ĐẠI BÁT-NIẾT-BÀN KINH SỚ
QUYỂN 23
PHẨM 22: ĐỨC VƯƠNG (PHẦN 6)
Đầu quyển nói về công đức thứ chín. Khai Thiện cho rằng từ công đức thứ nhất đến công đức thứ sáu, bắt đầu từ chẳng nghe mà nghe đến tâm Kim cương. Công đức thứ bảy, công đức thứ tám bắt đầu từ bạn thiện đến Tuệ Giải thoát. Công đức thứ chín, thứ mười bắt đầu từ tín tâm cho đến ba mươi phẩm Trợ đạo. Quyển này là vòng thứ ba. Có Sư cho rằng chẳng đúng như thế, mười công đức này tạo thành từng cặp, lúc cạn lúc sâu, trang nghiêm năm hạnh trước.
Ở đây, chẳng cho như thế, năm hạnh là nói về tu; mười công đức là nói về chứng. Công đức của chứng thì có sâu cạn khác nhau. Nếu thế thì vì sao trước sâu sau cạn?
Đáp: Cũng có ý này, như ở công đức thứ nhất nói là chẳng chung cho Thanh văn và Bích-chi-phật, sau cùng là nói ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Nghe nói danh từ đạo phẩm thì nói rằng đó là cạn cợt, nếu nói về nghĩa lý thì vượt hơn Nhị thừa, v.v...
Toàn quyển được chia thành ba là: Nêu lên, giải thích và kết luận.
Thứ nhất như văn kinh có ghi.
Kế là giải thích, gồm có hai phần: Trước nói về năm việc, sau nói về nghĩa. Thứ nhất có ba: Một là nêu năm việc; hai, là giải thích; ba, là hỏi. Nêu năm việc lại có hai: Một, là đề ra. Kế là kể tên năm việc.
Tín do bên trong phát khởi, thấy được Thánh tánh. Trực tức là trực khởi tâm, chẳng phải từ duyên do. Giới là tánh giới, bạn thiện đầy đủ Bồ-đề, học rộng tức là nghe ở nơi chẳng nói. Năm việc này đều y cứ theo lý mà giải thích, đâu thể cho là cạn cợt, trong văn có thể thấy.
Từ câu “Thế nào gọi là tín v.v...” trở xuống là phần thứ hai giải thích, gồm có năm chương. Đầu tiên nói về tín, có ba câu:
-
Tín thể.
-
Tín đức.
3. Kết luận.
-
Tín thể: Tin những pháp gì? Gồm nêu lên năm pháp: 1. Tin Tam bảo; 2. Tin nhân quả; 3. Tin hai Đế; 4. Tin Nhất thừa; 5. Tin ba Đế.
Có Sư cho rằng tin Đệ nhất nghĩa Đế là tin chân; tin phương tiện khéo léo là tin tục. Có sư cho rằng trước đã nói hai Đế rồi đâu cho lặp lại nữa. Y cứ theo kinh Hoa-nghiêm nói: “Nếu khen ngợi Bồ-tát thì nêu tên hai trí; nếu khen ngợi Phật thì nêu tên hai thân”. Chỉ có một thể, tùy ẩn và hiển mà tên có khác nhau. Có sư cho rằng Đệ nhất nghĩa Đế và phương tiện khéo léo là hai thân cũng là hai trí.
Nay nói văn này tự nói là Đệ nhất nghĩa Đế, đâu cho sửa đế là trí là thân. Nay lập ba Đế thì tự đã khác với hai đế, không thành nói lại, mà văn kinh lại y cứ theo Nhất thừa để hiển bày ý nghĩa của tín nhưng vì chúng sinh nên phân biệt nói ba. Vì biết không khác đường nên nói là một. Y cứ theo một việc này thì thông suốt bốn pháp kia. Tam bảo cũng như thế, vì chúng sinh nên phân biệt thành hai thể, biết trở về chỗ chí cực nên nói một thể. Nhân quả cũng thế vì chúng sinh nên nói từ nhân cho đến quả, đến chỗ người kia rồi thì chẳng có người thí, chẳng có người thọ. hai Đế, ba Đế cũng như thế.
-
Tín đức:
Từ câu “Người tin như thế v.v...” trở xuống là giải thích Tín đức. Giải thích có bốn ý thứ lớp nối tiếp nhau mà sinh, tín này bền chắc chẳng ai hoại được, vì sao? Vì được tánh của bậc Thánh làm cội gốc, tức là tâm tin thấy tánh sâu chắc khó nhổ lên được. Vì gốc sâu nên sẽ lớn
thêm, gần gũi Đại Niết-bàn, thành tựu giới, v.v...
Đầu tiên tất cả các pháp đều từ Thánh tánh, gần gũi Đại Niết-bàn là dọc cao, giới, học rộng, trí tuệ v.v... tức là ngang rộng. Tuy có dọc cao ngang rộng khác nhau mà chẳng thấy tướng ngang dọc, rộng sâu. Nói về tín như thế, đâu thể vội cho là cạn cợt.
-
Kết luận.
Kế là giải thích việc thứ hai, gồm có ba là nêu lên, giải thích và kết luận. Thứ nhất là nêu lên. Văn giải thích có hai:
-
Chẳng tà vạy là trực tâm.
-
Lấy sám hối làm trực tâm.
Thứ nhất nói chẳng tà vạy, có hai đoạn là giải thích và nói về ng- hĩa. Phần giải thích có chánh giải thích và giải nghi, thứ nhất là chánh giải thích.
Vì hiểu nhân duyên cho nên chẳng tà vạy.
Từ câu “Tuy thấy các...” trở xuống là giải thích nghi.
Qua lại giải thích cho nhau. Đầu tiên thấy điều ác mà chẳng nói; sau thấy điều thiện thì khen ngợi nên nghi rằng thấy điều ác lẽ ra nên nói mà lại chẳng nói, đó là chẳng trực tâm. Thế nào là Trực tâm? Giải thích: Sợ sinh phiền não. Lại nghi: Lại thấy điều ác chẳng nói, thấy điều thiện lẽ ra chẳng nên nói mới đúng là Trực tâm. Kế đến nói: “Chẳng phải như thế” tức là giải thích: Khen ngợi Phật tánh để được Bồ-đề.
Kế là trong phần nói về nghĩa có hỏi và đáp. Hỏi có sáu câu, gồm ba cặp. Hai cặp đầu tiên từ phẩm Hiện Bệnh mà sinh. Có người nói ba loại, năm loại người bệnh. Kế là hai câu là từ công đức thứ nhất sinh. Hai câu cuối là từ văn này sinh.
Y cứ hai câu đầu, câu thứ nhất gồm có ba: thứ nhất bác bỏ ngược lại ý chỉ của Phật.
Kế là nói lại ý chỉ khi mới nói kinh Niết-bàn.
Từ câu “nếu gặp hay chẳng gặp v.v...” trở xuống là thứ ba, chinh thức thưa hỏi.
Đã tự phát được tâm Bồ-đề thì đâu cần Phật tánh mới được Bồ-đề.
Đây là y cứ theo người bệnh thứ ba để thưa hỏi.
Câu thứ hai của cặp thứ nhất, có hai ý: trước lãnh chỉ và bác bỏ ngược lại; sau là chính thức hỏi.
Đây là nói hàng Nhất-xiển-đề cũng phát tâm được. Vì sao? Vì họ đã có Phật tánh lẽ ra tự có thể phát tâm đâu cần đợi khen ngợi. Đây là y cứ theo người bệnh thứ hai để hỏi.
Từ câu “Như lời Phật nói v.v...” trở xuống là câu thứ hai từ công đức thứ nhất khởi phát. Trong quyển mười hai nêu năm câu hỏi, trong đó có hai câu đầu y cứ theo người phạm bốn giới trọng, hai câu kế y cứ theo Nhất-xiển-đề, một câu cuối là y cứ theo bất định. Phật đáp rằng “Phật tánh chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng thường chẳng vô thường, vì thế chẳng đoạn”: Bây giờ lại nhân đó mà khởi nghi, vặn hỏi. Đầu tiên là lãnh chỉ và bác bỏ ngược lại.
Kế đến là chính thức vặn hỏi.
Đã nói chẳng đoạn Phật tánh, vì sao lại nói là cắt đứt gốc thiện? Chỉ vì Phật tánh này là gốc thiện, đã cắt đứt gốc thiện tức là cắt đứt Phật tánh. Vì sao lại nói Phật tánh chẳng ở trong, chẳng ở ngoài?
Từ câu “Như khi trước v.v...” trở xuống là câu vặn hỏi.
Nếu Phật tánh chẳng bị cắt đứt, vì sao chẳng ngăn chặn để khỏi đọa địa ngục? Đã chẳng dứt bỏ phiền não, chỉ cắt đứt gốc thiện, vì có Phật tánh lẽ ra phải có công năng ngăn chặn các điều ác? Lời đáp chưa được rõ nên phải nói về nghĩa.
Từ câu “Nếu do Phật tánh, v.v...” trở xuống là thứ ba, lại có hai câu hỏi, gần từ đây mà sinh.
Nếu khen ngợi Phật tánh mà khiến phát tâm thì đâu cần nói mười hai thể loại kinh? Nhưng khen ngợi Phật tánh đã tự có đầy đủ ý nghĩa. Văn đã có pháp, dụ và hợp.
Từ câu “chư Phật Như Lai v.v...” trở xuống là câu hỏi sau.
Từ công đức thứ tám, Đức Phật đáp là tâm tham chẳng phải có chẳng phải không, chẳng phải nhân chẳng phải quả; hoặc nói trong nhân có quả, hoặc nói trong nhân không có quả. Nay y cứ theo đây để hỏi, nếu như thế thì trong sữa không có lạc, cây không cao năm trượng. Nếu trong sữa có lạc, có cây cao năm trượng thì nên biết trong nhân có quả, chẳng nên vọng nói là không.
Từ câu “bấy giờ, Đức Thế Tôn, v.v… trở xuống” Là Đức Phật đáp, có hai ý: một, là khen ngợi; hai, là đáp.
Khen ngợi có hai: một, là khen ngợi câu hỏi; hai, là nêu năm câu khen ngợi công dụng.
Đầu tiên là nêu sáu loại hai người, khen ngợi họ khai phát đại chúng khiến được Giải thoát, chẳng những dứt nghi cho người ở hiện tại mà còn khiến cho chúng sinh ở đời vị lai không còn dính mắc. Thật là ít có cho nên khen ngợi. Hai người đầu tiên, người thứ nhất vốn chẳng gây ra điều ác, người thứ hai đã gây ra điều ác lại sám hối tức là đứa bé khỏe mạnh đã dụ ở trước. Người thứ hai biết ân báo ân, người ban ân cho ta, ta cần phải báo đáp. Người thứ ba, một là nghe nhận pháp mới; hai là ôn luyện pháp cũ. Sách nói “ôn cũ biết mới mới đáng làm thầy”. Người thứ tư, là sáng tạo việc mới tốt đẹp, hai là tu bổ việc cũ. Người thứ năm, thích nói, thích nghe pháp. Nếu không có người nói thì nghe điều gì; nếu không có người nghe thì nói cho ai? Người thứ sáu, thứ nhất là khéo hỏi; thứ hai là khéo đáp. Ý chánh là ở hai vị này, còn năm hạng người kia là chỉ đễ dẫn dắt mà thôi. Khéo hỏi là ông, khéo đáp là ta. Không có ta khéo đáp thì đâu có được ông khéo hỏi. Có người thuận nghịch đều thông, biện luận trôi chảy, năng làm chủ làm khách. Có người chỉ được một mà không được hai. Như môn hạ của Trang Ng- hiêm là Pháp sư Tịnh Tạng chỉ khéo hỏi mà không thể đáp. Có người chỉ khéo giải thích mà nói nghĩa thì chẳng thông, như Chánh Công ở Bành thành, v.v...
Nay suy ra sáu cặp ở trước thành năm câu nói ở sau, trong đó hai cặp luôn nghe luôn nói, khéo hỏi khéo đáp thành câu xoay bánh xe pháp. Tạo mới sửa cũ thành cây khô mười hai nhân duyên, chấp có là
mới, vô minh là cũ; chẳng sinh là mới, khi Thế đế chết là cũ, phá mới gọi là tạo pháp mới; dùng cũ phá cũ gọi là sửa cũ. Làm ân nhớ ân thành câu vượt biển, ban ân tức vì người mà làm chiếc thuyền; nhớ ân tức tự lái chiếc thuyền này, vì thế thành câu vượt biển. Cặp chẳng tạo ác, tạo rồi thì sám hối thành câu phá dẹp cờ ma. Ma lấy ác làm cờ, nay ta phá đổ lại tự xây dựng chánh pháp. Các câu trước sau thành tựu cho nhau.
Khen ngợi sinh điều thiện là một câu đầu; khen ngợi diệt ác là bốn câu sau.
Đã nói: “Nhờ câu hỏi khéo léo này mà xoay được bánh xe pháp vô thượng”. Đó há chẳng phải là nghĩa sinh ra điều thiện hay sao?
Bốn câu sau được chia làm hai:
-
Hai câu đầu khen ngợi dứt ác.
-
Hai câu sau khen ngợi phá ác.
Hai câu này, câu trên khen là làm khô cây mười hai nhân duyên. Nghĩa là mười hai nhân duyên cành lá sum suê cao vót dụ như cây lớn, nay làm khô chết cây này thì hoa lá chẳng mọc nữa.
Câu “Vượt qua biển sinh tử vô biên”, nghĩa là biển sinh tử nổi sóng gió đáng sợ mà nay vượt qua được, mãi mãi tránh được hiểm nguy không còn kinh sợ.
Chiến đấu với ma, đây là nói lúc khởi đầu; đạp ngã cờ cao của ma là nói lúc cuối cùng. Nêu cuối cùng để gạn nhiếp khởi đầu. Ở Ấn-độ khi thắng trận là dựng cờ, khi thua trận thì phá đổ cờ này. Nay bại trận nên ma tự đạp ngã cờ của chúng.
Kế là trong lời đáp, theo thứ lớp đáp có ba cặp sáu câu hỏi. Đầu tiên đáp hai câu hỏi về ba bệnh ở trước. Kế là đáp câu hỏi về công đức thứ nhất, sau cùng là đáp câu hỏi về văn này.
Chỉ trả lời hai câu trước nhưng chẳng theo thứ lớp. Giải thích ba thứ người bệnh xong tức là trả lời hai câu hỏi thứ nhất. Nếu theo lý thì chỉ nên giải thích hai loại người bệnh thứ nhất và thứ ba, mà nay lại giải thích người bệnh thứ hai chẳng cần lấy đây làm câu trả lời, chỉ vì ở giữa đã nêu lên mà nay theo thứ lớp giải thích nên phải nói, nếu kia chẳng nêu thì đây cũng chẳng giải thích.
Từ câu “Nhất-xiển-đề, v.v...” trở xuống là đáp câu hỏi thứ ba.
Trước đã nói nếu chẳng dứt Phật tánh lẽ ra cũng chẳng dứt gốc thiện, vì gốc thiện tức là Phật tánh, Phật tánh tức là gốc thiện. Nay đáp Trung đạo Phật tánh chẳng đồng với gốc thiện. Vì sao? Vì Nhất-xiển là Tín, đề là chẳng có. Phật tánh chẳng phải tín cũng chẳng phải có thì làm sao có thể dứt. Phật tánh chẳng phải thiện, chẳng phải ác, Xiển-đề
chỉ có thể dứt điều thiện thì làm sao dứt được tánh? Trong đó các câu đều nói như thế.
Xưa nay đều cho rằng Xiển-đề nghĩa là có đủ các điều ác mà chưa biết dịch thế nào. Chỉ có Hà Tây dịch là Cực Dục. Nói về Cực dục chỉ là ở trong tổng ác, mới lấy một việc để dịch như danh từ Niết-bàn bao gồm các đức, không có từ chánh phiên mà phiên là diệt độ, cũng trong chỗ chung ấy lấy một việc này để phiên dịch, vả lại pháp thiện gọi là sinh rồi mới được. Các sư Số Luận cho rằng thiện có hai loại là sinh đắc thiện và phương tiện thiện. Việc từ hiếu ở thế gian là sinh đắc thiện mà hàng Xiển-đề cũng không có nên nói là đã dứt.
Từ câu “Như lời ông nói v.v...” trở xuống là đáp câu hỏi thứ tư.
Trước hỏi vì sao chẳng ngăn chặn tội đọa địa ngục, nay lặp lại lời hỏi để trả lời. Nói Phật tánh của Xiển-đề chẳng phải có chẳng phải không. Vì ngay nơi sự cầu mong chẳng được nên nói chẳng có, nhưng lại có lý này cho nên nói chẳng phải không. Vả lại có phương tiện khéo léo nên chẳng phải không, chẳng có phương tiện khéo léo nên nói chẳng phải có. Vì thế nêu cây đàn không hầu để dụ cho có và không. Trước nêu dụ, sau là hợp.
Vua là dụ cho chúng sinh, đàn không hầu dụ cho thân chúng sinh, âm thanh dụ cho Phật tánh, đại thần dụ cho Phật Bồ-tát khéo giảng nói pháp mầu, bứt dây đàn dụ cho thân mạng đã hết, chẻ cây xé da dụ cho năm căn bốn đại, tìm cầu chẳng được tức là không có phương tiện, nên chẳng phải có.
Hợp dụ, Phật tánh không có nơi chốn tức chẳng phải có, vì có phương tiện khéo léo nên thấy được tức chẳng phải không.
Từ câu “Như lời ông nói v.v...” trở xuống là đáp câu hỏi thứ năm và thứ sáu, nói lẽ ra có tánh nhất định.
Ý của lời đáp là nêu chẳng có tánh nhất định vì nhân duyên cho nên có. Nếu trong sữa chắc chắn có tánh lạc thì đã tự sinh, chẳng nhờ tìm nước cây, đã nhờ vào các duyên thì biết trong nhân không có quả. Nhưng trước đã lập sáu câu hỏi mà nay chỉ bị một lời quở trách. Vì sao?
Đáp: Cho và đoạt đều hợp thời nghi đều vì lợi ích, chính là nói các câu hỏi này thuộc về chấp tánh, nghĩa tánh này đồng với ngoại đạo. Nhờ vào chánh để quở trách tà. Chê là người ngu si thật ra chẳng phải quở trách Bồ-tát Đức Vương. Câu đáp là gồm đáp câu thứ năm. Khen ngợi điều thiện đã tự đầy đủ thì đâu cần nói mười hai thể loại kinh. Nay nói đã không có tánh, nhân duyên nhất định mà có cho nên phải nói mười hai thứ làm duyên.
Kế là dùng sám hối để nói về trực tâm. Nếu có tội mà chẳng sám hối thì chẳng phải trực tâm. Văn có ba đoạn: thứ nhất, từ câu “dù có tội v.v...” trở xuống là nói về sám hối.
Kế là từ câu “Với thầy v.v...” trở xuống là phát lộ.
Thứ ba, từ câu “Hổ thẹn tự trách v.v...” trở xuống là nói dứt trừ tâm nối nhau.
Kết luận như văn kinh ghi.
Từ câu “Thế nào v.v...” trở xuống là giải thích Giới. Văn có hai: một, là lìa giới ác.
Tức chấp lấy tướng của trâu, chó v.v... để làm theo. Có ngoại đạo tu được thần thông, thấy trâu chó chết đi được sinh lên cõi trời, liền học theo cách sống của trâu chó, cầu mong được sinh lên cõi trời. Các giới khác cũng như thế.
Kế là nói được giới thiện. Như văn kinh có ghi.
Từ câu “Thế nào v.v...” trở xuống là đoạn thứ tư, giải thích bạn thiện. Văn có bốn: nói về đúng, nói về chẳng đúng, dẫn chứng về đúng, dẫn chứng về chẳng đúng. Đầu tiên nói về đúng. Văn có hai: một, là Bồ-tát là đúng, hai là nói Như Lai là đúng.
Sát-đa thấy Phật được sinh lên cõi trời, có hai cách giải thích:
-
Các sư Số luận cho rằng phải có định cõi trên mới được sinh lên cõi trời. Nay nhờ Phật lực, phát được định khi xưa đã tu cho nên được sinh lên cõi trời.
-
Cho rằng thấy Phật thì chế phục được các điều ác của cõi dưới, thuận theo tánh thiện mà được sinh lên cõi trời.
Từ câu “Tuy có...” trở xuống là thứ hai, nói về chẳng đúng.
Đã chưa biết rõ căn cơ thì chẳng xứng hợp với duyên cho nên nói chẳng đúng. Như Lai xứng hợp với duyên biết thuốc biết bệnh nên nói là đúng.
Từ câu “Khi xưa v.v...” trở xuống là ý thứ ba chứng dẫn về nghĩa chẳng đúng.
Quán xương trắng là thiền bội xả, quán sổ tức là thiền căn bản. Xưa nói thợ kim hoàn biết xem sắc của lửa nên dạy sổ tức. Ở đây chẳng cho là như thế, thợ kim hoàn khéo điều khiển búa vì giúp cho thói quen nên dạy sổ tức.
Nay nói thêm rằng theo luận Trang Nghiêm ghi: “Khéo thổi bể lò rèn, thì khéo biết hơi thở”. Người giặt y phục khéo biết tướng tịnh, nên dạy quán xương trắng. Chẳng đúng như thế, vì người giặt áo quần ghét sự nhơ uế nên dạy quán bội xả dễ hơn.
Từ câu “Ví như v.v...” trở xuống là thứ tư, dẫn chứng cho việc đúng. Như văn kinh có ghi.
Từ câu “Thế nào là đầy đủ học rộng, v.v....” trở xuống là giải thích chương năm, văn có năm đoạn.
Một việc trước là y cứ theo lời văn, bốn việc sau là y cứ theo nghĩa lý. Mười hai thể loại kinh thì văn nhiều nghĩa xa. Tỳ-Phật-lược văn ít mà nghĩa thiết yếu, vì nghĩa thiết yếu nên gọi là học rộng. Nói trừ mười hai thể loại, chỉ cho thọ trì kinh Niết-bàn này. Ở đây chẳng nói lý Niết- bàn ở ngoài mười hai bộ kinh, mà chính là nói văn của mười bộ loại kinh này quá rộng, bỏ rộng theo lược mà lý ấy vẫn giữ, đó là học rộng, đâu cần phải ở nơi lời.
Lại nói không theo toàn thể bộ kinh, chỉ giữ bốn câu kệ, lại không giữ bốn câu kệ, chỉ thọ trì một câu thường trụ, lại không thọ trì một câu thường trụ mà chỉ giữ lấy im lặng, nên biết giảm lại càng giảm, cho đến không còn làm gì. Thông suốt được lý này tức là học rộng, chẳng y cứ theo việc thọ trì nhiều văn ngôn mà gọi là học rộng.
Kế là từ câu “Nếu có v.v...” trở xuống là đoạn ba, khen ngợi. Văn có hai là pháp thuyết khen ngợi và dụ thuyết khen ngợi. Pháp thuyết có hai là nêu ba chương và giải thích.
Giải thích có hai:
-
Giải thích ba việc.
-
Chẳng chấp giữ. Như văn kinh có ghi.
Dụ thuyết có ba: một, là dụ về khó bố thí. Cũng có hợp. Kế đến dụ về khó nhẫn, khó làm. Cũng có hợp, dụ.
Thứ ba, là lập dụ về không chấp đắm có pháp, dụ và hợp.
Từ câu “bấy giờ, Quang Minh v.v…” trở xuống là phần thứ hai, nói về nghĩa. Gồm có hai phen hỏi đáp. Thứ nhất là hỏi đáp, có hai: một, là định hai ý; hai, là gạn hỏi hai ý.
Đầu tiên định hai ý là định tự không và định không không.
Nếu tự tánh là không là kết câu thứ nhất thành một lời hỏi. Nếu tự tánh chẳng không tức kết câu thứ hai thành một lời hỏi.
Từ câu “này ngưới thiện nam” trở xuống là lời đáp, có hai: một, là đáp câu thứ nhất tánh vốn tự không. Vì sao? Vì văn sau nói tất cả pháp không thật có thì há chẳng phải là không ư? Hai, tức cũng phải tu không mới được không. Vì bản tánh của nó theo lý vốn là không mà chẳng thể thấy được, phải tu không mới thấy được không.
Đã đáp hai câu ấn định thì hai câu thưa hỏi tự phá. Đáp câu ấn
định thứ nhất, gồm có ba: Một, là lược nêu.
Kế là từ câu “Vì sao v.v...” trở xuống là giải thích rộng.
Thứ ba là từ câu “Vì tương tự v.v...” trở xuống là nêu được mất để làm kết luận. Văn có ba phần: Một nêu phàm phu là mất, kế nói Bồ-tát là được.
Lại quở trách phàm phu là mất.
Từ câu “Tánh các pháp v.v...” trở xuống là đáp câu thứ hai về ấn định. Ý nói tuy vốn vắng lặng mà phải tu tập mới thấy. Vì có tánh vô thường, nên diệt sẽ diệt được nó; vì có tánh không nên tu không mới được không, nên biết là vốn không. Có pháp, dụ, hợp.
Dụ có hai, từ câu “Như tánh các pháp v.v...” trở xuống là nêu nội pháp để làm dụ.
Từ câu “Như tánh v.v...” trở xuống là nêu ngoại pháp để làm dụ. Từ câu “Bồ-tát v.v...” trở xuống là hợp dụ.
Từ câu “Bồ-tát v.v...” trở xuống là phen thứ hai nói về nghĩa. Lại từ dụ về đến muối phát sinh. Hỏi có hai: một, là hỏi quán không điên đảo.
Vì sao? Vì xưa nay chẳng phải không, tu không mới thấy không, tức là nơi chẳng không mà thấy không, như thế chẳng phải là điên đảo hay sao? Thí như thật thường mà thấy vô thường, vô thường mà thấy thường, đó là điên đảo. Văn có dụ và hợp, lại chuyển thí dụ về muối để làm dụ.
Thứ hai hỏi không đã là vô thì thấy được gì?
Nếu thấy được thì chẳng phải không, nếu không thấy được thì chẳng nên nói là thấy.
Đức Phật đáp hai câu hỏi, gồm có hai chương. Đáp câu thứ nhất có ba: một là nêu chung, hai là giải thích rộng, ba là kết luận. Trong phần nêu chung có pháp, dụ và hợp.
Nói thấy pháp chẳng không trở thành không mà chẳng phải điên đảo, đây chỉ là nói theo lý. Vì các pháp đều là không mà chúng sinh cho là bất không, vì muốn dứt trừ tình chấp ấy nên nói “khiến cho pháp chẳng không trở thành không mà chẳng điên đảo”.
Từ câu “tham là v.v...” trở xuống là giải thích rộng. Văn có hai ý: một là giải thích chẳng phải không trở thành không; hai là giải thích chẳng phải điên đảo. Văn thứ nhất nói chẳng không vì do duyên mà có. Lại chia làm hai ý: 1/ Nói tham dục đối với chúng sinh là có; 2/ Nói sắc tánh đối với chúng sinh là có.
Nếu chẳng có, vì sao lại tham đắm? Nay cho rằng chẳng phải
không, khiến cho không thì các pháp này đều không.
Từ câu “Vì nghĩa này v.v...” trở xuống là thứ hai, giải thích rộng về chẳng phải điên đảo, có hai: đầu tiên là nêu chẳng phải điên đảo.
Từ câu “Tất cả phàm phu v.v...” trở xuống là giải thích rộng. Văn có hai: một, là không sinh tướng tham cho nên chẳng phải điên đảo.
Kế là, nói thấy Phật tánh nên chẳng điên đảo.
Hỏi: Khi nhập Sơ địa thì thấy được Không. Văn này lại nói trụ ở Cửu địa thấy pháp có tánh. Nghĩa này thế nào?
Đáp: Nếu giải thích theo hai nhẫn thì Sơ địa đến Thập địa là Vô sinh nhẫn, chỉ có Phật địa mới là Tịch diệt nhẫn. Nay y cứ theo hai nhẫn thì Cửu địa nếu so sánh với Phật địa tịch diệt thì còn thấy pháp có tánh, tuy thấy không nhưng so sánh với Phật thì chưa phải là rốt ráo không mà vẫn còn là phần hữu không, cho nên kinh Hoa Nghiêm ghi:
“Bồ-tát Thất địa có khả năng vào vắng lặng”.
Vắng lặng tức là không, vì ứng duyên nên nói khác nhau, chẳng nên mê chấp.
Từ câu “chư Phật, Bồ-tát v.v...” trở xuống là kết luận.
Có lúc Phật cũng nói có, có lúc nói không, đó là vì duyên. Như nay đều nói là không.
Từ câu “Này thiện nam! v.v...” trở xuống là thứ hai, đáp câu hỏi thứ hai; trước nêu lại câu hỏi.
Văn nói lấy không thấy làm không, ví như Bát-nhã không biết mà không gì chẳng biết.
Từ câu “Vì thế v.v...” trở xuống là dẫn rộng việc xưa để chứng minh, như văn kinh có ghi.
Sau cùng là nói công đức thứ mười, cũng gồm có hai là nêu lên và giải thích.
Xưa dùng ba mươi bảy phẩm làm thể, Hưng Hoàng cho rằng Niết- bàn Phật tánh là thể; xưa cho rằng Bồ-tát thực hành nhân mà đạo phẩm là nhân nên lấy văn trước làm thể. Hưng Hoàng cho rằng các công đức trước không lấy Niết-bàn làm thể công đức sau cùng, nghĩa lý sâu xa nên lấy văn sau làm thể.
Hỏi: Vì sao trong đây không lấy sáu độ làm thể mà dùng ba mươi bảy phẩm làm thể? Có người giải thích rằng trong Thích luận nói sáu luận là nhân xa, ba mươi bảy phẩm là nhân gần. Có người lại cho rằng đó chỉ là nói lược. Ở đây cho rằng chẳng phải thế, Đạo phẩm thì gồm các nhiếp độ, trừ các nhiếp đàn độ ra còn các pháp khác để thấy. Trong luận Bà-sa có nêu mười một pháp nhiếp hết đạo phẩm, mười một pháp
tương đương với danh thể của sáu độ, chỉ trừ hai niệm, còn tất cả đều chung với các độ.
Văm có hai: Đầu tiên là nói về công đức, kế là nói về nghĩa. Văn thứ nhất lại có hai: Trước nói về đạo phẩm nhập Niết-bàn.
Kế là phân biệt đúng sai.
Nếu nói tin là đúng, chẳng tin là sai. Công đức thứ nhất nói chẳng nghe mà nghe, thường trụ bí tạng tức Trung đạo; Chẳng nghe mà nghe luận Tỳ-già-la, kinh sách của ngoại đạo tức Tục đế; Chẳng nghe mà nghe mười một thể loại kinh tức Chân đế, ba Đế trong một tâm chẳng nghe mà nghe. Nay công đức thứ mười cũng giống như thế. Ba mươi phẩm tức Chân đế, nhập Đại Niết-bàn tức Trung đạo đế, vì chúng sinh phân biệt giảng nói tức là Tục đế. Đây cũng là Nhất tâm ba Đế, trước sau chẳng khác. Người tin thì được nhập vào Đại Niết-bàn. Ý muốn nói rằng giáo gần với lý. Hưng Hoàng cho rằng dùng công đức Niết-bàn cuối cùng làm thể, còn công đức thứ chín trở xuống thì đều chẳng phải như thế. Cách giải thích này quá sai lầm, như trước đã hỏi.
Kế là nói về nghĩa, gồm có hỏi và đáp.
Đáp có hai: Trước là nêu người ác để răn nhắc; sau nêu người thiện để khuyến khích. Thứ nhất lại có ba: trước là pháp thuyết.
Kế là nêu năm dụ.
Thứ ba là hợp năm dụ. Trước là hợp riêng; sau là hợp chung.
Đầu tiên là nói Chiên-đàn đổi lấy gỗ tạp. Như hai chiếc xe, một chiếc chở than, một chiếc chở gỗ Chiên-đàn; gặp mùa đông cần than, người bán Chiên-đàn bèn đốt gỗ để lấy than, tuy dễ tiêu thụ mà không có giá trị gì. Người giữ giới nghèo khổ đói khát thấy người phá giới giàu có no ấm bèn phá giới để được ăn ngon mặc đẹp, như thế lợi ích có được chẳng nhiều mà mất mát thì quá lớn.
Dụ thứ hai nói vàng đổi lấy thau. Xưa, có người cỡi ngựa lưng thắt dây vàng, thấy người cỡi lừa lưng thắt dây da lừa, bèn hỏi: “Ở chợ này vật gì bán đắt nhất?” người kia trả lời: “Đai da lừa đắt nhất”. Người kia liền đổi lấy đai da lừa. Người ta vì sắc thanh mà bỏ chánh pháp cũng giống như thế. Ba thí dụ kia như văn kinh có ghi.
Kế là hợp chung.
Từ câu “Lúc bấy giờ v.v...” trở xuống là phần hai, nêu người làm thiện.
Kế là từ câu “Bấy giờ v.v...” trở xuống là phần lãnh thọ ý nghĩa. Đoạn lãnh thọ ý nghĩa của phẩm này như văn kinh đã ghi.
Thứ ba là từ câu “Đó gọi là v.v...” trở xuống là tổng kết.
PHẨM 23: SƯ TỬ HỐNG (PHẦN 1- ĐẦU)
Các sư đều cho phẩm này dùng thí dụ về người năng hỏi (chủ thể) mà đặt tên, chẳng phải không có nghĩa này, nhưng chẳng phải một bề như thế. Vì ở đây đều dụ cho cả người năng hỏi và đáp, dùng cả hai ý như thế mà đặt tên phẩm. Vì sao? Vì Bồ-tát và Phật đều có hai thứ trang nghiêm. Như văn sau có nói về sư tử đầu đàn và sư tử con. Nếu sư tử con đủ ba tuổi thì sẽ phát ra tiếng rống. Lại rống được tiếng rống sư tử khen ngợi đại bi và rống được tiếng rống vô lượng của sư tử. Nêu văn phải y cứ vào nghĩa, cả hai đều rõ ràng, người giảng nói do đâu mà chỉ nói một bên? Có người nghi ngờ cho rằng tên phẩm chỉ nói là phẩm Sư-tử-hống Bồ-tát, vì sao lại gượng lập ra hai nghĩa để giải thích? Trả lời, nếu theo tựa đề thì mất văn, nếu theo văn thì mất tựa đề, văn thì rộng bao gồm lược. Sư tử được coi là sư tử vật đứng đầu, Bồ-tát được coi là con, tiếng rống thì chung cho cả hai, hai nghĩa đều rõ ràng, sao lại có sự nghi ngờ. Vả lại, chữ Sư tức là gồm chữ Đôi ở bên phải và chữ Táp bên trái hợp thành, đặt ở vị cùng cực. Sự lý đều khắp đủ thì tự hành tròn đầy. Lại chữ Sư giải thích là Soái (thống lãnh), soái tức là sư (chỉ dạy, thống lãnh). Sư có khả năng giáo hóa, nên biết Sư được coi là Phật đã rõ ràng. Tử giải thích là đệ tử. Pháp của đệ tử bẩm thọ từ thầy, nếu theo thầy tu tập thì càng ngày càng được lợi ích. Cho nên biết, chữ Tử được coi là Bồ-tát đã rõ ràng. Hống (rống) thì chung cho cả hai. Rống là thuộc khẩu mật chung cho sáu vị (lục tức), v.v...
Nay nói rốt ráo và phần rống, chung cho cả hai chỗ. Thân mật, khẩu mật và ý mật đều có sáu vị. Khẩu mật chung cho sáu vị tức là Thế giới Tất-đàn. Nếu chỉ y cứ theo Tử tức là từ Vị nhân Tất-đàn; nếu chỉ y cứ theo Hống tức là từ Đối trị Tất-đàn; nếu chỉ y cứ theo Sư tức là từ Đệ nhất nghĩa Tất-đàn. Vì vậy tên phẩm đã bao gồm các ý nghĩa như thế. Các Sư Địa Luận cho rằng đây là thuộc về Nhập chứng phần. Khai Thiện cho đây là trả lời câu hỏi về tánh an vui. Hà Tây và Hưng Hoàng đồng cho là thuộc về pháp môn Phật tánh.
Nay chẳng dùng các thuyết này. Nếu cho là Nhập chứng, đã nhập chứng thì không nói, nếu có nói thì chứng nhập chẳng phải là Bồ-tát nói. Nếu cho là trả lời câu hỏi về tánh an vui thì câu này do ai hỏi, mà nay lại dùng phẩm này để đáp? Nếu nói về Phật tánh thì Phật tánh do ai nói mà lại lấy phẩm này làm đề mục để nói về người. Các thuyết đều trái nên chẳng dùng.
Nay phẩm này là phần thứ tư, hỏi đáp về nghĩa Niết-bàn. Đây là
sư tử con hỏi, sư tử đầu đàn đáp. Nếu theo văn này thì lẽ ra nên nói là hỏi đáp về nghĩa Phật tánh. Nhưng các chương trước đều gọi là Niết- bàn nên nay theo đó cũng gọi là nghĩa Niết-bàn. Mà Niết-bàn chính là Phật tánh, Phật tánh chính là Niết-bàn. Gọi Niết-bàn là chung, gọi Phật tánh là riêng. Chung gồm thâu riêng.
Toàn phẩm được chia thành hai đoạn lớn:
-
Nói về Phật tánh.
-
Khen ngợi kinh.
-
Nói về Phật tánh.
-
Nói về Trung đạo.
-
Nói về buộc và thoát.
-
Nói về tu đạo.
Phật tánh là cơ bản, do biết Phật tánh mà trong đó được thông đạt; vì chẳng biết cho nên bị buộc, vì đã biết nên được thoát, muốn thoát khỏi sự trói buộc thì phải tu tập.
Thứ nhất lại có hỏi và đáp. Hỏi gồm bốn việc là khuyên hỏi, cầu hỏi, đồng ý hỏi, chính thức hỏi. Trong phần khuyên hỏi, trước là nêu các pháp môn, sau là chính thức khuyên.
Trong phần nêu các pháp, kể ra có sáu môn: Tam bảo, Tứ đế, Thật đế, bốn đức, năm Phật tánh, nhân quả; có thừa hay không thừa là nêu tánh liễu nhân. Vì sao? Vì muôn thiện Nhất thừa đều thuộc về liễu nhân. Có tánh, vô tánh là nêu quả tánh và quả quả tánh; có chúng sinh, không có chúng sinh là nêu tánh chánh nhân; có hữu hay không hữu, có chân không chân là nêu tánh cảnh giới. Vì sao? Vì hai đế là cảnh sở duyên của trí, cảnh lại sinh trí nên nói thuộc về tánh cảnh giới; có nhân, không có nhân tức là nêu nhân quả.
-
Có người cho rằng hai câu trước nói về tập nhân nhân quả, ba câu sau nói về báo nhân nhân quả, lại có tạo tác, không tạo tác là nhân phiền não; nghiệp chẳng phải phiền não, nghiệp báo thiện ác này là nghiệp quả của phiền não.
-
Có người cho rằng hai câu trên nói về nhân quả xuất thế, ba câu dưới nói về nhân quả thế gian, lại nữa nêu pháp môn để khuyên tu. Nói chung là chỉ nêu pháp môn Nhị đế, trong đó nói có Phật tức là Thế đế, không có Phật tức là Chân đế, cho đến có quả báo tức là thế đế, không có quả báo là Chân đế. Văn chỉ nêu hai đế. Nếu y cứ theo câu “Nay cho phép các thầy tự do thưa hỏi” thì đâu chỉ có hai đế. Văn đã nêu hai môn, bốn môn v.v... gồm tất cả các pháp chứ đâu chỉ có hai đế. Vả lại
chung cả ba Đế cho bốn môn. Chung cho ba Đế thì có Phật tức là tục, không có Phật tức là chân, chẳng phải có Phật, chẳng phải không có Phật là Trung đạo, cho đến quả báo cũng như thế. Chung cho hai đế thì có Phật là môn Hữu, không Phật là môn Không, cho đến có quả báo, không có quả báo cũng như thế. Nếu y cứ theo câu “cho phép các thầy tự do thưa hỏi” thì lẽ ra có bốn môn, trong đó hai môn cũng giống như trên, còn vừa có Phật, vừa không có Phật là môn lưỡng diệc, chẳng phải có Phật, chẳng phải không có Phật là môn song phi, cho đến vừa có quả báo vừa không có quả báo, chẳng có báo chẳng phải không có quả báo cũng giống như nhế.
Hỏi: Đức Phật khuyên hỏi các pháp môn, vì sao chẳng y theo lời Phật khuyên mà lại hỏi riêng về Phật tánh?
Đáp: Các pháp môn tuy là riêng nhưng đều trở về Phật tánh, nếu hỏi về Phật tánh tức là dùng chung thâu nhiếp riêng. Vì sao? Vì y cứ theo năm câu khuyên hỏi về có thừa, không có thừa v.v... là hỏi về năm loại Phật tánh. Vả lại, nếu y cứ theo Tam bảo thì phải hỏi “Thế nào là Phật tánh?” Nếu y cứ vào Khổ, Tập đế thì là hỏi về cảnh giới Phật tánh; nếu y cứ Đạo đế thì hỏi về duyên liễu; nếu y cứ vào thật, không thật tức là hỏi về chánh tánh; nếu y cứ theo nhân quả thì hỏi về nhân tánh, nhân nhân tánh, quả tánh, quả quả tánh; nếu y cứ theo tạo tác, không tạo tác tức là hỏi nhân tánh; nếu y cứ theo có nghiệp, không nghiệp tức là hỏi về duyên tánh.
Lại nếu y cứ theo thừa thì phải hỏi “Thế nào là thể của Phật tánh?” Nếu y cứ theo quả báo, Tam bảo, Tứ đế v.v… thì phải hỏi “Vì sao gọi là Phật tánh?” Nếu y cứ theo bốn đức thì phải hỏi “Vì sao gọi là Phật tánh?” Nếu y cứ theo có nhân, không có nhân thì phải hỏi “Bồ- tát có loại mắt nào chẳng thấy rõ ràng?” Nếu y cứ theo hai câu tạo tác, không tạo tác v.v... thì phải hỏi “Vì sao chúng sinh chẳng thấy?” Nếu y cứ theo quả báo, không có quả báo tức là hỏi về chánh tánh.
Đức Phật khuyên mười tám việc, Bồ-tát y theo lời khuyên này mà nêu sáu câu hỏi đồng dị, rõ ràng như thế mà người chẳng thấy.
Ở đây nói thêm rằng khuyên thì hỏi riêng thật hợp với lời Phật nhưng chưa đạt được ý. Khuyên chung mà hỏi riêng thì chẳng gồm thâu tất cả pháp, chưa đạt được ý; khuyên chung mà hỏi chung cũng hợp ý Phật, nhưng sợ rằng đại chúng bấy giờ chưa hiểu được ý riêng trong chung. Cho nên Đức Phật khuyên riêng mà lập lời hỏi chung rất đạt ý chỉ của Phật mà chúng hội lại dễ hiểu. Vì thế, Đức Phật khuyên riêng mà Sư tử hống lập lời hỏi chung chính là do ý này.
Từ câu “Hôm nay v.v...” trở xuống tức là lời khuyên.
Trong phần chánh khuyên có chánh khuyên và đôn khuyên. Đức Phật thật hết lòng khuyên bảo giúp chúng sinh được lợi ích.
Từ câu “Bấy giờ trong chúng hội v.v...” trở xuống là đoạn hai, cầu hỏi. Đầu tiên các nhà kiết tập kinh tự trình bày, sau đó là chánh thức lên tiếng thưa hỏi.
Chữ Liễm cũng là chữ Kiểm, đều chỉ cho dáng vẻ cung kính. Kế là phát lời thưa hỏi.
Từ câu “Bấy giờ Phật bảo v.v...” trở xuống là đoạn ba, cho phép hỏi. Trước khuyên cúng dường, kế là chính thức cho phép. Thứ nhất lại có ba: 1/ Khuyên; 2/ Giải thích; 3/ Kết luận.
Khuyên cúng có đủ ba nghiệp, trong đó tôn trọng là ý nghiệp, khen ngợi là khẩu nghiệp, cung kính và đưa tiễn là thân nghiệp.
Từ câu “Vì sao? v.v...” trở xuống là giải thích lời khuyên. Văn có pháp, dụ và hợp. Trong phần pháp thuyết có nêu đức ở quá khứ, kế là nói về đức hiện tại.
Từ câu “Như Sư tử đầu đàn, v.v...” trở xuống là dụ thuyết, có hai: trước là vì Phật lập dụ, kế là vì Bồ-tát lập dụ. Vì Phật lập dụ, trước là dụ Pháp thân, kế là dụ về Ứng tích. Dụ Pháp thân có ba: Chung, riêng và kết luận. Thứ nhất, một câu là dụ chung.
Từ câu “Tự biết sức lực v.v...” trở xuống gồm năm câu, là dụ riêng các đức.
Thân là sáu Độ, sức lực là mười Lực, răng nanh dụ cho trí tuệ dứt bỏ phiền não, bốn chân là bốn như ý, đất là giới, hang sâu là cảnh thiền định, đuôi là tâm đại bi, lòng đại bi xót thương cứu giúp như cái đuôi con vật cong xuống phía dưới, âm thanh là tám âm thanh nói pháp.
Thứ ba, từ câu “Nếu có đủ v.v...” trở xuống là tổng kết.
Từ câu “Sáng sớm v.v...” trở xuống là ý thứ hai, nói về Ứng thân phương tiện. Văn có ba: một, là chánh ứng.
Sáng sớm là lúc bóng tối vừa tan biến, ánh sáng vừa lên, dụ cho cơ duyên diệt ác sinh thiện mà ứng hóa cứu độ.
Kế là nói ra khỏi hang, dụ cho nghĩa từ Pháp thân mà khởi Ứng thân.
Vươn thân là diệt ác, ngáp dài là sinh thiện, nhìn khắp bốn phía là
bốn vô ngại, cất lên tiếng rống tức nói pháp, có mười một việc.
Thứ ba, từ câu “Tất cả cầm thú v.v...” trở xuống là nói chúng sinh đắc đạo.
Loài sống dưới nước dụ cho phàm phu nhiều ái nhiễm; loài sống
trên mặt đất dụ cho Nhị thừa; loài bay trên hư không rơi rớt là dụ cho việc hàng phục các ma; loài voi bỏ chạy là dụ cho việc chế phục ngoại đạo.
Từ câu “Như loài chồn v.v...” trở xuống là ý thứ hai, vì Bồ-tát lập dụ. Nói loài chồn tức là trước nêu điều chẳng đúng.
Kế là nói điều đúng.
Ba tuổi dụ cho ba hạnh, nhưng văn hợp ở sau chỉ nói lược ba hạnh này trong năm hạnh, lại phạm hạnh là hóa tha, trong hóa tha đồng có dứt hoặc, tức là hạnh bệnh, đồng với sinh ra điều thiện là hạnh trẻ thơ, chỉ có một phạm hạnh là gồm tất cả nên hai hạnh kia chẳng nói đến.
Từ câu “Như Lai Chánh giác v.v...” trở xuống là hợp dụ. Đầu tiên là hợp với dụ về Phật; kế là hợp với dụ Bồ-tát. Văn thứ nhất lại có hai, trước là hợp với diệu bản là chúng sinh, kế là hợp với Ứng tích.
Phần hợp dụ có chút phần không theo thứ lớp. Hợp đủ mười một việc. Hợp với câu “Muốn phá hoại những loài không phải sư tử mà giả làm sư tử” ở trước là câu “Vì chúng sinh mà cất lên tiếng rống sư tử”. Văn ở trước nói “Muốn thử xem sức lực của thân mình” thì văn hợp là “Hiển bày các lực”, v.v...
Từ câu “Từ hang sâu v.v...” trở xuống là thứ hai, hợp với chánh ứng nhưng không hợp với buổi sáng sớm.
Từ câu “Sư tử hống v.v...” trở xuống là ý thứ hai, hợp với câu chúng sinh được lợi ích ở trước.
Trước có bốn câu, ở đây hợp thì nói thẳng là quyết định thuyết, vì thế câu hàng ma và chế phục ngoại đạo gồm cả giải thích nghĩa sư tử rống.
Kế là từ câu “Thanh văn, Duyên giác v.v...” trở xuống là hợp với dụ về Bồ-tát, cũng gồm có hai: Trước nêu chẳng đúng, sau hợp nói về điều đúng.
Hàng Bồ-tát Thập trụ có khả năng tu tập ba hành xứ thì sẽ rống tiếng rống sư tử.
Khai dụ và hợp dụ đều nói về chư Phật và Bồ-tát. Hai nghĩa rõ ràng như thế, đâu thể theo một bên mà giải thích tên phẩm này.
Từ câu “Này Thiện nam! v.v...” trở xuống là ý thứ ba, kết luận khuyên cúng dường.
Từ câu “Bấy giờ, Đức Thế Tôn v.v...” trở xuống là đoạn hai, chính thức cho phép hỏi.
Từ câu “Bồ-tát v.v...” trở xuống là đoạn thứ tư, chính thức thưa hỏi, gồm có sáu câu nhưng chỉ cho hai ý. Ba câu hỏi trước là hỏi về
pháp, ba câu sau là hỏi về người.
Ba câu hỏi này các sư xưa giải thích rằng một câu đầu là hỏi về quả tánh, câu kế là hỏi nhân tánh, câu cuối là hỏi về nhân quả tánh.
Các Sư Trung Quán cho rằng cách giải thích trên chẳng tương ứng với văn. Như theo văn thì câu thứ nhất hỏi về thể Phật tánh; câu kế nói về nghĩa Phật tánh, câu sau nói về tên gọi Phật tánh.
Hà Tây cũng đồng với ý này.
Nay dùng người sau (chúng sinh) để hỏi pháp trước (thể của Phật tánh). Đầu tiên là hỏi về lý, tức là thể Phật tánh, kế là hỏi về phần ng- hĩa Phật tánh, sau hỏi về rốt ráo tức là tên gọi Phật tánh.
Từ câu “Tất cả chúng sinh v.v...” trở xuống là hỏi về người thấy và người chẳng thấy. Đầu tiên là hỏi về người chẳng thấy.
Hai câu hỏi sau là hỏi về người thấy tánh. Đầu tiên là hỏi do pháp gì mà thấy rõ, hoặc chẳng thấy rõ; kế là hỏi do loại mắt gì mà có người thấy rõ, có người chẳng thấy rõ.
Bồ-tát Thập trụ dùng loại mắt gì mà chẳng thấy rõ, Phật dùng loại mắt gì mà thấy Phật tánh rõ ràng?
Pháp thì y cứ vào thể của tánh, mắt thì y cứ vào dụng của tánh. Phật đáp có hai ý: Đầu tiên khen ngợi câu hỏi, kế là chánh đáp.
Khen ngợi lại chia hai: Đầu tiên là khen ngợi, sau là nói về nghĩa. Khen ngợi lại được chia làm hai: 1/ Khen ngợi; 2/ Trang nghiêm.
Kế là khen hiểu được sáu nghĩa. Ông đã hiểu được sáu nghĩa, mà thưa hỏi là vì người.
Khen ngợi sáu nghĩa, chỉ khen ngợi hai nghĩa đầu và hai nghĩa sau, còn hai nghĩa ở giữa thì lược bỏ.
Từ câu: “Bồ-tát v.v... trở xuống là ý thứ hai, nói về nghĩa, gồm có hai phen hỏi đáp. Thứ nhất là hỏi.
Lời đáp có bốn ý, ba ý trước là y cứ theo nghĩa hơn kém để giải thích trí tuệ trang nghiêm cao quý hơn phước đức. Một câu sau là y cứ theo bình đẳng để giải thích.
Có chỗ cho rằng phen trả lời thứ nhất dùng giải Không làm trí tuệ, dùng giải Hữu làm phước đức, cho giai vị Thập địa là trí, cho năm đô là phước; Chỉ nói Bát-nhã, tức là nói trí tuệ trong Hữu, nên thuộc về phước đức, nếu biết được Ba-la-mật là thành tựu giải Không, tức thuộc về trí tuệ. Phen trả lời thứ hai cho Cửu trụ trở xuống là phước đức.
Đó là y cứ theo thể của pháp để so sánh hơn kém như thế. Nếu ở cõi này thì phước đức hơn trí tuệ, nếu ở Tịnh độ thì trí tuệ hơn phước đức; khiến cho cây cối phát sinh y phục, thức ăn uống, chỉ mong cầu
ưa chuộng trí tuệ, nên nói tuệ là hơn. Nếu nói đã đầy đủ rốt ráo tức là pháp thiện.