ĐẠI BÁT-NIẾT-BÀN KINH SỚ
QUYỂN 20
PHẨM 22: ĐỨC VƯƠNG (PHẦN 1)
Dao Lượng cho rằng năm hạnh là lược, mười đức là rộng. Công đức thứ nhất, thứ hai là nói rộng về hạnh, cho đến công đức thứ chín, thứ mười là nói rộng về hạnh bệnh.
Thái Xương Tông cho rằng từ công đức thứ nhất đến thứ sáu là nói rộng về ba hạnh trước. Chỉ nói về tương ưng, bốn công đức là nói rộng về hai hạnh sau, hoàn toàn không tương ưng.
Quang Trạch cho rằng năm hạnh và mười đức chỉ có một thể mà nghĩa khác, đồng là nhân lành, phát khởi từ ngoại phàm, cuối cùng đến Vô học, cảm được tập quả về sau, đó gọi là Hạnh, đáp trả tập nhân ở trước thì gọi là công đức. Cho nên hạnh là nhân, đức là quả.
Khai Thiện cho rằng năm hạnh là y cứ theo nghĩa cạn, mười đức là y theo nghĩa sâu xa. Năm hạnh thì khởi khi nghe kinh mà cùng đạt Sơ địa. Mười đức là khởi từ Sơ địa, cuối cùng tại tâm Kim cương. Cho nên đầu phẩm đã khen ngợi và chẳng chung cho Thanh văn, Duyên giác, người nghe sinh kinh sợ. Công đức thứ sáu lấy tâm Kim cương làm thể.
Hà Tây cho rằng năm hạnh là nhân Niết-bàn, chỉ thú sâu xa, e rằng chẳng thể tu tập nên mới nêu mười đức trang nghiêm, khuyến khích người tu học.
Ở đây cho rằng tất cả các thuyết đều chẳng đúng. Hai vị trước cho rằng mở rộng và tóm lược đối nhau, nghĩa không tương ưng như lời nói của họ. Quang Trạch thì nói tập nhân, tập quả là giai vị Bồ-tát, chẳng quan hệ gì đến Phật thừa. Khai Thiện cho rằng hạnh cạn đức sâu, văn kinh ghi: “Công đức thứ chín, đầu tiên là phát khởi năm việc, tất cả đều thành tựu”.
Việc này chẳng nên nói là sâu. Hạnh thánh lấy tâm Đại Niết-bàn tu tập, còn hạnh trẻ thơ nói là được Đại Niết-bàn, điều này đâu thể nói
là cạn mỏng. Hà Tây cho là lời khen ngợi khuyến khích, khen ngợi khuyến khích thì chung cho tất cả, chỗ nào chẳng có khuyên, xét các lời văn ấy thì chẳng hợp với kinh. Tất cả đều chẳng sử dụng được.
Nay y cứ theo văn kinh thì Bồ-tát nên tu năm hạnh, hạnh tức là tu. Kinh ghi:
“Bồ-tát tu tập kinh Đại-Niết-bàn được mười công đức về sự”.
Đó há chẳng phải là chứng ư? Ba hạnh Thánh ở trước, mỗi hạnh đều có nói quả của hạnh nhưng văn ít. Sau nói mười công đức đều là nói rõ về tu mà văn thì rộng nhiều, sự thì hiển rõ, cho nên xếp hạnh là tu và lấy đức làm chứng đắc.
Toàn phẩm được chia thành ba phần: 1 Phật nói mười công đức.
2 Bồ-tát cao quý thọ lãnh, tin hiểu. 3 Tổng kết.
2 Giải thích riêng.
Nêu số lượng có ba ý: Một là hữu đối; hai là nêu số lượng; ba là khen ngợi.
Người được chỉ bảo, nói Quang Minh Biến Chiếu tức là nói ngoại hóa rất rộng, Cao Quý Đức Vương tức là nói về nội hạnh rất sâu. Lại Quang Minh là Bát-nhã; Cao Quý là Pháp thân; Đức Vương là Giải thoát. Giải thoát gồm thâu các pháp giống như vua, lý Bát-nhã trùm khắp nên nói Biến chiếu, pháp tánh tôn quý cùng tột nên cao quý. Dùng ba đức đồng đủ để đặt tên cho một người. Từ đức đặt tên, từ người đề phẩm.
Nói thẳng mười công đức chứ không kể tên từng công đức một.
Trong phẩm giải thích riêng nói nêu tên.
Thứ ba, là khen ngợi.
Hà Tây cho rằng bản Phạm ghi:
“Ít có, kỳ lạ, hàng độn căn tiểu trí khi nghe đến thì kinh sợ” mà người dịch đã lược bớt “ít có, kỳ lạ” chỉ còn lại chín câu. Chỉ là cảnh giới của Phật chẳng chung cho Tiểu thừa, vì đường ngôn ngữ dứt, cảnh tâm hành bặt, chẳng thể nghĩ bàn. Vì sâu xa không đáy nên kinh; vì rộng lớn không bờ nên sợ; vì trí tuệ Nê-hoàn chẳng ghé vào được nên dễ; vì vô sắc nên chẳng phải tướng; vì vô tâm nên chẳng phải chẳng tướng; vì chẳng quá khứ, vị lai, hiện tại nên chẳng phải thế pháp; không phải tự biên, không phải Trung đạo nên chẳng có tướng mạo; bặt bốn
câu, lìa trăm lỗi nên thế gian chẳng có.
Từ câu “mười công đức là gì v.v...” là phần thứ hai phân cách giải thích. Trước là nêu lên.
Kế đến là chánh thức giải thích. Gồm có mười chương, các sư xưa chia phần này khác nhau. Trị Thành chia làm hai vòng, từ công đức thứ nhất là chẳng nghe mà nghe, từ cạn đến sâu, đến công đức thứ sáu là Kim Cương Tam-muội thành một vòng. Từ công đức thứ bảy lại vừa phát tâm, đến công đức thứ mười tu ba mươi bảy phẩm thấy Phật tánh là một vòng.
Khai Thiện lập ra ba vòng:
Vòng thứ nhất như Trị Thành đã chia; vòng thứ hai là công đức thứ bảy, thứ tám từ bạn lành sinh tức là duyên ngoài; vòng thứ ba là công đức thứ chín, thứ mười do tín tâm mà được tức là nhân trong.
Nếu nay so sánh với Pháp Hoa mà chia làm ba vòng là Pháp, Dụ và Nhân duyên thì đều lặp lại các nghĩa trước nên gọi là ba vòng. Nay danh nghĩa của công đức ở đây đều hoàn toàn khác trước, đâu đồng với ba hàng nên chỉ vẫn theo văn lập mười chương mà không chia thành các vòng.
Thứ nhất có ba: Một, là nêu năm việc; hai, là nói về nghĩa; ba, là kết luận.
Nêu năm việc lại có ba đoạn: Một, là nêu năm chương; hai, kể tên năm chương; ba, là giải thích riêng.
Xưa nói năm việc là ba tuệ. Việc thứ nhất là Văn tuệ, thứ hai là Tư tuệ, ba việc sau là Tu tuệ. Có chỗ cho rằng hai việc đầu thuộc Văn tuệ và tư tuệ; hai việc giữa là công đức của Văn và Tư. Một việc sau là tu tuệ.
Hưng Hoàng cho rằng một việc đầu là gốc, bốn việc sau thành tựu cho nhau, tức là do nghe mà được lợi ích, có lợi ích cho nên dứt nghi, dứt nghi rồi thì được chánh trực, vì chánh trực nên biết tạng Bí mật.
Nay chẳng cho là như thế, nói ba tuệ chỉ là tự đạo. Còn kinh này rõ ràng nói tu Đại Niết-bàn đạt được mười công đức, chân chứng rõ ràng nhiên như thế còn chẳng dùng được Biệt giáo chân đạo để giải thích, thì làm sao dùng Tiểu thừa nương tựa đạo để giải thích? Cho nên cách biệt với văn kinh quá xa.
Hưng Hoàng cho năm pháp làm nhân duyên cho nhau cũng chẳng đúng. Nhập chứng đạo là ở tâm chứ chẳng phải trước sau, chẳng phải khi còn tu hạnh, huống chi khi đã chứng mà còn có thứ lớp ư? Văn kinh nói về chứng đắc mà giải thích về tu, văn kinh nói bất cộng mà dùng
cộng giáo để giải thích. Văn nói chẳng nghe mà nghe, mà giải thích là từ người khác nghe. Văn nói không nghĩ bàn mà nghĩ bàn giải thích. Văn nói bí mật mà giải thích hiển bày. Văn nói về viên bị mà nghiêng về, khuyết để giải thích, văn nói kinh sợ mà dùng tâm thường để giải thích. Văn nói không khác nhau mà dùng khác nhau để giải thích. Văn nói Trung đạo mà dùng hai bên để giải thích. Nếu y theo văn thì không có mười lỗi, chẳng biết vì sao lại chống trái với kinh Phật. Xin hỏi riêng người hậu học.
Nay hãy xem văn nói về năm pháp của công đức thứ nhất: Nói chẳng nghe ma nghe tức là còn xen lẫn chút nhân tướng, nghe rồi được lợi ích v.v... thì hoàn toàn là tên được lập trên quả. Đầu tiên, là phần nhiều đã đặt tên từ quả, thì chín công đức kia dẫn tựa tu nhân thì cũng là hạnh trong chứng. Ngài Chương An lập bao nhiêu lời thì ý nghĩa cũng giống như thế. Cho đến xét kỹ văn của chín câu khác cũng đều thuận theo nơi tu nơi chứng. Cho nên biết, hễ giải thích kinh thì phải xét văn để được nghĩa và y nghĩa để giải văn, nếu chẳng như thế thì chỉ mờ mịt giải văn, sẽ vời lấy sai lầm mà thôi.
Thứ ba, là giải thích năm pháp. Văn tự thì có năm đoạn: một, là giải thích chẳng nghe mà nghe. Gồm có ba ý là nêu lên, giải thích và kết luận.
Nếu chẳng nghe mà nghe tức là viên chứng diệu ngộ phát sinh Giải thoát nên gọi là nghe, chứ chẳng phải từ người khác mà lãnh thọ. Nếu từ người khác mà nghe tức là nghe nghe, chứ đâu thể nói chẳng nghe mà nghe.
Kế là từ câu “Đó là nghĩa v.v...” trở xuống là phần giải thích. Tức là giải thích nghe tròn đầy. Một là nghe tất cả đều nghe chẳng thể nói hết. Ở đây chỉ nêu ba loại: Một, là chẳng nghe mà nghe (Đệ nhất nghĩa đế); hai, chẳng nghe mà nghe (Tục đế); ba, chẳng nghe mà nghe (Chân đế).
ba Đế ba pháp một tâm này, chẳng trước chẳng sau, chẳng cạn chẳng sâu, cho nên nói chẳng chung cho Thanh văn và Bích-Chi-Phật. Hàng Nhị thừa chẳng bao giờ chứng Trung đạo đế nên chẳng cùng chung, chẳng chứng Tục đế nên chẳng cùng chung. Tuy chứng chân nhưng chẳng biết bí mật của chân nên cũng chẳng cùng chung.
Vì chẳng cùng chung như thế cho nên kinh sợ, cho đến chẳng phải thế pháp, khen ngợi tức là khen ngợi điều này. Nay y cứ theo loại thứ nhất là Đệ nhất nghĩa nghe mà chẳng nghe. Văn có hai là nêu chung và giải thích chung.
Đầu tiên là nêu năm nghĩa: Một, Phật tánh.
Hai, Nhất thế Tam bảo. Ba, Bốn đức.
Bốn, Niết-bàn thường trụ.
Năm, là Niết-bàn của Như Lai. Kế là giải thích chung.
Trong mỗi việc đều có chứa đựng nghĩa Trung đạo sâu xa, gồm có hai mươi câu tiêu biểu, còn tất cả cũng giống như thế.
Kế là từ câu “lại có điều chẳng nghe v.v...” trở xuống là thứ hai nói Tục đế chẳng phải nghe mà nghe.
Nói về các pháp thế tục, căn bản chỉ có ba loại ngoại đạo, mỗi loại đều có kinh sách riêng. Nhưng ở đây chỉ kể Ca-tỳ-la, Ưu-lâu-khư mà chẳng nêu Lặc-sa-bà là văn kinh lược bỏ. Hơn nữa, Ca-tỳ-la chấp một tức ấm là ngã, Ưu-lâu chấp hai, khác ấm là ngã, Lặc-sa-bà chấp vừa một vừa hai, cũng tức là ấm, cũng khác ấm là ngã, hơi giống với hai ngoại đạo kia nên chẳng nói.
Từ câu “Lại có v.v...” trở xuống là đoạn ba, nói về Chân đế chẳng nghe mà nghe. Pháp Chân đế cũng có hai là nghe pháp Chân đế và nghe Bí mật.
Đều nói nhân kinh này mà được nghe, tức là nghĩa viên chứng. Trong Tỳ-phật-lược nói Tam bảo nhất thể, Phật tánh, thường trụ Niết- bàn. Tiểu thừa không có nên trừ ra.
Thứ ba kết luận như văn.
Kế là giải thích nghe rồi được lợi ích. Văn cũng có ba là nêu ra, giải thích và kết luận.
Nêu lên lợi ích của chứng đắc, chẳng phải lợi ích có thể nghĩ bàn. Văn ghi: “Được gần Tam-bồ-đề”, Nếu là Tư tuệ thì vẫn chưa phát được chân giải, nói chi đến nghĩa gần.
Kế là giải thích, có hai là lược và rộng.
Lược nêu có hai: một là nêu nguyên do, nên nói là “nghe nhận”. Hai, là hiển bày chân chứng.
Đây là một tâm ba trí, nêu được ba việc để dụ. Chân trí chiếu lý như bóng hiện trong gương; giả trí chiếu sư như đuốc soi bên ngoài; Trung trí viên chiếu như mặt trời soi khắp. Luận nói ba lần để làm người dễ hiểu. Khi đã chứng thì trong một tâm có đủ ba trí.
Thứ hai, từ câu “Nếu có Bồ-tát v.v...” trở xuống là nói rộng về lợi ích. Văn có hai đoạn: một, là nêu nguyên do.
Xét lần lượt qua bốn pháp để nói về lợi ích.
Nói chẳng từ người khác nghe là từ lợi ích của chân chứng mà tự biết gần Tam-bồ-đề, cho nên biết là chẳng phải tư tuệ.
Thứ ba là kết luận, như văn kinh có ghi.
Nói lợi ích là nội chứng, nói dứt nghi là ngoại luận biện, cũng gọi là xa lìa, là trí đoạn, sáng đến thì bóng tối tan biến, trước sau làm sáng tỏ cho nhau, đồng hiển bày công đức viên chứng. Xưa nói đó là công đức của Văn, Tư. Vậy nếu là văn tư của Tiểu thừa thì không hề văn tư nghĩa Phật tánh. Nay lập nghĩa lìa và đoạn thì hợp với nghĩa chứng.
Kế là giải thích văn, có hai: một, là nói lược nghĩa xa lìa; hai, là giải thích rộng nghĩa xa lìa.
Nói lược có ba phần: một, là lìa hai nghi về danh và nghĩa; hai, lìa nghi về tám điên đảo; ba, là nghi về quyền thật.
Đầu tiên lìa nghi về danh nghĩa rất dễ biết. Kế là nói nghi tám đảo.
Nghi Phật Niết-bàn là vô thường điên đảo, theo lý phải đủ tám điên đảo mà văn kinh lược bớt chỉ đem ba đơn đối với một cặp thành năm loại.
Nói thêm rằng bốn điên đảo của Niết-bàn có chung và riêng khác nhau.
Thứ ba là “Nghi có ba loại v.v...” trở xuống là nói lìa nghi về quyền thật.
Nghi ba thừa là nghi về quyền, biết Phật tánh của chúng sinh là thật. Theo lý thì phải kể đến Phật tánh, nhưng nay văn chỉ hiển bày cho nhau.
Từ câu “Lại nữa v.v...” trở xuống là ý thứ hai, giải thích rộng về xa lìa. Văn có ba:
Lìa các nghi, lấy vô thường làm đầu, tức là nghi đối với thật pháp.
Từ câu “Sắc là ngã v.v...” trở xuống là nghi về giả danh.
Từ câu “Bốn tội trọng, năm tội nghịch v.v...” trở xuống là lìa y báo và chánh báo. Năm tội nghịch bốn tội trọng là y cứ chánh báo để nói về ác nặng. Có Phật tánh, không có Phật tánh là y cứ chánh báo để nói về cực thiện. Thế giới hữu biên, vô biên là y báo. Thứ nhất như văn kinh có ghi. Kế là trong giả danh nói: “Pháp sinh tử có đầu có cuối” nói có đầu có cuối là sở chấp của ngoại đạo tà kiến. Nội đạo cũng có:
Thuyết cho rằng sinh tử đều không có đầu cuối, mười hai nhân duyên trôi lăn không bờ mé.
2. Cho rằng một niệm vô minh là đầu, sau Kim cương tâm là cuối.
3. Cho rằng vô thỉ mà có chung.
Kinh nói vô thỉ vô minh tức là vô thỉ đến quả Phật tức có chung.
Nếu nhất định lập ba chấp ở trên tức là gây tranh luận đến khi chân chứng thì liền được xa lìa.
Từ câu “Nghe kinh này v.v...” trở xuống là kết luận.
Thứ tư, là giải thích tuệ tâm ngay thẳng không cong vạy, gồm có ba là nêu lên; giải thích và kết luận. Thứ nhất, là trước nói bên trong chứng ba trí, bên ngoài là các nghi nhưng chưa biết trí nào. Nay nêu trí ngay thẳng, chẳng phải hai bên, vì thế nêu cả hai chương là ngay thẳng và tà vạy. Kế là giải thích.
Đã biết hai bên thì ngay thẳng tự hiểu. Khi Bồ-tát tu hạnh thánh thì trừ được cong vạy của phàm phu và Nhị thừa. Nên biết năm hạnh là tu, cái thấy tà vạy đã dứt thì thấy biết được ngay thẳng. Vậy mười đức là chứng đã rõ, giải thích văn thấy tà vạy thì như văn đã ghi. Thứ ba, từ câu “Tu hành v.v...” trở xuống là kết luận.
Thứ năm, giải thích nghĩa bí mật cũng có ba là nêu lên, giải thích và kết luận. Thứ nhất nói “nếu biết được” tức là nêu lên.
Trước nói không có tà vạy hai bên thì có tuệ Trung đạo ngay thẳng. Ở đây là nói tuệ khéo biết nghĩa sâu kín.
Kế là giải thích, có ba:
-
Quả sâu kín.
-
Nhân sâu kín.
-
Chẳng thể nghĩ bàn sâu kín.
Thứ nhất từ câu “thì đó là v.v...” trở xuống là nói Đại Bát-niết- bàn của Như Lai tức là quả sâu kín.
Kế là từ câu “tất cả v.v...” trở xuống là y cứ theo nhân.
Thứ ba là từ câu “Này thiện nam! v.v...” trở xuống là y cứ theo nghĩa chẳng thể nghĩ bàn.
Hai câu “Thật không có ngã v.v...” “năm ấm hiện đời diệt tận v.v...” là mượn Không để nói Có. Bốn câu còn lại từ câu “Tuy có các nghiệp v.v...” trở xuống là nhờ vào Hữu để nói Không, nhờ vào có không để nói chẳng có chẳng không. Lại nhờ vào chẳng có chẳng không để nói về không chẳng thể nghĩ bàn, chẳng thể nghĩ bàn lại chẳng thể nghĩ bàn, U huyền lại u huyền. Y cứ theo không thể nghĩ bàn mà nói về sâu kín.
Từ câu “Bấy giờ v.v...” trở xuống là phần thứ hai nói về nghĩa,
gồm có bốn:
-
Đức Vương nói.
-
Lưu Quang nói.
-
Vô Úy nói.
-
Đức Vương lại nói.
Thứ nhất lại có hai là hỏi và khen ngợi. Phần hỏi lại có hai là lãnh chỉ và cung kính bác bỏ.
Thứ hai là chinh thức hỏi. Ở trên tuy nói năm việc mà ở đây lại chinh thức hỏi về việc thứ nhất, có ba cặp:
1/ Một cặp về môn đoạt.
2/ Một cặp về môn buông.
3/ Một cặp về môn so sánh.
Môn đoạt gồm có hai là pháp và dụ. Pháp thuyết gồm có ba phần:
1/ Y cứ chung theo có không mà đoạt.
2/ Y cứ vào chẳng nghe mà nghe để đoạt. 3/ Kết luận.
Thứ nhất là y cứ vào có không mà đoạt gồm có hai là đoạt và ngăn chặn. Văn đoạt chia thành hai câu.
Kế là từ câu “Nếu không thì lẽ ra chẳng sinh v.v...” trở xuống là ngăn chặn sinh diệt chẳng nên cho là một.
Thứ hai, từ câu “Như có nghe v.v...” trở xuống là y cứ theo chẳng nghe mà nghe để đoạt.
Từ câu “Bạch Thế Tôn! v.v...” trở xuống là kết luận ấn định thành hai.
Kế là từ câu “Vì sao?” v.v… trở xuống là ấn định chẳng phải một. hợp.
Từ câu “Thí như v.v...” trở xuống là phần dụ thuyết, trước dụ sau Trong dụ đoạt, gồm xếp ba dụ. Nói đến tức là tướng trụ, do nhân gì mà có đi? Đi đã chưa đến, cho nên cần phải đi. Sinh đã sinh rồi nên chẳng sinh nữa, nếu chẳng sinh tức là chẳng sinh, chẳng được thì chẳng được cũng y như thế, đều ấn định thành hai.
Kế đến từ câu “Đã nghe v.v...” trở xuống là hợp dụ nhất định chẳng thể là một.
Trong dụ, không có dụ về chẳng phải một, nhưng chỉ vì khai hợp để hiển bày cho nhau.
Từ câu “Bạch Thế Tôn! v.v...” trở xuống là cặp thứ hai gạn hỏi về
môn buông. Có ba: một, là buông chúng sinh; lại có ba lần buông, một lần nêu, kế là buông về quả Phật, gồm một buông và một nêu ra bằng cớ, thứ ba, là kết luận lại hai lần buông.
Từ câu “Bạch Đức Thế Tôn! v.v...” trở xuống là cặp thứ ba so sánh gạn hỏi. Trước là y cứ theo sắc và thanh để so sánh. Kế là y cứ theo ba đời để so sánh. Thứ nhất như văn kinh có ghi. Sắc, chướng bên trong thì dễ thấy, chướng bên ngoài thì chẳng thể thấy. Sắc thô thì dễ thấy, sắc sâu kín thì chẳng thể thấy. Như cây trụ chỉ thấy một bên, còn các bên khác thì chẳng thấy. Sắc thế gian là có thể thấy và chẳng thể thấy, huống chi Niết-bàn mầu nhiệm làm sao thấy được? Âm thanh cũng như thế.
Kế là y cứ theo ba đời.
Ba đời là pháp hữu vi chẳng thể thấy, huống chi Niết-bàn vô vi thấy nghe được hay sao?
Từ câu “Bấy giờ v.v...” là đoạn hai, Phật khen ngợi và trả lời.
Xưa nói đây là lời khen ngợi chứ chẳng phải lời đáp. Nay thì cho rằng đó cũng là lời đáp. Vì Bồ-tát Đức Vương dùng định tướng để gạn hỏi Phật, thì Phật lại nói các tướng huyễn v.v... đâu phải là định tướng, khiến các nghi đều dứt trừ, nên đó là lời khen ngợi đáp nghi. Bồ-tát Lưu Ly Quang phát ra ánh sáng đến chẳng phải xanh thấy là xanh, chẳng phải vàng thấy là vàng, đó đâu chẳng phải là chẳng nghe ư? Đó tức là hiện điềm lành để đáp. Sau đó Bồ-tát Lưu Ly Quang hỏi tức là đáp cả hai. Đức Vương không nghi nhưng vì đại chúng mà hỏi, giải thích căn bản như thế.
Hà Tây cũng cho rằng khen ngợi là đáp chung, sau là biệt đáp riêng.
Từ câu “Bấy giờ v.v...” trở xuống là thứ hai. Bồ-tát Lưu Ly Quang nói về nghĩa. Văn có hai:
-
Từ xa đến.
-
Đến rồi thì nói về nghĩa.
Phần hiện tướng, trước nói phát ra ánh sáng, kế đến là hỏi đáp.
Thứ nhất là phát ra ánh sáng.
Đó là nhờ vào tướng lạ để giải thích câu hỏi trước tức là thụy đáp. Vì thị hiện tướng đến nên phát ra ánh sáng, đó là thể của ánh sáng. Đại chúng thấy ánh sáng là dụng của ánh sáng. Định Sư Tử Vương là định
tự tại, chính là nói lên thể của ánh sáng không thể nghĩ bàn.
Từ câu “Bấy giờ v.v...” trở xuống là thứ hai, hỏi và đáp. Văn có hai, trước nói về Bản, sau nói về Tích. Về Bản, văn có hai:
-
Dùng vô ngôn để nói về Bản.
-
Nhờ vào ngôn từ để nói về Bản.
Đầu tiên bốn vị Bồ-tát lần lượt hỏi nhau mà đều im lặng, đó là để nói lên pháp vô ngôn, hai là để nói lên mối nghi này, nên để ngài Văn- thù giải đáp, tất cả các vị khác chẳng trả lời. Ngài Văn-thù hỏi Phật, Đức Phật im lặng. Đại chúng thấy Đức Phật im lặng cho rằng ngài Văn- thù đã thầm hiểu. Cho nên ngài Ca-diếp mới hỏi ngài Văn-thù. Ngài Văn-thù im lặng, đại chúng cho là ngài Ca-diếp thầm hiểu, cứ như thế mà chuyển dần đến năm trăm vị.
Từ câu “Bấy giờ Đức Thế Tôn v.v...” trở xuống là nhờ lời để nói về bản.
Đáp, có bảy phen. Sáu phen trước là phá tướng nhất định. Kế là nói về nhân duyên.
Nay nói thêm rằng câu đáp về nhân duyên này là phá là lập. Nói nhân diệt vô minh tức là nghĩa phá như sự im lặng và năm trăm vị Bồ- tát ở trước, được Bồ-đề sáng tỏ tức là lập như thế tục nói ở sau. Vả lại, trước là tự hành pháp lập nên tất cả đều im lặng, sau là vì người phá lập, cho nên đáp. Về nhân duyên của ánh sáng thì biết gốc của ánh sáng này chẳng hơn đèn bồ-đề. Cho nên ánh sáng này chẳng phải sắc mà hiện sắc, từ chân khởi ứng, từ nơi kia mà đến, phát ra ánh sáng vời các loại căn cơ, cho nên chẳng hiện mà hiện.
Hỏi: Bồ-tát phát ra ánh sáng đâu thể là Thường trụ?
Đáp: Có người cho rằng nhờ vào năng lực Phật nên có ánh sáng Thường trụ. Có người cho rằng Bồ-tát ấy là Phật nên tự có ánh sáng này.
Từ câu “Phật bảo rằng v.v...” trở xuống là phần thứ hai, nói về Tích của ánh sáng, cũng có hỏi và đáp.
Phật nói chớ nên nhập, tức là chớ nên nói về bản, nói về Thế đế tức là nên nói về Tích.
Văn nói về tích có ba đoạn:
-
Bồ-tát cõi này nói về cõi nước kia.
-
Bồ-tát cõi kia nói về cõi này.
-
Nói về Bồ-tát cõi kia muốn đến.
Từ câu “Bấy giờ v.v...” trở xuống là đoạn hai, Bồ-tát cõi kia đến.
Chẳng phải Đức Phật kia không đáp được nhưng để nêu rõ đạo của chư Phật đồng nhau, muốn sinh pháp lành cho cõi này, diệt ác cho cõi kia, giúp cho được thấy tánh đắc đạo nên mới sai đến.
Hỏi: Đạo của chư Phật đồng nhau, lẽ ra cõi kia sai đến cõi này, cõi này sai đến cõi kia?
Đáp: Lẽ ra có sai đến nhưng văn lược chẳng nói, vả lại tùy theo vị Hóa chủ đề cử. Đức Phật này đề cử Bồ-tát kia nên Bồ-tát kia đến, lẽ ra Đức Phật kia đề cử Bồ-tát này nhưng văn lược chẳng nói.
Hỏi: Thời Phật Ca-diếp là thời Phật thuần thiện nên không nói kinh này. Thời Đức Phật Thích-ca là đời ác trược vì đối với vô thường nên nói kinh thường. Đức Mãn Nguyệt Như Lai cũng ra đời vào thời thuần thiện, vì sao lại nói kinh này mà lời hỏi đồng với Bồ-tát Cao Quý Đức Vương?
Đáp: Dùng Thường đối trị Vô thường thì cõi kia chẳng có nhưng vì hợp với vô thường nên thuận theo lý mà nói vì vậy nói là đồng. Vả lại, còn nói “xưa chưa được nghe mà nay được nghe” thì đúng là chẳng phải để đối trị. Lại vào thời Như Lai Ca-diếp cũng có căn cơ thường, vì sao chẳng nói kinh. Nay giải thích chẳng phải như thế, cõi kia tuy không có thuyết đối trị nhưng cũng có thuyết ba tất-đàn kia. Thời Như Lai Ca- diếp cũng giống như thế.
Từ câu “Bấy giờ, Đức Thế Tôn v.v...” trở xuống là ý thứ hai, đã đến thì nói về nghĩa. Văn có hai:
-
Phụ nói về đến, đi.
-
Chánh thức hỏi nghĩa đã nghi ngờ.
Văn thứ nhất hỏi trước đáp sau, đều tùy duyên chứ không nhất định. Ở đây trước là Phật hỏi, sau là Bồ-tát hỏi. Lại có phụ đối luận khác với phẩm Thuần-đà. Văn trên đối với Phật mà ngài Văn-thù phụ hỏi, tức là người thì phụ mà pháp chẳng phụ. Đây chính là hỏi về chẳng nghe mà nghe nhưng lại hỏi về đến đi. Vậy pháp là phụ, người chẳng phải phụ.
Ý Phật hỏi là thầy thấy các pháp có đến đi mà đến, hay không đến đi mà đến?
Bồ-tát Lưu Ly Quang v.v... là lời đáp gồm mười phen. Hai phen đầu là y cứ theo cảnh trước mắt mà nói không đến. Tám phen sau là y cứ theo mê ngộ. Ngộ thì không đến đi, mê thì có đến đi.
Lưu Ly Quang nói về lý thì không có đến đi mà về tích thì có đến đi. Mê ngộ cũng như thế, tức đáp cả câu chẳng nghe mà nghe của Cao Quý Đức Vương.
Từ câu “Bạch Thế Tôn v.v...” trở xuống là chánh thức nói về nghĩa. Có bốn:
-
Xin Phật chấp nhận.
-
Hỏi đáp.
-
Xét lại.
-
Kết luận lời hỏi.
Thứ nhất, như văn kinh có ghi.
Kế là từ câu “Bồ-tát v.v...” trở xuống là hỏi.
Nếu hỏi đủ thì phải là Bồ-tát Đức Vương nêu ba cặp sáu câu. Ở đây chỉ hỏi thẳng vào nghĩa “nghe được điều chưa nghe” mà thôi. Như thế thì có ba điểm khác nhau:
-
Đức Vương hỏi rộng, Lưu Ly hỏi lược.
-
Đức Vương hỏi về chứng, Lưu Ly hỏi về tu.
-
Đức Vương hỏi “Chẳng nghe mà nghe”, Lưu Ly hỏi nghĩa “Nghe điều chẳng nghe”. Như thế làm thế nào để hội thông hai văn.
Giải thích: Bồ-tát Lưu Ly lúc ở cõi mình đã hỏi đủ ba cặp, đại chúng đã nghe rồi nên nay hỏi lược. Đức Vương hỏi chung về chứng của năm hạnh, chứng là sự thể ngộ bên trong, chẳng do nghe bên ngoài mà được nên hỏi nghĩa chẳng nghe mà nghe. Bồ-tát Lưu-ly hỏi về tu trong chứng, tức là hạnh trời, hạnh trời thì tự tại, niệm niệm thêm lớn, càng sáng tỏ nên nói nghe điều chẳng nghe. Cả ba tuy lời khác nhau mà lý thì đồng.
Phần hứa nhận gồm sáu câu, dường như sáu pháp Ba-la-mật mà chẳng theo thứ lớp:
-
Ông muốn đạt đến cùng tận mà ta lại muốn giải thích, tức là y cứ theo tinh tấn.
-
Hứa nhổ mũi tên độc là y cứ theo giới độ.
-
Hứa làm đuốc tuệ chiếu sáng là y cứ theo Bát-nhã.
Hứa đáp câu hỏi về chẳng nghe mà nghe, Đức Phật nói “Ta sẽ làm đuốc tuệ soi sáng cho ông thấy rõ được Phật tánh” nên biết đó là nói rộng về nghĩa chẳng nghe mà nghe, tức là nói rộng về Phật tánh. Văn trên nói “Thế nào là chẳng nghe mà nghe” tức nghe được thường, lạc, ngã, tịnh. Vả lại, nếu nghĩa này Bồ-tát Lưu Ly Quang hỏi giống với Đức Vương, thì Lưu Ly Quang được liễu nhân, Cao Quý Đức Vương cũng được. Văn sau nói “Ta nhờ việc này mà giải được một câu, nửa câu, thấy được Phật tánh, nhập Đại Niết-bàn”. Nếu chẳng nghe mà nghe là Phật tánh thì ba câu “Thế nào là chẳng nghe mà nghe” là liễu nhân, “nghe mà chẳng nghe” là duyên nhân, “chẳng nghe mà chẳng
nghe” là chánh nhân. Nghe là nghe tức cảnh giới, lại là nhân tánh; nghe mà chẳng nghe là nhân của nhân tánh v.v... Nếu đến mà chẳng đến, sinh mà chẳng sinh, đến mà chẳng đến cũng giống như thế. Làm Thiền sư là y cứ theo Nhẫn độ. Hứa xem là con ruột là y cứ theo Thiền độ. Hứa ban tuệ thí là y cứ theo Đàn độ.
Kế là từ câu “Hãy lắng nghe v.v...” trở xuống là khuyên nghe. Văn có hai:
-
Khuyên khi chưa nghe.
-
Bảo khi đã nghe.
-
Lắng nghe là khiến chẳng che đậy vật chứa.
-
Bảo hãy suy xét kỹ là khiến chẳng nên để vật chứa rỉ chảy.
-
Nghĩ nhớ kỹ là chẳng để dơ bẩn vật chứa.
Vì chẳng che đậy nên có thể thọ nhận; vì chẳng rỉ chảy nên chẳng mất; vì chẳng nhơ bẩn nên uống được. Khuyên khi đã nghe cũng có ba:
-
Dùng ba việc khuyên để ngăn che.
-
Dùng hai việc khuyên về rỉ chảy.
-
Dùng năm việc khuyên về nhơ bẩn.
Thứ nhất là nêu ngăn che, kế là giải thích.
Nên sinh tâm kính tin là nói về pháp, dốc lòng nghe nhận là nói về chính mình, cung kính tôn trọng là nói về thầy.
Chẳng tìm cầu lỗi là giải thích về ngăn che pháp, chẳng nghĩ đến tham, sân, si là giải thích về nghĩa che lấp chính mình; chẳng xét về chủng tánh là giải thích về nghĩa ngăn che cái thấy. Nếu không có ba việc này thì vật chứa chẳng bị che lấp.
Từ câu “Đã nghe pháp v.v...” trở xuống là ý thứ hai, khuyên về việc chớ để rỉ chảy.
Từ câu “Chớ sinh kiêu mạn v.v...” trở xuống là khuyên chớ để rỉ chảy sinh tử, không phạm vào bên này tức là chẳng rỉ chảy.
Từ câu “Đối với Phật, Pháp, Tăng v.v...” trở xuống là khuyên chớ làm nhơ bẩn.
-
Chớ làm nhơ bẩn nhất thể.
-
Chớ làm nhơ bẩn y đức.
-
Chớ làm nhơ bẩn Đại thừa.
-
Chớ làm nhơ bẩn Vô trụ.
-
Chớ làm nhơ bẩn pháp tướng.
Nếu làm biệt thể nhơ bẩn thì chẳng thể tôn trọng thầy. Nếu khởi
bốn điên đảo làm nhơ bẩn thì chẳng thể tôn trọng pháp. Nếu khởi tâm Tiểu thừa chấp trước sinh tham nhơ bẩn thì chẳng thể tôn trọng chính mình. Không có năm điều lỗi này thì chẳng nhơ bẩn. Tất cả gồm mười lăm pháp, kết luận là nói về dốc lòng.
Hỏi: Bồ-tát Lưu Ly Quang phát ra ánh sáng, ánh sáng tức là thường trụ thì đâu bị lời khuyên này?
Đáp: Đó là chùy chạm vật gỗ, mượn Thánh để răn phàm.
Từ câu “Này thiện nam! v.v...” trở xuống là phần thứ hai, chánh đáp, có hai:
-
Y cứ vào bốn câu chẳng nghe mà nghe.
-
Khai rộng hai phen bốn câu chẳng sinh mà sinh.
Các sư xưa ở Giang Nam giải thích bốn câu đầu là pháp thuyết, hai lần bốn câu là dụ thuyết. Các sư Địa Luận cho rằng bốn câu đầu là giáo tướng, hai lần bốn câu sau là chứng tướng. Các sư Trung Quán cho rằng các loại bốn câu không khác nhau, đều là thuận theo ba căn mà ba phen giảng nói. Các sư xưa giải thích phen bốn câu thứ nhất đều khác nhau:
-
Y cứ theo Nhị đế mà cho rằng chẳng nghe mà nghe là ngay nơi chân mà tục, nên thật có nghe; chẳng nghe mà nghe thì chỉ là chân đế, bặt dứt chẳng thấy nghe, nghe mà chẳng nghe là ngay nơi tục mà chân, là không có chỗ nghe, nghe mà nghe chỉ là có thấy nghe trong tục.
-
Một sư y cứ theo chân và ứng cho rằng chẳng nghe mà nghe tức pháp thân khởi ứng. Chẳng nghe tức chẳng nghe là pháp thân ứng nhiên. Nghe mà chẳng nghe tức thân ứng về chân. Nghe tức là nghe là ứng tích có thấy nghe. Một sư y cứ theo sinh tử Niết-bàn cho rằng Niết-bàn là chân tịch, chẳng nghe là chẳng nghe tức có cảm thì có ứng. Chẳng nghe mà nghe là sinh tử rối ren. Nếu tu đạo thì nghe mà chẳng nghe. Nếu chẳng tu đạo thường thì nghe tức nghe. Có sư cho rằng bốn câu nghe là nghe chẳng phải ý chánh, sau xét lại bốn câu chẳng sinh mới là ý chánh. Cần phải y cứ theo chẳng sinh để giải thích, chẳng nghe chẳng nghe là Niết-bàn vô thỉ vô chung, chẳng sinh mà sinh là Niết-bàn vô thỉ mà hữu thỉ. Sinh mà chẳng sinh là Niết-bàn vô chung mà chung. Sinh tử cũng giống như thế. Sinh sinh là sinh tử vô thỉ vô chung, chẳng sinh mà sinh là sinh tử vô thỉ mà có thỉ, sinh mà chẳng sinh là vô chung mà chung.
Nay cho rằng các nghĩa trên đều chẳng đúng. Vì sao? Vì ba phen bốn câu này bao gồm các pháp thông suốt tất cả. Dùng ý Viên giáo giải thích kinh còn sợ chẳng hợp thì đâu được dùng ý nghiêng về một bên
để giải thích. Nếu dùng giáo, hạnh, chứng, pháp và dụ để giải thích thì chẳng phải chỉ có phương không hợp được viên, mà còn tổn thương đến thể. Lại có sư y cứ vào một đế để giải thích bốn câu, dù nói là gần gũi mà càng xa xôi, huống chi y cứ vào hai đế thì sự sai lầm càng nhiều. Còn về chân ứng, sinh tử Niết-bàn cũng giống như thế, huống chi dùng ba câu về sinh sinh để giải thích thì tổn hại đến sự càng sâu, huống chi lập Hỗ vô chỉ là chút phần ý của Tiểu thừa, chẳng liên quan gì đến đạo lớn.
Nay chẳng dùng các thuyết trên, vả lại mười việc này là đức nội chứng. Bồ-tát Đức Vương gạn hỏi về chẳng nghe mà nghe, hai lời tuy khác mà đồng hỏi về chứng. Trong lời đáp nói rộng về bốn câu. Nếu muốn giải thích thì dùng ngàn đường muôn lối đồng để hiển bày sự chứng ngộ này còn sợ là chẳng đúng, mà có các sư như “cỏ bay ngoài đồng nội, như lục bình nổi trên mặt sông”, nghiêng về sự tướng, chấp một hại nhiều, không chỉ trái với nhất viên thường mà còn chẳng bao giờ chứng ngộ.
Nếu dùng bốn câu giải thích chung các nghĩa thì chỗ nào cũng đều thông. Nếu muốn giải thích bốn câu thì nên dùng lời Phật. Tuy Phật đáp về chứng mà ý lại thông đến tu, mới vào chứng đạo, tu đạo liền xong, không còn có gì, đó gọi là chẳng nghe. Chân minh chợt mở, chiếu soi cùng khắp tức là nghe. Cho nên nói chẳng nghe mà nghe. Chứng đắc Đại Bát-niết-bàn như thế mà Đại Bát-niết-bàn chẳng có tướng nghe nên gọi là chẳng nghe chẳng nghe. Chứng khởi thì hoặc tiêu diệt nên gọi là nghe mà chẳng nghe. Vắng lặng mà thường chiếu, hễ gõ liền ứng nên gọi nghe mà nghe. Nay y cứ theo lời Phật giải thích bốn câu về chẳng sinh mà sinh để giải thích ý này. Đã là Phật giải thì chẳng phải là lời giải thích suông. Câu thứ nhất là nói về trí chứng; câu thứ hai nói về lý chứng; câu thứ ba là nói về đoạn chứng; câu thứ tư nói về ứng chứng. Sự lý trí đoạn ở trong chứng thì tự tha đều đầy đủ không thiếu. Chứng như thế thì chẳng chung với Tiểu thừa, chẳng thể nghĩ bàn, người khác nghe thì kinh sợ, cùng tận biển Niết-bàn. Đây là dùng một diệu chứng để giải thích tâm nghi của hai Bồ-tát.
Lại chẳng nghe mà nghe là chứng hạnh Thánh, nghe mà chẳng nghe là chứng phạm hạnh, chẳng nghe là chẳng nghe tức là chứng hạnh Thiền, nghe là nghe tức là chứng hạnh Trẻ thơ và hạnh Bệnh. Một chứng tất cả đều chứng, đầy đủ viên chứng, nên văn kinh ở trên ghi: “Phật bảo Ca-diếp: Chẳng những mình ông chứng năm hạnh này, mà trong chúng hội này năm mươi ba vạn người đều được như thế”. Tức là nghĩa này.
Lại chẳng nghe mà nghe là chứng liễu nhân, nghe mà chẳng nghe là chứng duyên nhân, chẳng nghe chẳng nghe là chứng chánh nhân, nghe là nghe tức chứng cảnh giới. Cho nên Đức Phật trả lời Bồ-tát Lưu Ly Quang: “Ta có ngọn đuốc tuệ chiếu sáng cho ông thấy rõ được Phật tánh”. Chính là nghĩa này.
Lại chẳng nghe mà nghe là chứng viên tịnh, chẳng nghe mà nghe là chứng Tánh tịnh, nghe mà chẳng nghe, nghe mà nghe là chứng Phương tiện tịnh. Cho nên Đức Phật trả lời Bồ-tát Lưu Ly Quang: “Nay thầy muốn cùng tận biển Đại Niết-bàn, ta sẽ giải thích đầy đủ cho thầy nghe”. Tức là nghĩa này.
Nếu đạt được ý này thì trong nhất chứng được tự tại giảng nói sâu rộng.
Thế nào gọi là Như? Vì đó là nghĩa chẳng khác. Bốn câu kia đây chẳng khác nhau, mà lại đối với bốn câu kia lập danh nghĩa nhằm để hiển bày giải thích lẫn nhau, so sánh ví dụ để thông suốt hiển bày. Cho nên lược nêu hai loại bốn câu để làm đầu mối hiển bày nghĩa sâu rộng, bao gồm tất cả pháp trong ngoài đâu thể nói bốn câu này là để dụ thuyết.
Hưng Hoàng lại cho rằng bốn câu này đồng với bài kệ “xưa có nay không” mà Bồ-tát ở núi Tuyết xả thân cắt thịt v.v... để được nghe. Trong đó chẳng sinh mà sinh là xưa không nay có, sinh mà chẳng sinh là xưa có nay không, sinh là sinh tức ba đời thật có pháp, chẳng sinh tức chẳng sinh là chẳng có việc ấy. Lại sinh mà chẳng sinh là các hành vô thường, chẳng sinh mà sinh là pháp sinh diệt, sinh là sinh tức là sinh diệt đã diệt, chẳng sinh là sinh tức vắng lặng là an vui. Lại chẳng sinh mà sinh tức Như Lai chứng Niết-bàn, sinh tức chẳng sinh là dứt hẳn sinh tử, sinh tử tức sinh là sinh. Nếu dốc lòng thì thường được vô lượng an vui tức chẳng sinh là chẳng sinh.
Ở đây cho rằng đầu tiên là y cứ theo gốc viên chứng, nghĩa đã lập, thông suốt đến các pháp trong ngoài. Ở đây chỉ thông các kinh Đại thừa mà còn thông đến các bộ luật Tiểu thừa. Trong đó, sinh là sinh tức các điều ác sinh mà chẳng sinh, tức chớ tạo tác; chẳng sinh mà sinh tức các điều lành nên vâng làm; chẳng sinh tức chẳng sinh là hãy thanh tịnh tâm ý mình, v.v... Bốn câu này chẳng những thông đến các kinh luật Đại Tiểu thừa mà còn thông đến Luận của Bồ-tát. Sinh mà sinh pháp do nhân duyên sinh; sinh mà chẳng sinh là câu “Ta nói tức là không”; chẳng sinh tức sinh là câu “cũng gọi là giả danh”; chẳng sinh tức chẳng sinh “cũng là nghĩa Trung đạo”, v.v...
Từ câu “Bạch Thế Tôn!” v.v… trở xuống là đoạn ba, nghiên cứu lại. Vì nghĩa chẳng sinh mà nghe v.v... để giúp cho lời giải thích. Nếu thấu hiểu được nghĩa chẳng nghe mà nghe v.v... thì chẳng cần nói lại nghĩa chẳng sinh mà sinh. Nay muốn so sánh để thông thấu, ý nghĩa bao gồm tất cả nên phải suy xét lại. Văn có hai đoạn:
-
Y cứ theo bốn câu pháp trong.
-
Y cứ theo bốn câu pháp ngoài.
Bốn câu pháp trong, mỗi câu trước đều có hỏi và sau là lời đáp. Nói “an trụ thế đế” có hai nghĩa. Nếu theo pháp ngoài sinh tử, một niệm đầu tiên gá thai gọi là an trụ thế đế. Nếu y cứ theo pháp ngoài Niết-bàn, tu tập phương tiện gọi là an trụ Niết-bàn. Từ tu được chứng, vô minh chợt phá tức là mới ra khỏi thai, cũng là Niết-bàn vô thỉ mà nói vô thỉ. Dùng nghĩa này so sánh biết các nghĩa chẳng nghe mà nghe v.v... tức là viên chứng, nghĩa ấy càng rõ ràng.
Thế đế sinh tử cũng có hai nghĩa. Nếu y cứ theo sinh tử pháp ngoài, khi phước và mạng đã hết thì gọi là chết thế đế. Nếu y cứ theo pháp trong Niết-bàn, khi vô minh diệt hết thì gọi là chết thế đế. Cũng là sinh tử vô chung mà nói có chung. Bồ-tát Tứ trụ, các sư xưa cho rằng đó là Sinh quý trụ trong mười trụ được tự tại sinh, lại nói đó là Tứ địa trong mười Địa, dứt kiến đế, chẳng đọa vào ba đường, có khả năng dùng thần lực, thị hiện tự tại sinh.
Nay xét hai cách giải trên thì một dường như nghĩa Biệt giáo, một dường như nghĩa Thông giáo, chưa hội thông với văn này. Xét kỹ ý nghĩa thì chỉ là làm cho Bồ-tát Tứ trụ dứt hết các hoặc, chẳng bị kết nghiệp dẫn sinh vào ba cõi mà năng thị hiện sinh, gọi là sinh tự tại. Kinh Thập Địa có nói nghĩa Lục trụ, trụ thứ tư tương ứng với nghĩa này, trong Chỉ Quán quyển năm có trích dẫn đầy đủ. Ở đó cũng có dẫn chứng các nghĩa chẳng sinh mà sinh, v.v...
Thứ hai là y cứ theo bốn câu pháp ngoài.
Nói chưa sinh mà sinh, trong đó chưa và chẳng mỗi pháp tùy theo nghĩa mà lập.
Từ câu “Bồ-tát Lưu Ly Quang v.v...” trở xuống là đoạn thứ tư, kết luận lời hỏi. Trong ba loại bốn câu chỉ kết luận loại bốn câu chẳng sinh mà sinh v.v... lại trong đó chỉ kết luận câu gạn hỏi sinh tức sinh mà thôi. Vì muốn nhân câu này mà hiểu rộng đến tất cả các câu. Văn có ba:
-
Thưa hỏi.
-
Giải thích.
-
Thọ lãnh, tin hiểu.
Phần gạn hỏi gồm có sáu câu ba cặp:
-
Cứ theo thường và vô thường để hỏi.
-
Y cứ theo tự sinh, sinh tha để hỏi.
-
Y cứ theo xưa có, xưa không để hỏi.
Tất cả đều hỏi về sinh sinh, đó là do thường mà sinh hay vô thường mà sinh; là tự sinh hay tha sinh; là xưa có sinh hay xưa không sinh.
Thứ nhất là thường vô thường. Nếu sinh là thường thì pháp hữu lậu lẽ ra không có việc sinh này. Nếu sinh là vô thường thì hữu lậu là thường. Sinh tự là vô thường, vô thường thì diệt, chẳng thể giữ được, há sinh là hữu lậu hay sao? Hữu lậu đã chẳng phải do sinh sinh ra, nên hữu lậu là Thường.
Kế là từ câu “Bạch Thế Tôn!” v.v… trở xuống là thứ hai, kết luận y cứ tự sinh và sinh tha mà hỏi.
Sinh nếu tự sinh thì sinh chẳng có tự tánh, tức là nói sinh đã tự là sở sinh, thì chẳng phải năng sinh. Vì không có tánh năng sinh nên nói là không có tự tánh. Thuyết thứ hai cho rằng sinh vốn là giả duyên chưa có tự tánh, thì đâu thể tự sinh. Nếu không tự tánh thì đâu thể sinh pháp khác (sinh tha). Nếu sinh ra được pháp khác v.v... là sinh, vì sao chỉ sinh pháp hữu lậu khác mà chẳng sinh pháp vô lậu khác. Hữu lậu vô lậu là đối với tự, còn tất cả đều là tha.
Từ câu “Nếu khi chưa sinh v.v...” trở xuống là lời hỏi thứ ba.
Nếu xưa có, tức khi chưa sinh đã sinh, vì sao đến nay mới gọi là sinh. Nay chính là lúc duyên hợp. Nếu xưa không sinh mà có thể sinh thì hư không là vô, vì sao chẳng nói là hư không sinh?
Từ câu “Đức Phật khen v.v...” trở xuống là đoạn hai, giải thích, có ba ý:
-
Bác bỏ là sáu câu hỏi.
-
Giải thích sáu lời bác bỏ ngược lại.
-
Đáp sáu câu hỏi, gồm sáu lời bác bỏ và một lời đúng, gồm có bảy chương.
Thứ nhất là bác bỏ sáu câu hỏi.
Nếu nhất định như lời ông hỏi thì đều không thể nói, đầu tiên nói chẳng sinh mà sinh không thể nói tức bác bỏ ngược lại câu hỏi sinh nhất định là thường, thứ nhất. Sinh mà sinh không thể nói là bác bỏ ngược lại câu sinh chắc chắn vô thường, thứ hai. Sinh mà chẳng sinh là bác bỏ lại câu “tự sinh thì mất tự tánh, nên sinh mà chẳng sinh”, thứ ba. Chẳng sinh mà chẳng sinh không thể nói là bác bỏ ngược lại câu sinh tha, thứ tư. Trước nói năng sinh tha (pháp khác) vì sao chẳng sinh vô lậu nên nói
chẳng sinh mà chẳng sinh không thể nói. Sinh cũng không thể nói là bác bỏ ngược lại câu “xưa có” thứ năm. Chẳng sinh không thể nói là bác bỏ ngược lại câu xưa không thứ sáu.
Một câu sau kết luận là có nhân duyên nên có thể nói, tức là nói lên có nhân duyên bốn Tất-đàn mà có thể nói.
Từ câu “Thế nào là v.v...” trở xuống là đoạn hai, giải thích sáu môn đã bác bỏ lại ở trên.
Giải thích môn thứ nhất tự cho là sinh, lại nói là chẳng sinh, chẳng sinh tức là thường, vậy hai việc trái nhau nên không thể nói.
Giải thích môn thứ hai. Nếu sinh là vô thường thì sinh lại sinh, sinh được sinh sinh ra, toàn thể đều sinh, lại bị diệt diệt mất thì toàn thể đều diệt. Sinh là sinh nên sinh tức toàn thể đều sinh. Sinh là sinh nên chẳng sinh tức toàn thể đều diệt, cho nên không thể nói.
Giải thích môn thứ ba: Chẳng sinh tự sinh vốn là dùng chữ trong sinh tử.
Giải thích môn thứ tư. Niết-bàn cũng có nghĩa sinh, chẳng thể nhất định nói Niết-bàn là chẳng sinh. Trước là hỏi: “Đều là sinh tha, vì sao chẳng sinh vô lậu?”. Vô lậu chỉ là Niết-bàn, Niết-bàn cũng có nghĩa sinh, do tu đạo mà được nên lại là sinh, sinh này chẳng bị diệt diệt mất, vậy sinh này là thường nên không thể nói.
Giải thích môn thứ năm. Vốn chẳng có sinh, đâu thể nói chưa sinh đã có.
Thế nào là chẳng sinh tức chẳng sinh không thể nói? Vì có được.
Giải thích môn thứ sáu. Chẳng thể nói nhất định có nơi chẳng sinh, mà lại có nơi việc có thể được vì thế lại là sinh, chẳng đồng với hư không chỉ một bề không sinh.
Thứ bảy là môn có thể nói: Trong mười hai chi nhân duyên, trừ hai chi sau cùng, còn mười chi trước là tác nhân duyên của sinh nên có thể được nói. Ở đây chỉ là giải thích văn, trong Chỉ Quán giải thích bốn câu hỏi rộng hơn. Nay nói thêm: Y cứ theo ý giải thích kia hợp với văn và hội với lý của Đại kinh này. Quán vô sinh của văn kia đều khế hợp với môn Niết-bàn vô sinh.
Nói “Chớ nhập Không định vì đại chúng ngu độn”, có hai cách giải:
-
Cho rằng đại chúng thật có ngu độn chẳng biết Không định nên nói chớ nhập.
-
Cho rằng nếu nhập Không định mà nói thì đại chúng hiểu chậm.
Nghĩa “Không” rất sâu xa, hiểu được cũng khó, khó nên gọi là ngu độn. Nhưng kệ văn có sáu câu đều không thể nói. Lại có một câu do nhân duyên có thể nói. Đức Phật dùng sáu phen giải thích không thể nói rồi lại chỉ ra do nhân duyên nên có thể nói, nhưng văn nghĩa còn sơ lược nên nay lập lại hai phen nói rằng hễ có nhân duyên thì đều có thể nói. Đối với một câu mà nói đầy đủ bốn câu, đó là chẳng sinh mà sinh, sinh là sinh, chẳng sinh là chẳng sinh, sinh mà chẳng phải sinh. Bốn câu đều nói như thế, đó là do nhân duyên nên có thể nói. Cũng có thể nói vì có nhân duyên nên không thể nói. Vì sao? Vì một câu đầy đủ bốn, đâu thể chỉ lập một, hai, ba câu mà nói. Vì nhân duyên này nên đều chẳng thể nói, cho đến bốn câu đều đủ bốn câu, đâu thể chỉ nói một, hai, ba câu mà do nhân duyên này nên tất cả đều chẳng thể nói. Hơn nữa, bốn câu ngay nơi sự mà lý, lý mà chẳng thể nói. Bốn câu ngay nơi lý mà sự, sự mà có thể nói. Vì sao? Vì văn sau ghi “Biết Như Lai thường chẳng nói pháp, đó là học rộng”. Nay so sánh với nghĩa này, nếu biết bốn câu ngay nơi sự mà lý, tức không thể nói. Các sư Địa luận cho rằng loại bốn câu trước là y cứ theo giáo, hạnh và chứng, vừa xem qua thì chẳng phải không có nghĩa này. Nay muốn phân biệt sáu câu dường như có đơn kép, hoặc chung riêng dứt. Trong đó, hai câu đầu nói về giải hoặc chung riêng, hai câu kế là nói giải chung riêng, bất sinh mà sinh là biệt hoặc thiền, sinh sinh là thông hoặc kép, bất sinh mà sinh là thông giải thiền, chẳng sinh chẳng sinh là biệt giải kép, câu sinh kế là kết luận thiền sinh kép đồng là hoặc sinh. Câu bất sinh kế tiếp là tổng kết thiền ở trước chẳng sinh kép, chẳng sinh đồng là giải. Cho nên thiền kép hoặc giải như thế đều không thể nói. Còn do nhân duyên có thể nói như trước đã luận.
Từ câu: “Này thiện nam! v.v…” trở xuống là đoạn ba, trả lời. Tức là đáp sáu câu hỏi, được chia làm hai:
-
Trả lời hai câu trước.
-
Đáp bốn câu sau.
Đáp hai câu trước, lại chia hai. Trước y cứ riêng bốn tướng, kế đó hợp y cứ theo bốn tướng. Y cứ riêng, có bốn.
Sinh là thường, tức ngay nơi phần ấy mà giữ lấy tự tánh nên được nói là thường. Nói vô thường nghĩa là trụ lại trụ sinh v.v... sinh tức thay đổi nên trở thành vô thường.
Trụ cũng như thế, bị sinh sinh ra nên chẳng phải là Thường.
Dị cũng như thế, mà nói các pháp vô thường là vì trong câu nói về sinh ở trước có ghi “Nếu trụ vô thường thì sinh cũng vô thường”. Nay
nêu pháp đối với Dị lại là pháp sinh trụ vô thường nói ở trước và dị cũng có nghĩa là thường và vô thường, đầy đủ như sinh và trụ.
Hoại cũng như thế. Văn kinh ghi “Xưa không nay có nên hoại cũng vô thường”. Xưa không nay có chỉ là nghĩa sinh, đã sinh lại sinh nên hoại, hoại thì chẳng phải thường. Vậy xưa nay không lại là vô thường.
Từ câu “Vì có tánh v.v...” trở xuống là hợp nói về bốn tướng.
Mỗi tường đều giữ tánh phần của mình nên đều là Thường. Lại vì hai nghĩa ấy nên chẳng được gọi là Thường. Nói gần thì niệm niệm đổi dời; nói xa thì so sánh với Niết-bàn. Vì bị Niết-bàn cắt đứt nên chẳng phải thường.
Từ câu “Pháp hữu lậu v.v...” trở xuống là đáp bốn câu hỏi sau. Chia làm hai phần, trước chánh đáp câu thứ năm, đáp cả câu thứ sáu, sau chánh đáp câu thứ tư, đáp cả câu thứ ba. Thứ nhất là câu thứ năm.
Trên hỏi nếu xưa có, vì sao đến nay mới nói là sinh. Nay trả lời, xưa là có lý sinh, chẳng phải là đã có nay mới sinh ra. Tức là gồm đáp câu thứ sáu v.v… đều là vô sinh.
Vì sao chẳng nói hư không là sinh? Nay đáp, cũng cho rằng lý có thể sinh mới được gọi là sinh, hư không chẳng có lý để sinh thì đâu thể nói chẳng lấy đó làm sinh.
Từ câu “Pháp vô lậu v.v...” trở xuống là trả lời câu thứ tư, gồm có pháp, dụ và hợp.
Đầu tiên là hỏi sinh tha, lẽ ra có thể sinh vô lậu, nay đáp không có lý sinh vô lậu nên chẳng thể sinh pháp hữu lậu có tánh sinh, nên được gọi là sinh, tức đáp cả câu thứ ba sinh vô tự tánh. Nếu có tự tánh thì sinh có thể tự sinh ra nó. Đã không có tự tánh thì đâu thể sinh ra. Đó là đáp cả hai ý tự nhiên cách xa.
Nêu dụ lửa, mắt là vì mỗi pháp đều có tự tánh. Tánh lửa năng sinh; tánh mắt năng thấy. Trong đó nói có tánh sinh cho nên sinh, năng sinh tức là phá tánh nghĩa rồi, sau đó mới nói tánh, cho nên không lỗi. Cũng như trước phá tánh chấp rồi mới nói khi có nhân duyên thì có thể nói.
Kế là hợp, như văn kinh có ghi.
Từ câu “Bấy giờ v.v...” trở xuống là đoạn ba thọ lãnh tin hiểu. Có hai phần:
-
Các nhà kết tập kinh tự giảng nói.
-
Chinh thức trình bày sự giải ngộ.
Trình bày giải ngộ có hai là tự trình bày và trình bày cho đại
chúng.
Về mình thì nói “nghe mà chẳng nghe”, về chúng thì nói “chẳng sinh mà sinh” đây là trình bày môn được giải ngộ. Vì môn bốn câu “chẳng đến mà đến” có người chưa ngộ. Bồ-tát Vô Úy hỏi việc sinh về cõi Bất động. Đức Vương lại nói về bốn câu chẳng đến mà đến.
Từ câu “Bạch Thế Tôn!” v.v... trở xuống là đoạn ba, Vô Úy nói về nghĩa. Gồm ba ý:
-
Xin chấp nhận.
-
Luận nghĩa.
-
Đáp câu hỏi của Đức Vương. Thứ nhất như văn kinh có nói.
Thứ hai, Vô Úy nói về nghĩa gồm có ba phần là: Hỏi, đáp và tin hiểu. Hỏi lại có hai:
-
Hỏi cõi này sinh về cõi kia.
-
Hỏi chúng sinh cõi kia lợi căn.
Hai câu này thành tựu cho nhau, nếu phân biệt thì thành khác.
Hỏi: Kinh nói Bồ-tát ở hai cõi tịnh uế đều có hơn kém, nay làm sao hiểu?
Đáp: Nếu theo đối nhau để so sánh thì cõi tịnh cao quý, vào quyền thì cõi uế cao quý.
Kế là Đức Phật đáp, tức chánh đáp câu hỏi và gồm phá câu hỏi sau. Gồm hai mươi mốt hạnh, chia làm hai phần:
Mười hạnh dứt ác là điều lành. Mười một hạnh nói về làm lành.
Nhưng nghiệp tịnh Độ tức là tâm Bồ-đề mà nay nói về hạnh riêng, chính là để nói lên chung riêng chẳng khác. [Thứ ba là lãnh giải như kinh ghi.
Từ câu “Bồ-tát Quang Minh v.v...” trở xuống là thứ ba thỉnh đáp câu hỏi của Đức Vương. Bậc thượng căn, trung căn đã hiểu. Bây giờ lại vì người chưa ngộ mà thỉnh đáp. Trước hỏi, sau là Phật đáp.
Đức Phật đáp, có hai: trước khen ngợi khuyên nên nghe; sau là đáp.
Trong phần đáp, trước nêu chưa đến thì chẳng đến, kế là nêu lại
nghe mà chẳng nghe. Trước lại chia làm hai:
-
Nêu chương đến mà chẳng đến.
-
Giải thích.
Theo trong phần giải thích, tức là Đức Vương hỏi đầu tiên có ba loại, sáu loại, Đức Phật nói dụ và phát ra ánh sáng để đáp nghĩa chẳng
nghe mà nghe xong. Kế đó, Bồ-tát Lưu Ly Quang nói về nghĩa rồi đáp nghĩa chẳng sinh mà sinh. Nay lại nên chẳng đến mà đến.
Đầu tiên nói bốn câu nghe mà chẳng nghe thì người thượng căn đã giải ngộ. Kế là nói bốn câu chẳng sinh mà sinh thì người trung căn đã ngộ. Nay vì người hạ căn mà giải thích về “đến mà chẳng đến”. Vì đây là tùy nghi theo duyên nên trước sau nêu ra. Y cứ theo bốn câu này; hai câu trước nói về Niết-bàn có đến mà chẳng đến, tu đạo dứt hoặc thì đến, không như thế thì chẳng đến. Hai câu sau nói sinh tử có đến mà chẳng đến. Nếu tu đạo nhàm chán sinh tử thì không đến, chẳng thế thì đến. Cứ thế xuôi ngược trùng lặp mà tạo thành các câu ở trên.
Nhưng trong đây giải thích phải so sánh với văn trước, trước nói chẳng sinh là chẳng sinh tức Đại Niết-bàn. Ở đây nói chẳng đến lại chẳng khác với bất sinh. Nếu thế thì sao chẳng đồng với ở trước nói về chẳng đến thì chẳng đến? Đáp: Vì duyên có đơn có kép, nói chẳng đến là vì phàm phu chẳng thể tu tập nên nói chẳng đến.
“Chẳng đến mà đến”, cũng phải đối chiếu với văn trước, mới ra khỏi thai thì gọi là chẳng sinh mà sinh. Ở đây nói chẳng đến mà đến, tức là đối với sinh tử mà chỉ nêu một bên.
“Đến mà chẳng đến”, cũng so sánh với văn trước; so sánh với thế đế, khi chết thì gọi là sinh, đó cũng là đắp đổi nhau để nêu lên.
“Đến tức đến” cũng đối với trước mà nói.
Trước nói “sinh sinh chẳng dứt”, ở đây lại nói về sinh tử nên đồng với ở trước.
Kế lại nêu “nghe điều chưa nghe”. Văn có hai. Trước là nêu bốn chương.
Kế là giải thích, chỉ giải thích một câu.
Trước đã giải thích xong, chẳng muốn nhiều lời. Các sư Địa Luận phân biệt giáo chứng có sâu cạn khác nhau. Nhưng nay ý văn chỉ là gặp duyên thuận tiện, phải lập ba thuyết. Chỉ vì ngộ có trước sau, chẳng liên quan đến cạn sâu. Vì sao? Vì lời thì khác mà nghĩa thì đồng.
Từ câu “Bấy giờ v.v...” trở xuống là thứ tư, Bồ-tát Đức Vương nói lại. Văn có hai:
1/ Chỉ hỏi về quả.
2/ Hỏi cả về nhân quả. Thứ nhất lại có ba:
Một, hỏi về Niết-bàn mới có tức là vô thường.
Hai, hỏi về nhân trang nghiêm nên lại vô thường. Ba, hỏi về Niết-bàn nên có cũng là vô thường.
Trong câu thứ ba lại có bốn chương. Nếu chẳng như thế thì chia thẳng thành bảy câu hỏi:
-
Hỏi rằng xưa có nay không nên vô thường.
-
Hỏi rằng vì trang nghiêm nên vô thường.
-
Hỏi vì là có nên vô thường.
-
Hỏi vì thấy được cho nên vô thường.
-
Hỏi về chẳng bình đẳng cho nên vô thường.
-
Hỏi vì cần sự cung đãi nên vô thường.
-
Hỏi vì có danh tự nên vô thường.
Câu thứ hai, thứ ba, thứ tư như văn kinh có ghi. Câu thứ năm, có hai lớp là thí dụ và hợp.
Câu thứ sáu có hợp và dụ, dẫn việc xưa. Câu thứ bảy như văn kinh có nói.
Từ câu “Bấy giờ, Thế Tôn v.v...” trở xuống là đoạn hai, Đức Phật đáp có ba câu. Đầu tiên là đáp xưa không nay có, gồm có pháp, dụ và hợp.
Các sư Địa Luận lập luận chân tu và duyên tu để giải thích. Cho rằng chân tu là xưa có, duyên tu là mới có.
Các sư Tam Luận dùng chánh nhân và duyên nhân để giải thích, cho chánh nhân là xưa có, duyên nhân là mới có.
Từ câu “Ông nói v.v...” trở xuống là đáp câu hỏi thứ hai có pháp và dụ.
Trong dụ lại có ba lớp dụ, như văn kinh có nói.
Từ câu “Thầy nói v.v...” trở xuống là đáp câu thứ ba, Niết-bàn là có. Vừa xem qua thì hỏi và đáp dường như chẳng khớp nhau. Vì hỏi thẳng Niết-bàn là có tức thuộc về vô thường. Nay lại nêu năm nhân là nói Niết-bàn chẳng đồng với nghĩa có của năm nhân, sau đó nên sinh nhân và liễu nhân, lại lược giải liễu nhân. Chỉ đáp câu hỏi này tức đáp cả bốn câu kia.
Trước nêu năm nhân dường như bốn duyên ba nhân. Trong luận Thành Thật nói:
“Sinh nhân tức là báo nhân, chỉ làm cỏ cây thêm lớn, hòa hợp nhân tức là tập nhân, thiện ác tự nhiên tương tự. Trụ nhân tức y nhân. Nhân tăng trưởng tức duyên tăng thượng. Viễn nhân tức là duyên duyên. Chỉ không có duyên thứ đệ”.
Hai nhân sau chẳng đồng với tác nhân mà đồng với liễu nhân.
Như văn dùng hai nhân sau để phân biệt nói năm nhân trước đều là tác nhân.
Từ câu “Bấy giờ v.v...” trở xuống là thứ hai, hỏi cả về nhân quả. Trước nói sáu Độ tức hỏi về nhân, kế là hỏi về Niết-bàn tức hỏi về quả.
Phật đáp có hai phần:
-
Đáp cả nhân quả.
-
Đáp riêng nhân và quả. Đáp cả như văn kinh ghi.
“Này thiện nam! Thế nào là thí v.v...” trở xuống là thứ hai, trả lời riêng về nhân quả. Có hai phần là nhân và quả. Về nhân lại có hai:
-
Thuận nhân.
-
Nghịch nhân.
Về thuận nhân lại có hai:
-
Chánh đáp.
-
Khen ngợi kinh.
Chánh đáp có sáu lần nói về Độ và chẳng phải Độ. Năm phen trước là chút phần Niết-bàn, một phen sau chính thức xếp vào Độ.
Có tướng có đắc chẳng có nghĩa là Độ, Vô tướng vô đắc mới có nghĩa là Độ. Trong đó nêu Đàn Độ đầu tiên, năm độ kia đều chỉ cho kinh Tạp Hoa.
Từ câu “Thế nào là v.v...” là khen ngợi kinh. Trước là kết luận làm lời khen ngợi về Bồ-tát; sau là kết luận Ba thừa làm lời khen ngợi.
Nói mười hai thể loại kinh ý nghĩa sâu xa. Xưa mười hai loại chỉ nói về Không. Nếu so với sinh tử thì đó là sâu mà chưa xa. Kinh này nói về sinh là sinh, cho nên sâu xa. Đó cũng là có mà chẳng có, ngay nơi không mà chẳng không, ngay nơi chẳng không mà chẳng không. Vì thế rất sâu xa.