; nghiệp cuồng tức là do nghiệp chế phục khiến mất bản tâm. Vua không có ba loại sau, chỉ có tham cuồng, tham cuồng thì gây ra tội của tham.
Kế là dụ, có hai: Trước nói người say, sau nói việc huyễn. Người say gồm có hai, là trước dụ sau hợp.
Nêu dụ người say: Nếu lúc trước giận nhau, mượn rượu để mắng chửi người, thì chẳng gọi là say, do đây mà tạo tội thì có tội. Nhưng nếu khi say hoàn toàn không biết gì, hoàn toàn không tự chủ được, như thế nếu tạo tội thì không có tội.
Từ câu “Nay nhà vua, v.v...” trở xuống là hợp. Vua cũng như người say.
Từ câu “Thí như nhà ảo thuật, v.v…” trở xuống là nêu chín dụ huyễn hóa để phá chấp thật có. Mỗi dụ đều có trước là dụ, sau là hợp. Dụ thứ nhất chính thức nêu huyễn hóa để phá thật có.

Từ câu “Như trong cung vua, v.v...” trở xuống là thứ hai, phá chấp không có tâm từ, không bình đẳng.
Xem nặng sự chết: Người nào xem nặng sự chết mà xem nhẹ sự sống. Nay chẳng nói cho nên xem nặng sự chết, bất luận là người hay thú đều cho khổ chết là nặng, vì thế tiếc giữ sinh mạng và sợ chết thì người và thú chẳng khác. Nếu y cứ theo kiết giới thì phạm với người thì nặng, phạm với thú thì nhẹ. Đó là y cứ theo nghiệp thiện ác đời quá khứ mà nói riêng, chẳng nên so sánh nhau. Nếu y cứ theo thí thực, thì đây là y cứ theo tâm bố thí đồng duyên thật tướng cho nên bình đẳng, đây cũng là nói riêng.
Từ câu “Thí như Niết-bàn v.v...” trở xuống là đoạn ba, phá sự dính mắc hai bên mất lý. Như văn kinh có ghi.
Kế là dùng sự giết để hợp dụ. Có ba phen hợp như văn kinh.
Từ câu “Đại vương v.v...” trở xuống là kết luận khuyên quán hạnh. Trước khuyên quán vô thường.
Kế là từ câu “Nếu giết vô thường v.v...” trở xuống là khuyên quán thường, lạc, v.v...
Từ câu “Bấy giờ,...” trở xuống là đoạn ba, vâng hành. Văn có hai: trước nói về quán hạnh, sau nói về phát tâm. Quán hạnh có ba: một, là chính thức quán; hai, là thưa hỏi Phật; ba, là tự vui mừng.
Văn đầu tiên nói quán vô thường, lại nói thường là vì sao? Nếu chẳng quán thường thì chẳng biết quán vô thường. Nhờ quán thường  và vô thường mà thông đạt được chẳng phải thường chẳng phải vô thường.
Từ câu “Quán rồi v.v...” trở xuống là thứ hai, thưa hỏi Phật.
Thứ ba, từ câu “Xưa con có nghe v.v...” trở xuống là nói vua tự vui mừng. Lại có ba: một, là nhờ Phật che mát.
Kế từ câu “Như núi Tu-di v.v...” là nói về đồng hiểu như Phật. Thứ ba từ câu “Con thấy v.v...” trở xuống là tự vui.
Vô căn tín, tức khi xưa năm căn chưa lập, nay mới được tín, nên nói là vô căn.
Từ câu “Bạch Đức Thế Tôn, nếu con không gặp, v.v…” trở xuống là ý thứ hai nói về phát tâm. Văn có ba: Một, là chỉ nói vua phát tâm; hai, là phu nhân và quyến thuộc phát tâm; ba, là vua lui về. Vua phát tâm có ba ý: một, là vua phát tâm. Hai, là Như Lai ấn chứng. Ba, vua lại phát tâm.
Từ câu “Bấy giờ v.v...” trở xuống là nói vua và quyến thuộc phát tâm. Văn có ba đoạn: một, là phát tâm; hai, là cúng dường khen ngợi;

 

ba, là Như Lai nói lại để ấn chứng.
Thứ nhất, chánh phát tâm có ba ý: một, là người trong nước; hai, là vua và phu nhân; ba, là vua vui mừng.
Người trong nước phát tâm khiến tội của vua nhẹ bớt, đó là duyên xa để diệt tội. Vì sao? Vì chúng sinh bệnh nên Bồ-tát bệnh; chúng sinh hết bệnh thì Bồ-tát cũng hết bệnh. Nếu y cứ theo văn này thì phát tâm đối với Phật Tỳ-bà-thi nên chẳng đọa. Nếu y theo kinh A-xà-thế Vương thì đã từng phát tâm Bồ-đề đối với bảy mươi hai ức Đức Phật.
Từ câu “Nói lời này xong v.v...” trở xuống là ý thứ hai, cúng dường khen ngợi. Có hai phần: Một, là vài dòng văn xuôi là thân nghiệp cúng dường.
Kế là các bài kệ, thuộc về khẩu nghiệp cúng dường. Gồm sáu mươi hai câu, chia làm hai đoạn: một, gồm ba mươi tám câu đầu là khen ngợi; hai, là gồm hai mươi bốn câu sau là lời phát nguyện.
Trong ba mươi tám câu đầu lại chia thành ba đoạn nhỏ: một, là gồm ba mươi câu đầu là khen ngợi khẩu mật; hai, là gồm bốn câu, khen ngợi ý mật; ba, là gồm bốn câu khen ngợi thân mật.
Khen ngợi khẩu mật lại chia làm ba: một, là gồm mười hai câu đầu khen ngợi thật ngữ; hai, là gồm sáu câu kế tiếp khen ngợi lời hòa dịu; ba, là gồm mười hai câu cuối khen ngợi lời có Đệ nhất nghĩa.
Thật ngữ đối với lời luống dối, lời nhu hòa đối lại với lời thô cứng, lời thuận nghĩa đối lại với lời thêu dệt. Lẽ ra nên có lời hòa hợp đối với lời hai chiều chia rẽ, cho nên không có là do văn đã lược bỏ. Vả lại, thật ngữ thì gồm cả lời hòa hợp.
Thứ hai là khen ngợi ý nghiệp, tức là đức đại từ.
Thứ ba là khen thân nghiệp, vì chúng sinh mà nói thị hiện.
Từ câu “nay con v.v...” trở xuống là phần hai, có hai mươi bốn câu kệ phát nguyện sám hối, tức năm ý sám hối. Thứ nhất có bốn câu nói về hồi hướng.
Thứ hai, có bốn câu nói về khuyến thỉnh. Thứ ba, có bốn câu nói về tùy hỷ.
Thứ tư, có bốn câu về sám hối.
Thứ năm, có tám câu nói về phát nguyện. Thứ nhất là bốn câu đầu nguyện phát sơ tâm.
Kế là gồm bốn câu sau, cuối cùng thấy Phật tánh.
Từ câu “Bấy giờ, Đức Thế Tôn v.v...” trở xuống là đoạn ba, Đức Thế Tôn thuật lại và chấp nhận. Văn có ba đoạn: một, là thuật về hiện đời của vua.
Thứ hai, là từ câu “Từ xưa v.v...” trở xuống là nói về quá khứ của vua.
Thứ ba, Từ câu “Từ nay về sau v.v...” trở xuống là nói về vị lai
của vua, tức là khuyên tu.
Trong kinh Thế Vương cho là Phật nói, Văn-thù nói tội nặng của vua như núi Tu-di đều tiêu diệt, chỉ còn một mảy may nhỏ như hạt cải, nên cũng rơi vào địa ngục Tân-trá. Dù ở trong đó nhưng chẳng bị đau khổ, lại được thọ ký thành Phật hiệu là Duy-thủ-đà-duy-sa-da, Hán dịch là Tịnh Kỳ Sở Lãng.
Thứ ba, vua trở về kinh.
Nói Thiên Hạnh là chỉ xa cho Tạp Hoa.
 
----------------------------------
PHẨM 21: ANH NHI HẠNH
 
Đây là lần thứ ba nói về hạnh trẻ thơ, có Sư cho rằng nhờ dụ để đặt tên, lấy quyền trí làm thể, lấy giáo hóa chúng sinh làm dụng. Nay cho rằng Niết-bàn chẳng phải Đại Tiểu. Tiểu tức trẻ thơ, Đại là hạnh Như Lai. Quyền trí làm thể, thường ban cho lá vàng. Đó chẳng thể nói ở hạnh Như Lai.
Văn có ba đoạn:
  1. Nói về trẻ thơ
  2. Giải thích ý nghĩa trẻ thơ
  3. Kết thành quả trẻ thơ
Hai phẩm Thánh hạnh và Phạm hạnh ở trên đều chia ra như thế, ở đây cũng chẳng nên làm khác. Đoạn thứ nhất lại chia ra làm hai:
  1. Nói về viên hạnh trẻ thơ
  2. Nói về thiên hạnh trẻ thơ
Các sư giải thích rằng việc “chẳng thể đứng dậy, chẳng thể nói năng” là bản địa trẻ thơ. Nghĩa này chẳng đúng. Ông nói trẻ thơ là hạnh hóa tha, vậy bản địa là giáo hóa ai. Nay nói bản địa chẳng phải Đại chẳng phải Tiểu mà có khả năng khởi hai hạnh giáo hóa Đại Tiểu, lập hai hạnh Anh Nhi Đại Tiểu. Về viên hạnh trẻ thơ. Văn kinh có hai đoạn là dụ và hợp. Dụ có bốn: Một, là chẳng thể đứng dậy; hai, là chẳng thể đứng; ba, là chẳng thể đến đi; bốn, là chẳng thể nói năng.
Chẳng đứng dậy được là dụ cho thường, chẳng khởi tướng hai bên, Trung đạo của các pháp; chẳng trụ là dụ cho Tịnh, chẳng chấp sinh tử, Niết-bàn; chẳng đến đi là dụ cho Ngã, tức chẳng phải từ cạn đến sâu, dao động kia đây; chẳng nói năng dụ cho Lạc, tức Niết-bàn vắng lặng chẳng thể nói năng. Viên hạnh trẻ thơ này từ lúc mới phát tâm đã thường quán bốn đức Niết-bàn mà hành đạo, nên nói chẳng thể đứng dậy, đứng vững, đến đi, nói năng, kêu gọi. Trẻ thơ này là hạnh Như Lai. Đức Phật lập hạnh này để dẫn dắt người thượng căn. Năng hóa, sở hóa đều thực hành bốn đức, đều là hạnh Như Lai. Vì thế gọi hạnh Như Lai là hạnh trẻ thơ.
Hai hạnh Thánh và Phạm ở trên, trước đều có giải thích hạnh thứ lớp, sau giải thích hạnh viên mãn. Phẩm này trước giải thích hạnh viên mãn, sau mới nói đến hạnh thứ lớp, đó là trước sau ứng duyên tự tại.
Từ câu “Như Lai v.v...” trở xuống là hợp với bốn dụ ở trên. Hợp ba dụ ở trước gồm ba câu, như văn kinh có ghi.
Kế là hợp với câu “Chẳng nói năng”, có bốn: Một, là vì rốt ráo,
nên chẳng thể nói, cho đến Đại Niết-bàn; hai, là nói thuyết tức không thuyết nên chẳng thể nói năng; ba, là lời bí mật, chúng sinh chẳng hiểu nên chẳng thể nói năng; bốn, là nói về tùy loại khác nhau, tùy âm giọng của người, chứ đối với Như Lai chẳng phải là lời nói, vì chẳng phải là lời nên chẳng thể nói.
Rốt ráo là lạc, tức nói vô thường là thường, bí mật chẳng hiển là tịnh, tùy loại là ngã. Trong chẳng thể nói lại có bốn đức thì ba nghĩa trước lẽ ra cũng có như thế.
Từ câu “Lại trẻ thơ, v.v...” trở xuống là thứ ba, nói về thiên hạnh trẻ thơ. Văn có năm đoạn: một, là Đại tự Anh Nhi; hai, là Vô tri Anh Nhi; ba, là Bất tác Anh nhi; bốn, là Hoàng diệp Anh nhi; năm, là Hân yểm Anh Nhi. Thứ nhất lại có hai là dụ và hợp.
Dụ thứ nhất nói chữ cái như chữ bà, hòa, chính là lấy chữ Hòa làm chữ cái. Đó là Anh nhi Bồ-tát sáu Độ. Bồ-tát này trong ba a-tăng-kỳ kiếp gieo trồng nhân tướng tốt, chí cầu thành Phật. Phật này là Phật hữu vi, bán tự, vô thường. Cho nên biết dùng chữ Hòa Anh nhi này mà hợp với văn dụ, thì giải thích rất rõ ràng.
Thứ hai, là từ câu “Lại trẻ thơ v.v..” trở xuống là nói trẻ thơ vô tri, gồm có dụ và hợp.
Đại Bồ-tát cũng như thế, vì chúng sinh nên chẳng thấy khổ vui, ngày đêm, tâm bình đẳng đối với tất cả chúng sinh, nên không có các tướng cha mẹ, thân sơ, v.v...
Trong dụ có nêu sáu từ, trong đó không khổ vui là chẳng lấy bỏ, không có ngày đêm là không yêu ghét. Xét văn dụ thì dường như tự hành. Trong phần hợp thì hợp với Bồ-tát hóa tha, nên biết đó là hiển bày cho nhau, trước sau đều lấy Như Lai để hợp dụ. Còn hai ý ở giữa thì dùng Bồ-tát để hợp dụ. Đó là tự hiển bày nhau, Phật và Bồ-tát đều thực hành hạnh trẻ thơ. Văn sau nói: “Ca-diếp và chín mươi ba vạn người đều có năm hạnh này v.v...” Vô tri là hạnh trẻ thơ của Bồ-tát Thông giáo, đạt được tướng huyễn hóa, khổ vui bình đẳng, oán thân chẳng hai. Giải như thế văn hợp thật rõ ràng.
Từ câu “Trẻ thơ, v.v...” trở xuống là nói trẻ thơ chẳng tạo tác, văn gồm có dụ và hợp.
Trong dụ nói: “Chẳng gây tội đại nghịch, chẳng thực hành Tiểu thừa, đây là hạnh trẻ thơ của Bồ-tát Biệt giáo”. Kế là văn hợp thì nói: “Không có năm tội nghịch, không có tâm Nhị thừa v.v… tức chẳng phải sinh tử, chẳng phải Niết-bàn, mà chính là hành hạnh Bồ-tát Trung đạo”.
Thứ tư, Từ câu “trẻ thơ, v.v...” trở xuống là Hoàng diệp Anh nhi, tức dùng lá vàng dỗ đứa trẻ khóc. Cha mẹ dùng lá cây thông vàng đưa cho đứa bé, bảo rằng: “Nín đi! Nín đi! Cha mẹ sẽ cho con vàng đây”. Đứa bé tưởng thật liền nín khóc. Lá vàng này thật chẳng phải là vàng. Tất cả trâu gỗ, ngựa gỗ, rối nam gỗ, rối nữ gỗ, đứa bé thấy tưởng là người thật, vật thật liền nín khóc. Vì chẳng phải người nam người nữ v.v... thật mà tưởng là thật nên nói là thẻ thơ.
Trong dụ nói cây thông là dụ cho vọng thường, lá vàng dụ cho vọng tịnh, trâu gỗ ngựa gỗ dụ cho vọng lạc, rối nam rối nữ gỗ dụ cho vọng ngã. Kế đó văn hợp tức hợp với Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Trong đó theo nghĩa mà suy lẽ ra cũng có nói về bốn điên đảo Thường, Lạc, Ngã, Tịnh của cõi người nhưng văn đã lược bỏ không ghi.
Thứ năm, từ “trẻ thơ, v.v...” trở xuống là nói về trẻ thơ thích chán, nói thẳng vào pháp mà không lập dụ. Văn có hai là lược nêu và giải thích.
Khi chán sinh tử thì nói Nhị thừa tức là nêu lên từ câu “Nhưng thật v.v...” trở xuống là giải thích. Văn có hai là lược giải và nói rộng.
Đầu tiên là lược nêu, nói biết sinh tử tội khổ là biết khổ tập, thấy Niết-bàn an vui tức là biết diệt đạo.
Kế là giải thích rộng, nói có dứt và chẳng dứt là y cứ theo Tập đế, chánh sử thì có dứt mà tập khí thì chẳng thể dứt. Có chân và chẳng chân là y cứ theo Khổ đế; trong sinh tử không có Niết-bàn thì chẳng có chân; lìa sinh tử thì được Niết-bàn tức là có chân. Có tu và không tu là y cứ theo Đạo đế; bốn đảo luống dối là chẳng tu; bốn Niệm xứ v.v... là tu. Có đắc, không đắc là y cứ theo Diệt đế; có lợi sử, độn sử là không đắc. Nhưng ở đây thì trước nói về Đạo, sau nói về Diệt. Vì nếu là người Tiểu thừa độn căn cầu quả tu nhân thì Diệt trước Đạo sau, Trung thừa lợi căn đạo trước diệt sau ở đây cũng không còn.
Hỏi:
  • Ở đây chỉ nói năm loại trẻ thơ, vì sao ở trên chỉ nói năm Phạm hạnh, năm Thánh hạnh?
Đáp:
  • Hai hạnh ấy nếu xét theo văn thì chẳng có nhưng theo nghĩa đế suy thì cũng có. Nói nghĩa tức là dùng tâm Đại Niết-bàn tu ba phẩm như Thánh Hạnh của Bồ-tát Biệt giáo. chư Phật nói xong hàng Thanh văn, Duyên giác thọ trì, thì thành hạnh thánh của Nhị thừa. Nhị thừa đã có thể vâng hành, cho nên biết trời người, Thông biệt sáu độ đều có thể tùy phần, tùy thuyết mà vâng hành. Do đó mà biết có năm loại. Trong
Phạm hạnh thì chín phẩm tăng tu tức là Phạm hạnh của Bồ-tát Biệt giáo. Từ là căn bản của tất cả pháp lành, tự nhiên có thể gồm thâu được tất cả phạm hạnh, bốn tâm vô lượng của Thanh văn, sáu độ của Bồ-tát Thông giáo trời người. Vì sao biết như thế? Vì hạnh trẻ thơ đồng với điều thiện nhỏ, điều thiện nhỏ chẳng phải một nên kể đủ năm hạnh trẻ thơ thiện. Thánh hạnh chính là tự hành chỉ nói về thứ lớp và chẳng thứ lớp nên chẳng kể các hạnh khác. Phạm hạnh là tịnh hạnh hóa tha, chỉ nêu phạm hạnh thứ lớp và thứ lớp của Phật Bồ-tát, còn sáu độ Bồ-tát Thông giáo tuy có tha hóa nhưng một là có đủ các hoặc, hai là có một nửa hoặc, chẳng phải là phạm hạnh thanh tịnh nên chẳng kể. Nhị thừa và Trời người thì không có hạnh hóa tha nên cũng chẳng kể. Có hoặc không đại khái như thế.
Từ câu “này người thiện nam! v.v...” trở xuống là đoạn hai, giải thích ý nghĩa dụ trẻ thơ. Văn có ba: một là nêu lại ví dụ; hai là hợp dụ; ba là giải thích.
Nêu vàng ròng dụ cho vọng tịnh; trâu ngựa dụ cho vọng lạc; phi đạo dụ cho vọng thường; rối nam rối nữ gỗ dụ cho vọng ngã.
Thứ hai là hợp dụ.
Như Lai cũng như thế, tức chỉ hợp với một câu người. Rối nam, rối nữ gỗ, ba ý kia cũng có thể tự hiểu.
Thứ ba, từ câu “Nếu Phật v.v...” trở xuống là giải thích.
Đã biết là vọng, vì sao lại dối gạt chúng sinh? Nếu chẳng dùng vọng để dẫn dắt thì sẽ bị rơi vào tà nhân quả, không thể ra khỏi. Nay dùng vọng dẫn dụ để phá tà nhân thì nhân trói buộc tư tưởng chúng sinh bị phá. Đó gọi là phá tướng chúng sinh, tướng chúng sinh bị phá là do vọng dẫn dắt. Hạnh trẻ thơ của trời và người ý nghĩa như thế thì các hạnh trẻ thơ khác có thể tự hiểu.
Từ câu “nếu đối với chúng sinh v.v...” trở xuống là đoạn ba nói về quả của hạnh trẻ thơ.
Nếu đối với chúng sinh mà khởi tưởng chúng sinh thì đó là trẻ thơ, chẳng phải hạnh trẻ thơ. Vì đối với chúng sinh chẳng khởi tưởng là chúng sinh nên mới phá được tướng chúng sinh, đó là hạnh trẻ thơ thành tựu. Hạnh thành thì nín khóc, quả thành thì được Niết-bàn hoàn toàn. Văn nói về quả thật rõ ràng như thế mà xưa nay chẳng thấy là vì sao?
Ở trước, hạnh Thánh và phạm hạnh thì nhất định quả gần, tức ở Sơ địa. Ở đây, hạnh trẻ thơ thì nhất định quả rất xa. Xa gần hiển bày cho nhau chớ nên chấp nghiêng về một bên. Hơn nữa Sơ địa cũng có thường, lạc, ngã, tịnh, cũng gọi là Đại Niết-bàn.
Từ câu “Này thiện nam! v.v...” trở xuống là đoạn lớn thứ ba, chỉ kết luận năm hạnh thứ lớp. Văn có ba đoạn ngắn: một là tổng kết; hai là ngài Ca-diếp lãnh hội ý chỉ; ba là Đức Phật thuật lại, như văn kinh có ghi.
 
 
/43
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »