Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 135, Bộ Kinh Sớ XXI, Số 1765 (Quyển Thượng- Trung- Hạ))

Đại Tập 135, Bộ Kinh Sớ XXI, Số 1765 (Quyển Thượng- Trung- Hạ))

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 960.

Chương 28: Đại Bát-Niết-Bàn Kinh Sớ - Quyển 21 (Trang 606 - 626)

ĐẠI BÁT-NIẾT-BÀN KINH SỚ
 
QUYỂN 21
 
PHẨM 22: ĐỨC VƯƠNG (PHẦN 2)
 
Đầu quyển Bồ-tát Đức Vương hỏi: “Nếu phạm v.v...” trở xuống là đoạn hai nói về nghịch nhân. Gồm có hỏi, đáp và lãnh giải. Dung Thành cho là có sáu câu hỏi. Khai Thiện cho là năm câu hỏi, ở đây nói có ba ý:
  1. Gồm hai câu hỏi đầu về bốn tội nặng.
  2. Gồm hai câu kế, hỏi về Nhất-xiển-đề.
  3. Một câu hỏi về bất định.
Thứ nhất hỏi về bốn tội nặng. Nếu có Phật tánh, thì lẽ ra chẳng đọa địa ngục, nếu họ lui sụt thì Phật tánh chẳng giữ gìn được. Câu hỏi thứ hai, nếu có Phật tánh, sao lại nói không có Thường, Lạc, Ngã, Tịnh? Nếu chẳng có bốn đức thì đâu có Phật tánh.
Câu thứ ba, hỏi Nhất-xiển-đề dứt mất gốc thiện lẽ ra dứt cả Phật tánh. Câu thứ tư hỏi nếu chẳng dứt Phật tánh sao gọi là Nhất-xiển-đề?
Câu thứ năm hỏi về bốn giới trọng và Nhất-xiển-đề v.v... là bất định nên lại sinh ra Bồ-đề? Niết-bàn bất định nên lại thành phàm phu. Văn hỏi không rộng. Nhập Niết-bàn rồi, nếu lại ra tức Thánh trở lại phàm. Nếu thế thì Phật không có bốn đức. Nếu chẳng như thế thì Nhất- xiển-đề cũng chẳng có nghĩa thành Phật? Trước hỏi cho rằng Niết-bàn vô thường, Phật đáp chẳng vô thường, ở đây hỏi về bất định, tất cả đều bất định, tất cả đều vô thường. Niết-bàn cũng nằm trong “tất cả” đó nên cũng vô thường. Câu hỏi này vặn hỏi tất cả mọi người khiến đều chuyển biến. Đức Phật đáp: có hai:
  1. Khen lời hỏi.
  2. Trả lời.
  • Khen gồm có bốn câu:
  1. Khen hiện đức.
  2. Khen ngợi nhân quá khứ.
3. Khen ngợi câu hỏi vượt hơn trời, người.
4. Khuyên nghe và chấp nhận. Phân biệt giảng nói như văn ghi.
Từ câu “Này thiện nam! v.v...” trở xuống là phần chánh đáp, gồm có ba ý:
  1. Đáp câu hỏi thứ năm về bất định.
  2. Đáp câu hỏi thứ ba là dứt mất gốc thiện tức đáp cả câu thứ nhất và câu thứ hai về người tội.
  3. Lại đáp câu thứ năm hỏi về bất định, đáp cả câu thứ tư.
Thứ nhất là đáp câu hỏi thứ năm, có ba phần: Một là nêu lên. Thứ hai là đáp.
Thứ ba kết luận.
Từ câu “Như thầy nói v.v...” trở xuống là đáp câu hỏi thứ ba, có ba phen:
  1. Y cứ trong ngoài.
  2. Y cứ hữu lậu, vô lậu.
  3. Y cứ thường, vô thường.
Phật tánh là Trung đạo, chẳng thuộc hai bên nên chẳng thể cắt đứt. Trời, người là thiện; ba đường là ác. Pháp phàm là ngoài, pháp Thánh là trong; Thế gian là lậu; xuất thế là vô lậu. Hữu vi là vô thường, vô vi là thường. Phật tánh chẳng thuộc hai bên này nên chẳng đoạn.
Từ câu “Nếu đoạn v.v...” trở xuống là đáp cả câu hỏi về người tội thứ hai, thứ ba.
Tuy tạo tội mà chẳng hề đoạn tánh là nói rõ tội bất định. Vì bất định nên được Tam-bồ-đề. Vốn lấy theo nghĩa đã đoạn mà được, nên gọi là Nhất-xiển-đề. Tánh chẳng phải đã đoạn mà lại được, vì sao mà đoạn được? Đã chẳng phải nhất định là có, thì đâu thể ngăn để khỏi đọa. Đây là đáp câu hỏi thứ nhất. Nếu chẳng nhất định có tức là trừ câu hỏi thứ hai. Vả lại, nói đã đoạn rồi mới đắc gọi là Nhất-xiển-đề. Nay nói tánh chẳng phải đã đoạn mà lại được cũng là ngăn trừ câu thứ tư.
Từ câu “Phạm bốn giới trọng v.v...” trở xuống là thứ ba, lại đáp câu hỏi thứ năm, có ba ý:
  1. Nói chung về bất định.
  2. Nói rộng về bất định.
  3. Tổng kết bất định.
  • Văn thứ nhất có bốn đoạn:
    1. Người ác bất định.
    2. Nói các pháp bất định.
    3. Nói người thiện bất định.
d. Nói Như Lai bất định.
Từ câu “Sắc và sắc tướng v.v...” trở xuống là nói về các pháp bất định. Có pháp và dụ. Thứ nhất là pháp thuyết.
Dụ, gồm ba dụ ba hợp, như văn kinh có nói.
Nói cũng có tướng nhất định là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, vì trước gạn hỏi về bất định rằng Như Lai nhập rồi lẽ ra cũng xuất. Thánh thành phàm, tức là vô thường, vô lạc, v.v... ở đây đáp chẳng đúng, trong bất định cũng có tướng nhất định, đó là thường, lạc, ngã, tịnh của Như Lai. Vì thế mà nói là có tướng nhất định.
Từ câu “Tu-đà-hoàn v.v...” trở xuống là , nói về người thiện  bất định.
Từ câu “Này thiện nam! v.v...” trở xuống là , nói về Như Lai bất định.
Trong đạo phương tiện thì Như Lai bất định, trong Pháp thân  bản địa thì quyết định. Hai đều chẳng đốt cháy được, có hai cách giải thích:
  1. Nói áo lót thân là dụ cho bản địa, lớp ngoài cùng dụ cho Tích ứng. Hai pháp này chẳng diệt.
  2. Cho rằng áo lót thân dụ cho trí Phật quán căn cơ, lớp ngoài cùng dụ cho thần thông ứng vật. Vật cơ vô cùng nên thần thông chẳng cùng tận. Vì thế chẳng cháy.
Đúng nên gọi là thâu y chẳng nên gọi là thấu y. Y này là áo mặc lót trong mình thân gọi là thâu y.
Từ câu “Nên biết v.v...” trở xuống là đoạn hai nói rộng về bất định. Xưa lập một còn một mất để giải thích các câu. Chẳng phải quỷ đến thì mất Pháp thân, chẳng phải chẳng phải quỷ đến thì còn Ứng thân. Nay cho rằng hai phần pháp và ứng là nghĩa nhất định chứ đâu phải bất định.
Hưng Hoàng cho rằng chẳng phải quỷ thì Pháp thân bất định, cho nên Pháp thân mất mà chẳng mất, chẳng phải chẳng phải quỷ là Ứng thân bất định, cho nên Ứng thân còn mà chẳng còn. Còn mà chẳng còn thì có khả năng làm quỷ, làm chẳng phải quỷ. Mất mà chẳng mất thì có khả năng làm chẳng phải quỷ và làm quỷ.
Ở đây cho rằng nghĩa ấy chưa tránh khỏi nhất định, vì sao? Vì quỷ chắc chắn làm chẳng phải quỷ. Chẳng phải quỷ chắc chắn có khả năng làm quỷ. Tuy nói bất định mà cũng gọi là Định.
Nay nói quỷ tức chẳng phải quỷ, cũng tức là chẳng phải qủy chẳng phải chẳng phải quỷ. Chẳng phải quỷ tức là quỷ cũng chẳng phải quỷ
chẳng phải chẳng phải quỷ. Chẳng phải quỷ chẳng phải chẳng phải quỷ cũng tức là quỷ chẳng phải quỷ. Là một tức ba, là ba tức một, chẳng phải một chẳng phải ba, một và ba bất định. Đó mới thật là nghĩa bất định. Các câu khác cũng giống như thế.
Nay trước là nêu chương, sau là giải thích.
Sau là giải thích, gồm có hai mươi chương nhưng chỉ giải thích mười sáu chương.
Nói hiện thân ba thước, Hà Tây cho rằng nhà Trưởng giả không có con, chỉ sinh được một đứa bé cao ba thước nhưng chết yểu, cha   mẹ vô cùng buồn khổ, tâm thần thờ thẫn. Phật xót thương nên thị hiện thành đứa trẻ. Cha mẹ thấy con thần trí liền hồi tỉnh, nói: “Cha mẹ nghĩ là con đã chết, bây giờ con từ đâu về đây?”. Đáp: “Con từ nơi cõi chết về đây! Do nhân duyên mà tạm hợp thân này, thân này thuộc duyên do bốn đại giả hợp mà thành, quán khắp các duyên thì cái gì là thân?”
Kế lại giảng nói các pháp yếu, khiến tâm mê mờ của Trưởng giả sáng tỏ. Đức Phật lại hiện thân Phật cao ba thước sắc tướng sáng chói. Trưởng giả lúc ấy chứng quả A-na-hàm.
Chẳng phải hữu lậu, chẳng phải vô lậu mà môn thứ mười hai lại giải thích sau cùng. Vì sao? Vì Đức Phật muốn giải thích rộng môn này cho nên mới giữ lại.
Nay nói thêm rằng: trong các môn thì môn hữu lậu vô lậu phàm phu dễ hiểu.
Văn chia làm hai:
  1. Nói chẳng phải hữu lậu, văn lại quá rộng.
  2. Nói chẳng phải vô lậu thì văn quá lược. Rộng và lược so sánh rất dễ thấy.
Thứ nhất nói về chẳng phải hữu lậu, có hai đoạn: Một, nói về ba lậu.
Hai, nói về bảy lậu.
Hỏi: Vì sao chẳng lấy phiền não của ba cõi làm ba lậu mà lấy Sắc, Vô sắc làm hữu lậu, lấy chung vô minh làm vô minh lậu?
Đáp: Đức Phật nói không nhất định, hoặc chuyển ba lậu làm bốn lưu. Nhưng nói ba lậu là vì dục sâu nặng nên chỉ lập một lậu sắc và vô sắc hợp thành một lậu, vô minh là căn bản chung cho ba cõi nên lập một lậu. Như các sư Số Luận cho rằng lậu là rơi vào sinh tử.
Các sư luận Thành Thật cho rằng lậu tức mất đạo lý. Nay ý kinh thì chỉ nói phiền não.
Từ câu “Tất cả phàm phu v.v...” trở xuống là đoạn hai nói về bảy
lậu, gồm có Kiến, Tư duy, Căn, Ác, Thân cận, Thọ, Niệm. Hai lậu trước là thể của năm lậu. Kiến là lợi sử, Tư là độn sử. Căn là năm căn bên trong, Ác là các pháp ác bên ngoài. Thân cận là người ác. Thọ là nhận lấy, sắc là các pháp bên ngoài v.v..., Niệm là ngày đêm niệm niệm không dừng.
Nay văn không nói về tư lậu, lại ác lậu thì gọi là ly lậu. Năng lìa là đạo, sở lìa là ác. Đầu tiên là giải thích kiến lậu, lẽ ra đầy đủ mười sử nhưng nêu nghi, kiến là muốn nói bốn sử tham, sân, si, mạn có cả kiến tư, còn năm kiến và nghi thì chỉ ở kiến đế. Trong môn Tư duy thì thuộc về mạn.
Văn có hai. Trước nói rộng về tâm nghi, sau nói riêng về kiến sử.
Nghi chẳng phải kiến nhưng nghi và kiến tương quan nhau, nên nói là nghi kiến.
Từ câu “Sinh sáu tâm v.v...” trở xuống là nêu đủ các kiến chấp.
Trang Nghiêm cho rằng chỉ có năm kiến mà chia biên kiến thành đoạn thường nên thành sáu. Khai Thiện nói rằng chắc chắn có Ngã, chắc chắn vô ngã, chưa phải số sáu, chỉ nói chung là chắc chắn. Từ câu ngã thấy là ngã trở xuống v.v… mới thấy số sáu:
1/ Ngã thấy là ngã; 2/ Ngã thấy vô ngã; 3/ Vô ngã thấy là ngã; 4/ Ngã tạo tác; 5/ Ngã lãnh thọ; 6/ Ngã rõ biết.
Một, đối với ngã mà chấp là chân ngã nên nói ngã thấy là ngã. Hai, chấp không có ngã giả nên nói ngã thấy là vô ngã.
Ba, chấp thân năm ấm có chân ngã nên vô ngã thấy là ngã. Bốn, năm, sáu: Ngã tạo tác v.v... tức là ba thứ tri kiến trong mười sáu tri kiến.
Hà Tây cho rằng chắc chắn có, không phải là hai loại. Ngã thấy là ngã tức vốn chấp có ngã nhưng khi nhập định thấy ánh sáng mầu nhiệm như mặt trời, mặt trăng liền cho chỗ chứng chắc chắn có ngã. Ngã thấy vô ngã tức chấp hiện tại có ngã, quá khứ không có ngã là ngoại đạo đoạn kiến. Vô ngã thấy là ngã, cho rằng loài hữu tình đều vô ngã, lìa năm ấm thì thâý có ngã như lúa, mè v.v... Ngã tạo tác, ngã thọ nhận v.v... nghĩa là trước sau thường có, tức thường kiến cho rằng năng tạo nhân thì ngã năng lãnh thọ quả, cho đến biết rõ.
Từ câu “Phàm phu v.v...” trở xuống là đoạn ba, giải thích căn lậu. Văn có ba:
  1. Nói phàm phu nhân căn mà khởi lậu.
  2. Nói Bồ-tát chẳng phải như thế.
3. Kết luận Như Lai là vô lậu.
Từ câu “Bồ-tát v.v...” trở xuống là , nói Bồ tát tuy do căn mà chẳng khởi các lậu.
Hành khổ, có hai cách giải thích:
  1. Cho là hành khổ trong ba khổ, khổ này chung cho ba cõi.
            2. Cho rằng hành là vô thường, khổ là báo, không được nói là một.
Hai mươi lăm dặm dụ cho hai mươi lăm hữu, bát dụ cho sắc và
tâm, dầu dụ cho giới, chẳng rơi một giọt dụ cho chẳng phạm một giới, vua dụ cho Phật, quan dụ cho người tu hành, cầm đao theo sau dụ cho vô thường.
Từ câu “Như Lai v.v...” trở xuống là kết luận nói Như Lai vô lậu.
Từ câu “Lại có ly lậu v.v...” trở xuống là thứ tư, giải thích ác lậu.
Đương thể gọi là ác, theo đạo đối trị thì gọi là ly. Văn có hai: trước, nói về đạo năng lìa; sau, nói về điều ác phải lìa.
Thứ nhất lại có hai:
  1. Nói về Bồ-tát tu hành.
  2. Dẫn xưa chứng cho nay.
Trong văn có nêu năm hạng Pháp sư, nói một lần nghe qua mà trong bảy kiếp chẳng bị đọa. Phẩm Danh Tự Công Đức nói: “Nếu nghe được hai chữ Thường trụ thì đời đời chẳng đọa”.
Nghe có nhiều loại, nếu suy nghĩ sâu xa, như lời nói mà tu hành thì đời đời chẳng đọa. Nếu chẳng suy nghĩ sâu xa đúng như lời dạy mà hành thì chỉ được lợi ích nhỏ. Tám ma, xưa nói bốn điên đảo vô thường, vô lạc v.v... mỗi ma đều có nhân cộng thành tám ma. Hoặc cho rằng bốn ma là phiền não, vô thường v.v... là tám ma.
Từ câu “Ta nhớ v.v...” trở xuống là đoạn hai, dẫn xưa để chứng minh cho nay.
Bài kệ trên các sư xưa cho rằng hai câu trên là nói về quả, hai câu dưới là nói về nhân. Chứng Niết-bàn là quả, dốc lòng nghe nhận là nhân. Trong quả lại có hai việc là được và lìa. Trong đó, chứng Niết- bàn là được, dứt hẳn khổ đau là lìa. Nhân cũng có hai là dốc lòng tức tu hành và vô lượng an vui là được quả. Nói được quả an vui, chẳng phải thường lạc mà là quả an vui trong nhân, do hành nhân là được. Có người bình xét, cho đó là quá cuộc hạn hoàn toàn không quan hệ. Nếu chỉ có thế thì dâu cần bán thân, đâu thể vừa nghe thì thành Phật đạo ngay.
Các Sư Trung Quán cho rằng ý của bài kệ này vô lượng không thể
nói hết được, chứa đựng rất rộng, nghĩa vị chẳng bao giờ cạn hết, lại nêu ra mười nghĩa:
  1. Tam bảo.
  2. Bốn đế.
  3. Ba đức.
  4. Bốn đức.
  5. Bốn câu là sinh bất sinh, v.v...
  6. Bài kệ xưa có nay không.
  7. Bài kệ ở núi Tuyết.
  8. Bốn tất-đàn.
  9. Bài kệ trong Trung luận.
  10. Bốn thứ Phật tánh.
Bài kệ này chứa đựng Tam bảo:
Một câu “Như Lai chứng Niết-bàn” là gồm ý Phật bảo và Pháp bảo. Người năng chứng là Như Lai tức Phật bảo. Pháp sở chứng tức Niết-bàn, là Pháp bảo.
Một câu “dứt hẳn sinh tử” chỉ là trợ ngữ. Câu “Nếu dốc lòng” là Tăng bảo. Nếu dốc lòng nghe tức chúng thừa hành pháp, chẳng lẽ không phải là Tăng bảo ư? Chỉ một câu này mà cũng có hai điều so sánh. Nói dốc lòng cũng có thể cho là Pháp bảo, vì chí quyết mong đến nơi đây, tức đến nghe pháp mà nay lại nói thuộc Tăng. Còn câu “Được vô lượng an vui” cũng là trợ ngữ. Vậy nói về Tam bảo chỉ có hai câu, còn bỏ hai câu.
Nói chứa đựng ý nghĩa Tứ đế:
Chẳng lấy nghĩa đế, chỉ theo hành chứng. Người chứng pháp này là Phật, chứng Niết-bàn tức là chứng diệt. Vì sao biết được? Vì Niết- bàn dịch là Diệt, há chẳng phải là Diệt đế ư?
Câu “Dứt hẳn sinh tử” tức là trừ tap. Tập tức là phiền não và kết nghiệp, nay nói sinh tử cũng là phiền não và kiết nghiệp.
Câu “Nếu dốc lòng nghe nhận” là Đạo đế, do dốc lòng nghe nên chứng đạo.
Câu “Được vô lượng an vui” tức là Khổ đế, vì sao? Vì quả khổ đã dứt thì được quả báo an vui.
Chứa đựng ba đức:
Ba đức là ba mắt trên mặt của trời Ma-hê-thủ-la. Ba mắt này sắp xếp như chữ Y có ba điểm. Như Lai chứng Niết-bàn là đức Pháp thân, dứt hẳn sinh tử là đức Giải thoát. Dốc lòng nghe nhận là đức Bát-nhã. lAi mỗi đức có giải thích thêm, trong phẩm Tứ Y nói về ba đức là Pháp
thân, Giải thoát và Bát-nhã. Trong phẩm Tứ Tướng thì nêu Niết-bàn, Giải thoát và Bát-nhã. Dùng Niết-bàn thay Pháp thân. Nay ở đây nói Niết-bàn chẳng lẽ không phải là Pháp thân ư?
Câu “Dứt hẳn sinh tử” là đức Giải thoát, vì có sinh tử thì bị trói buộc không thể Giải thoát. Nay đã dứt trừ thì không còn bị trói buộc, chẳng lẽ không phải là Giải thoát ư?
Dốc lòng nghe nhận tức Bát-nhã, do nghe pháp mà sinh trí tuệ, trí tuệ đã sinh chẳng lẽ không phải là Bát-nhã ư? Nếu chẳng dốc lòng thì đâu thể sinh trí tuệ. Nay đã dốc lòng nghe thì Bát-nhã sinh, lại được pháp lạc tự vui, đó chẳng phải là niềm vui của thế gian.
Chứa đựng ý nghĩa bốn đức:
Bốn đức là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Như Lai chứng Niết-bàn tức là đức thường.
Hỏi: Đó là Như Lai Thường hay Niết-bàn thường?
Đáp: Nay nói nhân pháp đều Thường, Văn trước có ghi:
“Vì thường nên nhân cũng Thường”. Nói “dứt hẳn” là đức Tịnh. Sinh tử là pháp ác, đầy dẫy sự bất tịnh, đã dứt bỏ bất tịnh thì được thanh tịnh, đó chẳng phải là đức Tịnh ư? Nói: “Dốc lòng nghe nhận” tức là đức Ngã, có ngã mới nghe, không có thì ai nghe. Nói “thường được vô lượng vui” là đức Lạc, cũng có thể cho câu này là lặp lại đức Thường.
Bốn câu sinh mà chẳng sinh:
Trước đã giải thích rõ ràng rồi, nay chẳng cần giải thích lại. Bài kệ ứng với xưa có nay không:
Câu “Như Lai chứng Niết-bàn” tức là nói xưa có nay không, nay đã chứng tức nay mới có.
Câu “Dứt hẳn” tức là câu xưa có nay không. Tức khi Như Lai chưa dứt sinh tử thì còn phiền não, đó là xưa có; đã chứng Pháp thân không còn phiền não, chẳng phải là “nay không” ư? Hai câu sau không thể phân chia.
“Chỉ ba đời này” là không có việc ấy, cho nên hợp thành hai câu: “Ba đời có pháp, là không có việc ấy”. Thế nào là pháp ba đời? Chỉ chứng pháp Niết-bàn thường lạc này tức là ba đời này không có việc ấy.
Nói về bài kệ núi Tuyết:
Vì văn có xen lẫn qua lại chút ít, cần phải khéo phân biệt. Hai câu đầu chẳng hợp văn nghĩa, ở đây chỉ lấy hai câu kệ sau mà không hoàn toàn ứng hợp. Bốn câu ở đây chỉ hợp với hai câu nay mà thôi. Trong đó câu “Sinh diệt đã diệt” là hợp với câu “Dứt hẳn sinh tử”. Câu “Vắng
lặng an vui” tức tương ưng câu “Thường được vô lượng vui”. Hai bài kệ này nếu đối chiếu nhau thì hai bên đều có chỗ thiếu sót, như từ bài kệ này đối chiếu với bài kệ kia, thì bài này không có ý “Các hành pháp vô thường là pháp sinh diệt”, nếu từ bài kệ kia đối chiếu với bài kệ này thì bài kệ kia không có ý “Như Lai chứng Niết-bàn, nếu dốc lòng nghe nhận”.
Ý bốn Tất-đàn:
Câu “Như Lai chứng Niết-bàn” tức Đệ nhất nghĩa đế vì có lúc nói Niết-bàn là Đệ nhất nghĩa. “Dứt hẳn sinh tử” là Đối trị Tất-đàn, Trung Luận nói: “Dùng ba Đế đối trị ba lậu” nay dứt sinh tử chẳng phải là đối trị ư? Câu “Nếu dốc lòng nghe nhận” là Thế giới Tất-đàn. Trong Thế giới Tất-đàn hoặc nói có ngã, hoặc nói vô ngã, tất cả đều dốc lòng nghe nhận ngã và vô ngã này. Nói “Thường được vô lượng vui” tức các Vị nhân Tất-đàn. Trung Luận nói: “Một pháp chia làm hai loại mà nói, nếu người chấp ngã thì nói vô ngã, người chấp vô ngã thì nói có ngã; người chấp khổ thì nói vui, chấp vui thì nói khổ”. Nay ở đây trừ chấp vô thường, khổ, nên nói các pháp Thường vui.
Kệ Trung luận:
Câu “Pháp do nhân duyên sinh” tức là Như Lai chứng Niết-bàn chỉ là pháp nhân duyên, nếu chẳng phải nhân duyên thì thành nghĩa định tánh.
Câu “Ta nói đó là không” tức là “Dứt hẳn sinh tử” đã dứt sinh tử cho nên không.
Câu “Cũng gọi là giả danh” tức “dốc lòng nghe nhận” vì có giả ngã mới có nghe nhận.
Câu “Cũng là nghĩa Trung đạo” tức là “Thường được vô lượng vui”. Trung đạo tức chẳng phải có, chẳng phải không, cũng chẳng phải thường chẳng phải vô thường, kết luận là Thường. Không khổ không vui, kết luận là đại lạc. Nay Thường Lạc ở đây là thường lạc của Trung đạo.
Bốn thứ Phật tánh:
Trừ chánh nhân chỉ lấy quả quả, nhân nhân, bốn duyên Phật tánh. Như Lai chứng Niết-bàn tức là quả quả tánh. Nên văn ở sau ghi: “Quả quả là đại Niết-bàn”
Sinh tử tức nhân nhân tánh. Văn ở sau ghi: “Pháp do mười hai nhân duyên sinh cũng dứt mười hai nhân duyên, phiền não dứt hết, sinh quán trí giải ngộ”.
Đó chẳng phải là nhân nhân ư? Dốc lòng nghe nhận tức là liễu
nhân tánh. Ba mươi phẩm, sáu Độ, bốn Đẳng tâm đều là liễu nhân; thường được vô lượng vui tức quả Bồ-đề. Vì thường lạc chẳng lẽ không phải là quả tánh ư?
Các sư Trung Quán nói: “Suy nghĩ như thế thì được mười nghĩa lớn”.
Cho nên biết lý ấy vô lượng chẳng thể nói hết. Trong phẩm Phạm-
Hạnh ở trước nói là đau khổ, ở đây nói chẳng đau khổ. Các sư xưa cho rằng đó chỉ là nói giai vị sâu cạn mà thôi.
Kế là nói về điều ác phải xa lìa. Các thú dữ như voi dữ, ngựa dữ, v.v... thường làm hại người, là sinh khởi niệm ác, khởi động thân miệng ác; thành trì, nhà cửa là vật vô tình, làm sao có thể làm ác? Như ở bên thành cầm cung tên, canh gác, chặn đường, chẳng lẽ không phải làm cho người sinh tâm giết hại. Nhà ác cũng giống như thế, ở đây thuộc duyên ác. Nói tri thức xấu ác là kẻ chuyên nói lời ngon ngọt dối trá, dối gạt người, khiến người làm ác nên phải xa lìa.
Kế là giải thích thân cận lậu, như văn kinh có nói.
Từ câu “Tất cả phàm phu v.v...” trở xuống là đoạn sáu, giải thích thọ lậu. Như văn kinh có nói: Giác tức là thọ, phẩm Thánh Hạnh ghi: “Thọ là tướng giác”. Nhân ba thọ mà sau khởi ba phiền não, vì thế gọi là thọ lậu. Trong đoạn văn trên có giải thích các từ như Sa-môn v.v... tất cả đều có nhiều nghĩa, không nên chấp nhất định một nghĩa, ở đây nêu sáu điều khó, khác với phẩm Thuần-đà. Ở trước lấy Đàn (bố thí) làm điều khó. Phẩm Ai Thán lấy quả A-la-hán làm điều khó, ở đây cho tâm kinh sợ là điều khó. Vì sao ba phẩm nói về điều khó đều có năm điều giống và một điều khác? Vì phẩm Thuần-đà đối với thế tục nên nói lần cúng dường cuối cùng là khó. Phẩm Ai Thán đối với đạo nên nói quả A-la-hán đạt được là khó. Trong đây là đối chung chấp có phàm phu nên nói sinh tâm kinh sợ là khó.
 
-----------------------------
PHẨM 22: ĐỨC VƯƠNG (PHẦN 3)
 
Đầu quyển giải thích niệm lậu thứ bảy, có hai đoạn:
Trước nói về tướng hữu lậu; sau nói về Bồ-tát vô lậu có khả năng dứt trừ niệm lậu.
Hành tâm tà niệm là lậu, theo lý phải đầy đủ sinh niệm lậu trong ba thọ. Nay chỉ nêu sinh niệm lậu trong khổ thọ, sinh các tội lỗi tham, sân, v.v...
Từ câu Bồ-tát v.v...” trở xuống là đoạn hai, nói về Bồ-tát vô lậu, gồm có pháp, dụ và kết.
Đầu tiên nêu một lời về pháp thuyết để nói Bồ-tát suy nghĩ dứt trừ niệm lậu, phàm phu ngu si chẳng thể suy nghĩ để dứt các lậu.
Từ câu “Thí như có vị vua v.v...” trở xuống là phần dụ thuyết. Có hai là dụ và hợp, hoặc có bảy, tám, chín dụ khác nhau. Nếu đối chiếu với văn hợp ở sau thì nên nhất định là tám dụ:
  1. Dụ bốn rắn.
  2. Dụ năm người Chiên-đà-la.
  3. Dụ dối gạt người thân.
  4. Dụ xóm làng.
  5. Dụ sáu tên giặc.
  6. Dụ sông lớn.
  7. Dụ bè cỏ.
  8. Dụ đến bờ.
  • Gom tám dụ thành ba nhóm:
  1. Sáu dụ đầu nói về duyên của đạo.
  2. Một dụ kế nói về tu đạo.
  3. Một dụ sau nói về đắc quả. Nói vua, có ba cách giải:
  1. Phật nói thân chúng sinh gồm có bốn đại.
  2. Vô minh tạo thành thân bốn đại của chúng sinh.
  3. Kinh này nói bốn đại của chúng sinh chống trái, tàn hại lẫn nhau như rắn độc.
Rương dụ cho thân, ăn uống dụ cho tắm rửa. Nói theo pháp thì y cứ theo các phẩm ác mà định tội nặng nhẹ.
Chém ở giữa là dứt gốc thiện, dứt tuệ mạng. Vì việc ấy rõ ràng cho nên nói ở giữa chợ.
Lệnh nghiêm tức răn điều ác chớ làm, khuyên nên làm điều thiện. Chạy trốn nghĩa là nếu được chân giải thì đường hoàng mà đi. Nay mới
hàng phục các hoặc nên nói là chạy trốn.
Kế là từ câu “Bấy giờ v.v...” trở xuống là dụ năm người Chiên-đà- la. Năm Chiên-đà-la dụ cho năm ấm. Đao dụ cho vô thường khổ. Quay đầu, ưa thích Niết-bàn là chạy trốn, nhàm chán sinh tử là quay đầu.
Thứ ba từ câu “Năm kẻ kia v.v...” trở xuống là dụ cho dối gạt người thân. Giấu đao tức dùng ngã luống dối che lấp vô ngã, vọng lạc che lấp khổ. Thầm sai một người, một người là dụ cho ái. Tâm hành của năm ấm có tham ái này làm mê hoặc chúng sinh nên dụ giả làm người thân thiện.
Thứ tư từ câu “Người kia v.v...” trở xuống là dụ cho xóm làng. Dụ cho năm căn, năm căn là nơi y cứ của thức. Như người sống trong xóm làng. Bình xưa cho là vật chứa có hai miệng, dụ cho năm căn, trọng tức là đạp, tự thư âm là hồng. Nói không có người tức là nhân không, không vật tức là pháp không, ngồi xuống nền đất ức trụ tâm trong cảnh không.
Thứ năm, từ câu “Nghe trên hư không v.v...” trở xuống là dụ cho sáu tên giặc. Dụ cho sáu trần cướp mất pháp thiện. Tiếng nói trên hư không là dụ trong lời Phật dạy có nói về sáu trần. Đêm nay sẽ đến là dụ cho vô minh tối tăm che phủ sáu trần.
Thứ sáu, từ câu “Trên đường đi v.v...” trở xuống là dụ cho các hoặc. Các chúng sinh ở trong phiền não đâu thể nói chỉ gặp có một. Nhưng vì chưa tu đạo thì chưa biết tội lỗi của hoặc. Nay chuyên tâm tu tập mới biết đó là chướng ngại nên gọi là gặp. Đoạn và thường xung đột nhau dụ như nước chảy xiết.
Thứ bảy, từ câu “Nên dùng v.v...” trở xuống là dụ chiếc bè với việc tu đạo. Nghĩ đoạn, liền đẩy chiếc bè xuống sông, nằm trên đó, tay chèo chân đạp nhắm thẳng dòng bơi qua bờ kia.
Tay chèo, chân đạp dụ cho dụng của đạo. Nói bè không bảo đảm chẳng thể nương gá là nghĩ rằng pháp thiện yếu kém chẳng thể tự qua. Thân nằm trên bè tức tâm nương vào pháp thiện ấy, thẳng dòng mà qua. Cỏ cây dụ cho các pháp thiện, hai tay dụ cho hai trí quyền thật, hai chân dụ cho giới và định.
Thứ tám, từ câu “Sang được v.v...” trở xuống là dụ cho việc được quả Niết-bàn. Bên bờ này hay giữa dòng đều có nhiều việc đáng sợ, đã sang đến bờ kia, đạt được quả vị, sẽ không còn lo sợ nữa.
Kế là hợp với tám dụ. Đầu tiên là hợp với dụ bốn rắn độc, tức bốn đại.
Bốn đại có trong và ngoài. Bốn đại trong thân hợp với bốn rắn độc. Bốn đại cùng tạo thành nhãn căn thì hợp với Kiến độc; bốn đại
cùng tạo thành thân căn thì hợp với Xúc độc; bốn đại tạo thành tỷ căn thì hợp với Khí độc; bốn đại tạo thành thiện căn thì hợp với Xỉ độc.
Kế là hợp với năm người Chiên-đà-la, như văn kinh có ghi. Thứ ba là hợp nói dối gạt làm người thân.
Thân chỉ là ái, ái thường xúc xiểm, phỉnh dụ làm hại chúng sinh nhưng ba tâm trước chẳng thể sinh ái, chỉ có hành tâm mới sinh ra thân ái. Năm ấm đều có làm ác, mà khởi ái thì chỉ có ở hành tâm, vì thế nói là một oán. Văn kinh nói: “Oán dối làm người thân có thỉ có chung; tâm ái chẳng phải như thế, vô thỉ vô chung”. Đoạn này có hai nghĩa:
  1. Như mười hai nhân duyên giống như bánh xe không có thỉ chung. Tâm ái cũng như thế, không có thỉ chung. Nhưng mười hai nhân duyên lại có thỉ chung, tức vô minh là thỉ, già chết là chung. Về nghĩa không thỉ chung, suy tìm chỗ phát khởi của ái không được là vô thỉ, chẳng biết đi về đâu là nghĩa vô chung.
  2. Hợp dụ thứ tư. Xóm làng hoang vắng là dụ cho sáu nhập bên trong. Đây là nơi người thế gian tu tập. Vì chẳng có người ở, nên gọi   là hoang vắng. Sáu căn là nơi nương gá của ngã, tìm cầu chẳng thật có nên nói là không. Như người bên ngoài nhìn vào nhà cho bên trong là có người, đến khi vào nhà thì chẳng thấy gì. Bồ-tát cũng như thế, quán thấy sáu căn đều không, vô ngã, nhưng sáu căn này cùng với sáu trần trong ngoài hợp thành mười hai xứ. Sáu căn còn gọi là sáu tình cũng gọi là sáu thức. Căn lấy năng sinh làm nghĩa, tình là từ sinh thức mà đặt tên. Nhưng sáu căn không có tình, thức thì có tình, vì từ năng mà đặt tên nên gọi là sáu tình. Thức lấy hòa hợp làm nghĩa tức căn trần hòa hợp mà sinh ra thức.
Hợp dụ thứ năm.
Sáu tên giặc dụ cho sáu trần từ bên ngoài vào, cướp đoạt tài vật của người. Còn sáu trần thì cướp pháp thiện của người. Nhưng sáu trần sinh ba pháp: bốn việc thì sinh ra phiền não sâu kín nên gọi là bốn vi; còn pháp được sinh ra là Thô nên gọi là bốn việc. Bốn đại sắc, hương, vị, xúc; mỗi đại đều có bốn, cũng không đủ bốn. Năm việc sinh gọi là năm dục; nói năm việc tức bốn việc trên thêm thanh trần. Nói sáu việc sinh thì gọi là sáu trần, trần là tên của các căn vẩn đục.
Kế là hợp dụ thứ sáu, một con sông.
Sông là dụ cho phiền não, nhưng ở đây không nói hai sông, sáu sông là vì chẳng rảnh để đồng kể ra hết. Như sông sinh tử, sông Niết- bàn, sông pháp thiện, sông Phật tánh v.v... Trong kinh này nói ba con sông khác nhau. Như phẩm Sư-tử thì nói sông sinh tử; phẩm Ca-diếp thì
nói sông Niết-bàn; phẩm này thì nói sông phiền não.
Từ câu “Đã đến bờ sông v.v...” trở xuống là hợp với dụ thứ bảy. Giới, định, tuệ là ba phẩm.
Từ câu “Đến bờ kia v.v...” trở xuống là hợp dụ thứ tám. Đến bờ kia là dụ thường, lạc, ngã, tịnh.
Từ câu “Vì sao v.v...” trở xuống là thứ hai giải thích nửa câu “chẳng phải hữu lậu”.
Như Lai thường đi trong hữu lậu. Các sư Số Luận cho rằng đều phán định theo cảnh, nếu duyên cảnh hữu lậu thì gọi là hữu lậu; nếu duyên cảnh vô lậu thì gọi là vô lậu. Ở đây nói Như Lai hữu lậu dường như các sư Số Luận đã giải thích. Vì sao? Vì kinh nói Như Lai thường hành trong hữu lậu, hữu lậu tức hai mươi lăm Hữu. Cho nên biết từ cảnh hai mươi lăm hữu mà đặt tên.
Các sư luận Thành Thật thì cho là theo tâm, đâu có bao giờ theo cảnh? Ngã thể thanh tịnh khi không có phiền não, dù duyên với cảnh hữu lậu. Hai cách giải thích này là gốc của sự tranh luận. Trong đây nói đủ Như Lai chẳng phải hữu lậu, chẳng phải vô lậu. Chẳng phải hữu lậu là nói Như Lai không có các lậu, chẳng phải vô lậu là nói Như Lai còn hữu lậu. Hữu lậu, vô lậu này là muốn nói Phật chẳng phải hữu lậu chẳng phải vô lậu; hữu lậu vô lậu đều chẳng đúng, chứ không hề nói là hữu lậu vô lậu.
Từ câu “Vì nhân duyên này v.v...” trở xuống là đoạn ba, kết luận bất định.
Từ câu “Bấy giờ, Bồ-tát v.v...” trở xuống là đoạn ba, lãnh giải.
Từ câu “Như Phật v.v...” trở xuống là phần hai, Bồ-tát Đức Vương lại thỉnh đáp câu hỏi về quả ở trước. Câu hỏi cách ở trước xa nên phải nêu lên lại. Y cứ vào phần hai hỏi cả về nhân quả, trong đó trước đáp cả nhân quả, kế là đáp riêng nhân quả. Trong phần đáp riêng, Như Lai đã đáp rộng về nhân. Nay Bồ-tát Đức Vương lại nêu câu hỏi về quả, văn có hai. Trước là nêu câu hỏi.
Từ câu “Đức Phật v.v...” trở xuống là ý thứ hai, Như Lai đáp, trước khen câu hỏi, sau là chánh đáp.
Khen câu hỏi, trong đó có hai ý:
  1. Khen nhớ kỹ chẳng quên, đã qua rồi mà còn nhớ câu hỏi ở trước để xin Đức Phật trả lời, vì nói là “Được niệm tổng trì”.
  2. Trong Niết-bàn chứa đựng rất nhiều nghĩa, nay thầy muốn thọ trì tất cả nên nói là “Được niệm tổng trì”.
Từ câu “Như người đời v.v...” trở xuống là đoạn hai, chánh đáp,
gồm có hai:
  1. Nêu đại tiểu đối đãi nhau là y cứ theo nghĩa tương đãi để đáp.
  2. Y cứ theo nghĩa dứt bặt đối đãi để đáp câu hỏi Đại Niết-bàn.
Thứ nhất nói về tương đãi gồm mười cặp. Nghĩa tuyệt đãi như văn sau dụ như hư không chẳng do Tiểu không mà gọi là Đại không. Niết- bàn cũng như thế, chẳng do tướng Tiểu mà gọi là tướng Đại. Trong văn nói về tương đãi có hai phần, trước là nêu mười cặp là mười dụ, sau là hợp.
Kế là từ câu “Thế nào là v.v...” trở xuống là giải thích hai chương: trước giải thích Tiểu, kế là giải thích Đại. Giải thích Tiểu có hai:
1. Nêu năm việc có chút nghĩa diệt khổ là Niết-bàn, chẳng phải Đại Niết-bàn.
Từ câu “kẻ phàm phu v.v...” trở xuống là ý thứ hai, nêu diệt đoạn phục gọi là Niết-bàn. Trước nêu ra hai môn phàm Thánh.
Kế là giải thích, có hai: Trước là giải thích; sau là giải thích thành tựu ý trên.
Từ câu “Do thế tục v.v...” trở xuống là giải thích phàm phu nói trên. Từ câu “Hoặc do Thánh đạo v.v...” trở xuống là giải thích Thanh văn. Thế tục là chỉ cho những người được thiền định, hàng phục các hoặc, thuộc về ngoại đạo. Thánh đạo tức các vị Tiểu thừa dứt hoặc.
Từ câu “Vì sao v.v...” trở xuống là giải thích để hoàn thành hai ý trên.
Lại sinh phiền não tức là giải thích phàm phu. Nói có tập khí    là
giải thích Tiểu thừa. Sau đó văn kinh nêu ra nghĩa tập khí. Nói chung mười sử đều có tập khí, như Xá-lợi-phất, Nan-đà, Tất-lăng-già v.v... còn có tập khí. Nay chỉ y cứ theo nghĩa kiến để nói về tập (thói quen). Không có ngã, không có lạc, chỉ có thường, tịnh. Đây là cho thường và tịnh, nếu đoạt thì không có Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.
Từ câu “Thường, Lạc, Ngã, Tịnh v.v...” trở xuống có ba câu, giải thích môn Đại Niết-bàn.
Từ câu “Thí như v.v...” trở xuống là ý thứ hai, nêu dụ để hợp. Gồm mười dụ hợp nhưng chỉ có bảy dụ, còn ba dụ thì hợp chung, tức ba dụ vua, thành và địa cộng thành một hợp. Vì ba việc này tương quan nhau, như vua thì có thành, thành thì có địa, nghĩa ý tương quan và phụ thuộc nhau. Lại trời, người cũng cùng hợp nhau. Trong phần hợp riêng, trước hợp với biển, kế là hợp với sông.
Ba, là hợp với núi.
Ma-ha-na-già và Bát-kiền-đà: Đại luận gọi là Đại long, Đại tượng
là các lực sĩ ở cõi trời, Lương Vũ Đế dịch là Cực tráng.
Từ câu “Nơi mà v.v...” trở xuống là thứ tư, hợp ba dụ: đại vương, đại thành, và đại địa.
Từ câu “Bốn thứ binh v.v...” trở xuống là đoạn năm, hợp dụ thứ bảy, chúng sinh và đại chúng sinh.
Từ câu “Nếu có người v.v...” trở xuống là hợp với các dụ là nhân, đại nhân; thiên, đại thiên.
“Chỉ dạy v.v...” trở xuống là phần hai, giải thích Đại Niết-bàn tức là y theo dứt bặt đối đãi để giải thích.
Văn có hai là chung và riêng. Giải thích chung có hai: một, là không thể nói.
Kế là nói về có thể nói.
Kế là trong phần giải thích riêng chỉ y cứ theo ba đức mà chẳng nói thường là vì:
  1. Cho rằng trước khai tông đã nói thường rồi nên ở đây lược qua chẳng nói.
  2. Cho rằng phẩm Danh Tự ghi: “Đại là Thường”, ở đây lại nói về Đại nên chẳng cần nói về Thường.
Y cứ theo ba đức, mỗi mỗi cũng có hai. Thứ nhất nói đại ngã, có hai là y cứ Chẳng thể nghĩ bàn để giải thích Đại và y cứ nhân duyên để giải thích Đại, tức có thể nói và không thể nói.
Vì có đại ngã nên gọi là Đại Niết-bàn, lại nói Niết-bàn vô ngã. Xưa có hai cách giải thích:
  1. Cho rằng vô ngã tức dứt bặt tên gọi, thầm hợp với chân. Niết- bàn là vô ngã.
  2. Nói vô ngã, trong Niết-bàn thì vô ngã là không có vọng ngã sinh tử, có ngã tức có ngã thường lạc.
Các sư Trung Quán hỏi về hai cách giải: Nếu nói dứt bặt tên gọi, thầm hợp với chân là vô ngã. Vậy lẽ ra bặt danh hợp chân cũng gọi   là vô thường. Kia giải rằng “Chẳng được nói vô thường, vì Niết-bàn   là thường”. Cho nên thầm hợp với chân, dứt bặt bốn danh cũng là vô thường. Hỏi thuyết thứ hai “Đã nói vô ngã trong sinh tử thì cũng nên nói vô thường trong sinh tử”.
  • Kia hỏi lại: Trong sinh tử cái gì là thường? Vậy trong sinh tử cái gì là ngã?
  • Nếu kia giải thích rằng trong sinh tử không có chân ngã mà có giả ngã đồng thời nói không có ngưng nhiên thường mà có tương tục thường, thế thì chẳng những không có ngã trong sinh tử mà cũng không

có thường trong sinh tử. Điều này thật vô cùng.
Tám tự tại ngã: một là một và nhiều; hai là lớn và nhỏ; ba là khinh trọng; bốn là sắc tâm; năm là căn; sáu là chứng đắc; bảy là nói; tám là thấy. Như văn có ghi.
Kế là từ câu “Thí như v.v...” trở xuống là đoạn hai, giải thích nhiều nhân duyên nên gọi là Đại ngã.
Kế là nói đại lạc. Văn có hai Một, là nói đại lạc không thể nói; hai, nhiều nhân duyên là đại lạc.
Thứ nhất, giải thích bốn lạc; một là nói về lạc, và ba lần “lại nữa” nói về lạc chẳng phải chẳng lạc.
Thứ hai, từ câu “Thứ hai, là đại tịch tĩnh v.v...” trở xuống là nói không động không tĩnh là đại tịch tĩnh, là lạc.
Thứ ba từ câu “Vì nhất thiết trí v.v...” trở xuống là giải thích chẳng biết chẳng phải không biết là đại tri, đó là lạc.
Thứ tư là giải thích thân chẳng hoại.
Tức là thân chẳng phải sinh tử chẳng phải Niết-bàn, chẳng phải hoạn, nên gọi là đại lạc.
Kế là từ câu “Danh tự v.v...” trở xuống là đoạn hai, dùng có nhân duyên đối với không có nhân duyên để giải thích. Vì thế chia làm hai phần là có nhân và vô nhân. Thứ nhất nói có nhân duyên, sau là nói không có nhân duyên. Niết-bàn đồng với không có nhân duyên, đó lại là ý dứt bặt đối đãi đã nói ở trước.
Nói Ca ca là tiếng chim, Cứu cứu là tiếng kêu của gà, Đát đát là tiếng kêu của chim trĩ.
Man-đà, Hà Tây gọi là Mạn-đà-bà, bản Phạm nói một âm chỉ cho hai vật, một là tòa cao nhà xấu; hai là người dịch kinh nói ở đây lại là điện đường và thức uống. Tát-bà-xa-đa cho rằng tựa như ngựa và rau cần, một âm mà hai tên. Để-la-bà-di là chim yến và chim sẻ, cùng một âm mà hai tên.
Kế là từ câu “Thí như có pháp v.v...” trở xuống là thứ ba, y cứ theo nghĩa không thể lường để giải thích Tịnh.
Trong phần giải thích ở trước, văn nêu nhiều nhân duyên nhưng văn ở đây thì lược.
Kế là nói vì thuần tịnh nên gọi là Đại. Sau là giải thích nghĩa Tịnh.

Nêu bốn nghĩa tịnh, như văn kinh đã ghi.
“Người thiện nam là tên gọi, v.v...” trở xuống là tổng kết chương ba.
PHẨM 22: ĐỨC VƯƠNG (PHẦN 4 - ĐẦU)
 
Đầu quyển nói về công đức thứ hai. Có người giải thích mười công đức, mỗi công đức đều có nói về thể, cho rằng công đức đầu tiên dùng năm việc làm thể. Nay công đức này lấy năm thông làm thể. Ở đây cho rằng chẳng phải như thế. Văn kinh có ghi: “Vì được năng lực oai thần của Đại Niết-bàn”.
Nên biết mười công đức đều lấy Niết-bàn làm thể, tùy theo sự mà có nhiều loại khác nhau. Thể là gốc, đâu có theo cành lá để nói về mười công đức? Năm thông đều y cứ theo vô phân biệt mà phân biệt mười loại, năm loại. Xưa nói công đức thứ nhất sâu, công đức thứ hai cạn. Chẳng đúng như thế, ở trên dùng bốn câu để phân tích nhân thì cho là sâu; ở đây nói thẳng vào nhân thì cho là cạn. Nếu muốn chia đây thành bốn câu thì đó là chẳng đắc mà đắc, đắc mà chẳng đắc, chẳng đắc là chẳng đắc và đắc là đắc. Các môn khác cũng thế, đâu có gì là cạn, v.v...
Xưa nói Đại thừa khác Tiểu thừa, chỉ có Phật mới lậu tận. Bồ-tát là người ở giai vị nhân nên chỉ nói năm Thông, chẳng nói lậu tận. Đó mới chỉ là nói qua dùng nhân để nói quả; nếu nói đủ thì chỉ có Phật, Thế Tôn mới có Thiên nhãn (mắt trời) chân thật, chẳng dùng hai tướng để thấy cõi Phật. Tha tâm thông, Túc mạng thông, rốt ráo chỉ có Phật mới đạt được. Bồ-tát đã từng phần được năm thông, vì sao chẳng nói phần đắc vô lậu. Trong văn này tuy nói năm chương nhưng ý đầy đủ sáu Thông. Xưa cho rằng câu “chẳng đắc mà đắc” là nêu chung năm thông. Nay nói rằng chẳng đúng như thế. “Chẳng được mà được” là Đại Niết- bàn, Đại Niết-bàn là Phật tánh Trung đạo và vô lậu của Phi hữu lậu, phi vô lậu. Cho nên văn kinh nói “chẳng phải ngoại đạo” tức chẳng phải hữu lậu; “chẳng phải Nhị thừa” tức chẳng phải vô lậu mà đạt được Đại Niết-bàn tức là vô lậu của phi hữu lậu phi vô lậu. Giải thích rằng nói thần thông chẳng phải như mười tám thứ biến hóa của Tiểu thừa; nói Thần tức thiên tâm, Thông tức là tuệ tánh. Tuệ thiên nhiên tức Trung đạo lìa hai bên lậu, vô lậu, đó gọi là Đại Niết-bàn. Chỉ cho đây là vô lậu thông.
Nói thêm rằng nghiệm xét mười công đức là chứng. Văn đầu tiên đã nói biết tạng sâu kín há chẳng thể phần chứng sáu Thông ư? Cho nên biết văn nói về đức đều quán thông nhau mà luận, chẳng riêng  mà riêng nên mười tướng khác nhau, riêng mà chẳng riêng nên đồng là một Niết-bàn, vì thế đối với các địa cũng chẳng được sai lầm, huống

chi nghĩa mười địa chung cho Viên và Biệt. Biệt mà chẳng biệt tức là nghĩa viên; chẳng Biệt mà Biệt tức nghĩa Biệt. Nếu theo ý này thì lấy mỗi pháp môn trong mười đức này hợp với mười địa, dùng pháp môn đới viên để giải thích Thông, Biệt thì ý nghĩa càng sáng tỏ thêm, chính xác thêm. Như thế thì hợp với kinh này, hợp với năm thời, hợp với các giáo, hợp với cơ hội.
Văn có bốn đoạn: nêu lên, trình bày chương, giải thích và kết luận.
Nêu sáu danh đã khác Tiểu thừa, mà sáu thông cũng chẳng đồng
với họ. Văn kinh giải thích mỗi tên gọi đều có phân biệt dứt trừ; nêu các tên gọi tuy khác nhau nhưng nay chỉ cho văn này cũng gọi là sáu thông. Trong đó, chẳng đắc mà đắc là Lậu tận thông; chẳng nghe mà nghe là Thiên nhĩ thông; chẳng thấy mà thấy là Thiên nhãn thông; chẳng đến mà đến là như ý thông; chẳng biết mà biết là Tha tâm và Túc mạng thông.
Thứ ba là giải thích. Văn có năm đoạn nhưng phần nêu chương và giải thích có chút phần không theo thứ lớp, đó là do duyên nghi khác nhau. Thứ nhất, là chương chẳng được mà được, gồm có ba: một là nêu lên; hai là dứt trừ để hiển bày; ba là kết luận.
Nêu thần thông: Thần là Đại Niết-bàn, là lý thiên nhiên. Lý này dung thông, tự tại vô ngại nên gọi là Thần thông. Tên tuy đồng mà lý thì rất khác nhau. Nêu phân biệt dứt trừ phàm phu và Tiểu thừa, hiển bày Trung đạo tròn đầy tự tại, cho nên biết lậu tận mới gọi là Thần thông.
Từ câu “Thần thông v.v...” trở xuống là dứt trừ để hiển bày, gồm có nêu lên và giải thích.
Giải thích có hai là dứt trừ điều chẳng đúng và hiển bày điều đúng.

Đầu tiên là dứt bỏ ngoại đạo và Nhị thừa, như văn kinh đã ghi.
Kế là hiển bày điều đúng, gồm có hai: Một là nói trong một  tâm
đầy đủ viên mãn, như văn kinh có nói. Thứ hai, hiển bày thân tâm tự tại, đầy đủ, là y cứ theo thể viên, tự tại nói về diệu dụng. Văn nói về tự tại có hai: một là phân biệt dứt trừ chẳng tự tại. Kế là nói về tự tại.

Thứ ba là kết luận. Như văn kinh ghi có thể tự hiểu.
Từ câu “Bồ-tát v.v...” trở xuống là giải thích chẳng đến mà đến, tức là Thân thông. Văn có ba: một, là nói về các cõi xa.
Thứ hai, phân biệt khác với Nhị thừa.
Thứ ba, là nói về tự tại. Như văn kinh có ghi.
Từ câu “Thế nào gọi là v.v...” trở xuống là đoạn ba giải thích

chẳng nghe mà nghe tức Thiên nhĩ thông. Văn có hai phần là giải thích và nói về nghĩa. Giải thích có bốn ý là tu, đắc, phân biệt và không chấp đắm. Hai ý trước như văn kinh có ghi.
Nói chuyển tu thì được nhĩ căn kỳ lạ, tức là nói tu đắc đều khác Tiểu thừa và ngoại đạo. Chuyển tu tức là tu Đại Niết-bàn tâm vô ngại tự tại. Tuy nghe âm thanh mà không nghĩ là âm thanh, đó gọi là chuyển tu, được nhĩ căn khác lạ, chẳng giống như Tiểu thừa.
Thứ tư là nói về không chấp đắm, nói tướng chủ, tướng y chẳng đồng với ngoại đạo Đà-phiếu-cầu-na. Chẳng tạo ra tướng quả v.v... tức chẳng lấy thiền định làm nhân, thần thông làm quả, đó phân biệt khác với Tiểu thừa. Các câu khác có thể tự biết.
Từ câu “Bấy giờ v.v...” trở xuống là đoạn hai, nói về nghĩa. Có hai phen hỏi đáp. Thứ nhất là hỏi, có hai là lãnh chỉ và kính bác bỏ ý Phật.
Từ câu “Vì sao?” v.v… trở xuống là gạn hỏi hai câu: một, là âm thanh thiện; hai, là hỏi về âm thanh ác, đều hỏi về tướng định.
Phật đáp, có hai ý: một là khen ngợi câu hỏi; hai là chánh đáp.
Chánh đáp có hai: một, là đáp chung; hai, là đáp riêng. Đáp chung lại chia làm hai: một, là nói đều bất định; hai, là nói định, lại là định trong bất định. Thứ nhất có hai lớp, đều trước là pháp, kế là nêu dụ, sau là kết.
Kế là từ câu “Như lời ông nói v.v…” trở xuống là phần đáp riêng, có hai: một, là đáp câu hỏi về âm thanh thiện.
Kế là trả lời về âm thanh ác.
Đó là muốn nói nguyên do chẳng có liên quan đến tiếng ác.
Từ câu “Bạch Thế Tôn!” trở xuống là hỏi đáp thứ hai, trước là hỏi, sau đáp, như văn kinh có ghi.
Từ câu “Thế nào là xưa chẳng thấy mà nay được thấy?” v.v… trở xuống là phần thứ tư giải thích chẳng thấy mà thấy, tức Thiên nhãn thông. Văn có sáu đoạn: tu, đắc, phân biệt, không chấp đắm, nói về biết khác, kết luận.
Ở đây có một vài câu nói về “biết”, nhưng chẳng phải “biết” ở sau. Đây chỉ là mượn biết để nói rõ về thấy mà thôi.
Văn kết luận chính là nhờ vào văn mới nói về Thiên nhãn để giúp cho kết luận, vì là bất cộng.
Từ câu “Này thiện nam!” v.v… trở xuống là thứ năm, giải thích biết mà chẳng biết, tức Tha tâm thông và Túc mạng thông. Văn có bốn đoạn:
  1. Biết tâm người.
  2. Biết túc mạng.
  3. Lặp lại về tha tâm.
  4. Từ câu “Vì nghĩa này v.v…” trở xuống là kết luận.
Thứ nhất là tha tâm, có hai ý: Trước là biết tha tâm, kế là biết Phật tánh.
/43
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »