CHƯƠNG BIỆN ÂM
Lúc bấy giờ, Ngài Biện Âm Bồ Tát ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy đến đảnh lễ dưới chân Phật, đi quanh bên hữu 3 vòng rồi quỳ thẳng chắp tay mà tác bạch:
Bạch đấng Đại Bi Thế Tôn! Pháp môn như thế thật là hy hữu.
Kính Bạch Thế Tôn! Đối với pháp phương tiện ấy là cửa ngõ của viên giác, chư vị Bồ Tát tu tập có mấy cách để nhập vào? Con cúi xin Đức Thế Tôn vì đại chúng và chúng sanh đời mạt pháp phương tiện khai thị khiến cho chúng con đều ngộ được thật tướng.
Tác bạch rồi Bồ Tát Biện Âm 5 vóc gieo xuống đất lặp đi lặp lại như vậy 3 lần.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Ngài Biện Âm Bồ Tát rằng: Lành thay! Lành thay!
Này thiện nam tử! Ông có thể vì đại chúng và chúng sanh đời mạt pháp mà hỏi Như Lai cách thức tu tập 3 phương tiện, ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì ông mà nói rõ.
Bồ Tát Biện Âm củng đại chúng vô cùng hoan hỉ yên lặng lắng nghe.
Này thiện nam tử! Viên giác thanh tịnh mà Như Lai chứng ngộ vốn không có pháp tu tập và người tu tập. Song vì các vị Bồ Tát và chúng sanh đời mạt pháp chưa nhập được viên giác, nên phải phương tiện dùng để huyễn pháp tu tập. Nhân đó mới có 25 định luật thanh tịnh.
1./ Nếu Bồ Tát giữ tâm cùng cực vắng lặng, nhờ sức vắng lặng này mà đoạn các phiền não được rốt ráo thành tựu tánh viên giác, thì vị Bồ Tát này dù chẳng rời chỗ ngồi mà vẫn nhập được niết bàn. Như vậy Bồ Tát này riêng tu về pháp Xa Ma Tha.
2./ Nếu Bồ Tát tu pháp như huyễn mà nương nhờ Phật lực mà Bồ Tát ấy hoá hiện các dụng pháp cho thế giới chúng sanh hiện hành diệu hạnh thanh tịnh của Bồ Tát nên đối với Đà La Ni chẳng mất tịch niệm và các tịch huệ. Như vậy Bồ Tát này riêng tu về pháp tam ma bát đề.
3./ Nếu Bồ Tát chỉ diệt các huyễn, chẳng thủ tác dụng, chuyên đoạn phiền não, đoạn hết phiền não thì chứng được thật tướng. Như vậy Bồ Tát này riêng tu về pháp thiền na.
4./ Bồ Tát trước giữ chỉ tịnh, sau dùng tịnh huệ chiếu soi thấu rõ các pháp như huyễn, như hoá, rồi lại khởi hạnh Bồ Tát. Bồ Tát tu như thế gọi là trước tu xa ma tha ( chỉ) sau tu ta ma bát đề ( quán).
5./ Nếu Bồ Tát dùng huệ tịch tịnh chứng được thể tánh rất tịnh, đoạn được phiền não, vĩnh viễn ra khỏi sanh tử. Bồ Tát tu như thế gọi là trước tu xa ma tha ( chỉ) sau là tu thiền na ( chỉ quán song tu).
6./ Nếu Bồ Tát dùng huệ tịch tịnh, dụng huyễn hoá lực biến hiện ra các hình thức để hoá độ chúng sanh, sau đoạn phiền não mà vào tịch diệt. Bồ Tát tu như thế gọi là trước tu xa ma tha ( chỉ) thứ tu tam ma bát đề ( quán) sau tu thiền na ( chỉ quán song tu).
7./ Nếu Bồ Tát dùng sức chỉ tịnh, đoạn phiền não rồi, sau khởi diệu hạnh thanh tịnh Bồ Tát độ các chúng sanh.
Bồ Tát tu như thế gọi là trước tu xa ma tha, thứ tu thiền na, sau tu tam ma bát đề.
8./ Nếu Bồ Tát dùng sức chỉ tịnh, tâm đoạn phiền não, xây dựng quốc độ giáo hoá chúng sanh. Bồ Tát tu như thế gọi là trước tu xa ma tha, sau đồng thời tu tam ma bát đề và thiền na.
9./ Nếu Bồ Tát dùng sức chỉ tịnh nhờ đó giúp cho việc biến hoá, sau đoạn phiền não. Bồ Tát tu như thế gọi là trước đồng thời tu xa ma tha và tam ma bát đề, sau tu thiền na.
10./ Nếu Bồ Tát dùng sức chỉ tịnh giúp cho tịch diệt, sau khởi tác dụng biến hoá thế giới. Bồ Tát tu như thế gọi là trước đồng thời tu xa ma tha va thiền na, sau tu tam ma bát đề.
11./ Nếu Bồ Tát dùng sức biến hoá, tuỳ thuận thích ứng đủ cả mà vẫn giữ lấy cực tịnh. Bồ Tát tu như thế gọi là trước tu tam ma bát đề sau tu xa ma tha.
12./ Nếu Bồ Tát dùng sức biến hoá, hoá hiện ra các cảnh giới mà vẫn giữ tịch diệt. Bồ Tát tu như thế gọi là trước tu tam ma bát đề sau tu thiền na.
13./ Nếu Bồ Tát dùng sức biến hoá làm các Phật sự mà vẫn an trụ nơi tịch tịnh đoạn các phiền não. Bồ Tát tu như thế trước tu tam ma bát đề, thứ tu xa ma tha, sau tu thiền na.
14./ Nếu Bồ Tát dùng sức biến hoá làm các việc không ngại, đoạn các phiền não rồi an trụ nơi rất tịnh. Bồ Tát tu như thế gọi là trước tu tam ma bát đề thứ tu thiền na, sau tu xa ma tha.
15./ Nếu Bồ Tát dùng sức biến hoá làm các phương tiện và tuỳ thuận 2 pháp chỉ tính và tịch diệt. Bồ Tát tu như thế gọi là trước tu tam ma bát đề sau đồng thời tu xa ma tha và thiền na.
16./ Nếu Bồ Tát dùng sức biến hoá khởi dụng đủ cách giúp cho chỉ tịch, sau đoạn phiền não. Bồ Tát tu như thế gọi là trước đồng thời tu tam ma bát đề và xa ma tha, sau tu thiền na.
17./ Nếu Bồ Tát dùng sức biến hoá giúp cho tịch diệt, sau an trụ nơi tánh định thanh tịnh không do tạo tác. Bồ Tát tu như thế gọi là trước đồng thời tu tam ma bát đề và thiền na, sau tu xa ma tha.
18./ Nếu Bồ Tát dùng sức tịch diệt khởi hạnh chí tịnh rồi an trụ nơi thanh tịnh. Bồ Tát tu như thế gọi là trước tu thiền na sau tu sa ma tha.
19./ Nếu Bồ Tát dùng sức diệt khởi ra tác dụng, tuy đối với các cảnh mà vẫn tuỳ thuận nơi tịch tịnh. Bồ Tát tu như thế gọi là trước tu thiền na sau tu tam ma bát đề.
20./ Nếu Bồ tát sức tịch diệt quán tự tánh các chúng sanh, rồi an trụ nơi định mà vẫn biến hoá các pháp để độ sanh. Bồ Tát tu như thế gọi là trước tu thiền na, thứ tu xa ma tha, sau tu tam ma bát đề.
21./ Nếu Bồ Tát dùng sức tịch diệt của tu tánh vô tác rồi khởi ra tác dụng độ sanh, sau đó y nơi cảnh giới thanh tịnh mà trở về với tịnh. Bồ Tát tu như thế gọi là trước tu thiền na thứ tu tam ma bát đề sau tu xa ma tha.
22./ Nếu Bồ Tát dùng sức tịch diệt mỗi thanh tịnh, an trụ nơi định mà khởi ra biến hoá. Bồ Tát tu như thế gọi là trước tu thiền na, đồng thời tu xa ma tha va tam ma bát đề.
23./ Nếu Bồ Tát dùng sức tịch diệt giúp cho chỉ tịnh rồi khởi biến hoá. Bồ Tát tu như thế gọi là đồng thời tu thiền na và xa ma tha sau tu tam ma bát đề.
24./ Nếu Bồ Tát dùng sức tịch diệt giúp cho biến hoá rồi khởi chí tịnh, an lập cảnh giới, trí huệ trong sáng. Bồ Tát tu như thế gọi là đồng thời tu thiền na và tam ma bát đề sau tu xa ma tha.
25./ Nếu Bồ Tát dùng huệ viên giác, viên hiệp và các pháp tánh tướng chẳng rời giác tánh. Bồ Tát tu như thế gọi là viên tu 3 pháp, tuỳ thuận tánh viên giác thanh tịnh.
Này thiện nam tử! đây là 25 pháp tu của Bồ Tát. Tất cả Bồ Tát phải tu như vậy, nếu các Bồ Tát và chúng sanh đời mạt pháp y theo 25 pháp môn này mà tu hành, cốt nhất phải giữ phạm hạnh, tịch tịnh tư duy và phải trải qua 21 ngày thành tâm sám hối, tự tay ghi rõ 25 pháp môn này và chí tâm cầu khẩn rồi dùng tay bốt lấy 1, mở ra xem thời biết là mình phải tu niệm này tu đốn. Hễ còn 1 niệm ghi thôi thời không thành tựu.
Bấy giờ Đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này nên nói kệ rằng:
“ Biện Âm ông nên biết
Tất cả các Bồ Tát
Tuệ thanh tịnh vô ngại
Đều do thiền định sanh
Với pháp xa ma tha
Tam ma đề, thiền na
Thành ra hai mươi lăm
Mười phương các Như Lai
Ba đời phát tâm tu
Đều phải y pháp này
Mà được thành giác đạo
Chỉ trừ người đốn giác
Là chẳng tuỳ thuận pháp
Tất cả các Bồ Tát
Và chúng sanh đời mạt
Thường phải tu pháp này
Tuỳ thuận siêng tu tập
Y sức đại bi Phật
Mà chứng được niết bàn”.
CHÚ THÍCH:
-
Định luật: luật là bánh xe lăn, thâm ý có nghĩa là nghiền nát. Định được coi là quyết định, bánh xe nghiền nát vọng hoặc phiền não làm cho tâm thể vắng lặng, nên gọi là định luật.
LƯỢC GIẢI:
Ngài Biện Âm là vị Bồ Tát có khả năng khéo léo phân biệt sự sai khác về pháp âm một cách tỏ tường.
Dựa theo lộ trình của 3 pháp môn phương tiện mà Đức Thế Tôn đã khai thị qua lời cầu khẩn của Ngài Oai Đức Tự Tại. Ngài Biện Âm muốn rõ ở nơi 3 pháp môn đó, hành giả chỉ tu 1 pháp hay cả 3 pháp, 3 pháp này tu đồng thời hay có trước có sau? Phải tu tuần tự hay vượt qua thứ lớp? Những thắc mắc này là nguyên nhân động lực khiến Bồ Tát Biện Âm đứng lên cầu Phật phương tiện chỉ dậy qua lời thưa hỏi sau:
“ Đối với pháp phương tiện ấy là cửa ngõ của viên giác, chư vị Bồ Tát tu tập có mấy cách để nhập vào?” Lời hỏi của Ngài Biện Âm đã được Đức Thế Tôn hứa khả. Và Ngài bắt đầu khai thị:
Này thiện nam tử! Viên giác thanh tịnh mà chư vị Như Lai chứng ngộ vốn không có sự tu tập và người tu tập, song các vị Bồ Tát và chúng sanh đời mạt pháp vì chưa nhận được viên giác nên phải phương tiện dùng huyễn hoá để tu tập. Nhân mới có 25 định luật thanh tịnh”.
Qua lời dậy ta thấy rõ:
Đứng trên căn bản tịnh viên giác tâm thì không có sự tu tập và người tu tập. Thật vậy, khi ( giác) đã viên mãn thì chẳng còn huyễn tu tập nào đáng nói nữa.
Còn đứng trên lập trường ( huyễn chưa dứt hẳn, chướng chưa đoạn hết), nghĩa là chưa giác nên mọi sự tu tập đều y nơi dụng công huyễn hoá mà làm nấc thang tiến bước mới mong vào được biển tịch diệt của Như Lai.
Lộ trình dùng huyễn pháp để tu tập, Phật đã dậy 25 pháp môn tu, được gọi là 25 định luật thanh tịnh.
Ngoài nghĩa thông thường, định chỉ cho các thứ định, luận chỉ cho biến hoá, ly hiệp luân chuyển để tu tập, ở đây phải hiểu định là quyết định, luận là nghiền nát, có nghĩa là 25 pháp môn phương tiện này đều quyết định nghiền nát hết 2 chướng dẫn đến quả vị Bồ Đề niết bàn nên gọi là định luật thanh tịnh.
Thật ra tuy chia làm 25 pháp môn tu nhưng vẫn căn cứ ở 3 pháp: chỉ, quán và chỉ quán song tu ( xa ma tha, tam ma bát đề và thiền na).
Tuỳ theo trình độ nhận thức của chúng sanh, có khi tu chung 2 pháp, 3 pháp, có lúc lại tu riêng từng pháp một hoặc pháp tu trước, tu sau. Tựu trung xoay qua trở lại thành 25 pháp, pháp tu nào cũng đều đến 1 mục đích chung, chứng nhập viên giác.
1./ Riêng tu một pháp sa ma tha ( tu định): Với pháp môn này hành giả phải dụng sức mạnh cực tỉnh mà diệt hẳn phiền não. Khi phiền não dứt hẳn là ngộ được giác thể viên minh. Nhờ đó mà thẳng vượt đến Phật quả, nên Kinh dậy: chẳng rời chỗ ngồi mà vẫn nhập được niết bàn, đây chính là
1 pháp tu đạt đến chỗ nhuần nhuyễn cứu cánh. Khi pháp môn này thành tựu tức là 1 đoạn, tất cả đoạn, chứng, tất cả chứng.
2./ Riêng tu 1 pháp tam ma bát đề ( tu huệ): Với pháp môn này hành giả thực hành tu quán như huyễn, lối quán này chư Phật đã tu thành tựu nên hành giả y theo quán này mà tu tức là nương nơi Phật lực mà biến hoá thế giới uế độ thành tịnh độ, biến sinh tử thành bất sinh bất diệt. Nghĩa là tuỳ cơ hoá đạo mà làm đủ diệu hạnh của Bồ Tát tức là tròn công hạnh lợi tha mà không rời bản thể thường tịch ( định) và thường chiếu ( huệ) tánh viên giác ( đà la ni).
3./ Riêng tu pháp thiền na ( định huệ song tu): pháp môn này hành giả y nơi vô tướng chân như mà diệt trừ huyễn pháp vô minh. Cũng chẳng thủ các thứ tác dụng biến hoá của huyễn quán. Hành giả chỉ dùng tánh tịch diệt để tu đoạn phiền não. Khi đoạn hết phiền não, chân lý tỏ ngộ tức là thật tướng hiển bầy. Thật tướng ở đây chính là viên giác tánh.
4./ Trước tu tịnh sau tu huệ: với pháp môn này hành giả áp dụng phương thức trước nắm lấy cực tỉnh ( chỉ) sau dùng tuệ giác cực tỉnh chiếu soi các pháp như huyễn ( quán).
5./ Trước tu định sau tu huệ song tu: với pháp môn này, trước tu chỉ, sau chỉ quán song tu. Hành giả dùng trí tuệ yên tịnh chứng được tánh rất tịnh là tu chỉ. Đoạn hết thảy phiền não, vĩnh viễn ra khỏi sanh tử luân hồi, chỉ quán song tu. Tu pháp này khi chứng được giác tánh là đoạn được phiền não ra khỏi hẳn sanh tử để khế hợp với tánh vô sanh tịch diệt.
6./ Trước tu định sau tu huệ, sau định huệ song tu: với pháp môn này trước tu chỉ, thứ tu quán, sau chỉ quán song tu. Hành giả dùng huệ tịch tịnh mà hiện ra sức huyễn, ấy là tu chỉ mà tiến lên tu quán. Sau đó khởi ra tác dụng diệu hạnh độ sanh. Cuối cùng đoạn phiền não mà vào nơi tịch diệt là chỉ quán song tu.
7./ Trước tu định, thứ định huệ song tu sau tu huệ: với pháp môn này trước tu định, thứ chỉ quán song tu, sau tu huệ. Hành giả phải dùng sức chỉ tịnh của chỉ để tiến lên tu chỉ quán song tu mà đoạn phiền não. Khi phiền não đã đoạn, thì buông tay nhập trần vẫn tự tại vô ngại, chẳng còn lo sợ nhiễm trước.
8./ Trước tu định sau đồng thời tu huệ và định huệ song tu: với pháp môn này trước tu chỉ, sau đồng thời tu quán và chỉ quán song tu. Hành giả trước dùng chỉ tịnh là tu chỉ, tức là lo sự tự lợi trước, sau tu quán và thiền na tức là vừa tự lợi vừa lợi tha, vừa đoạn trừ phiền não, vừa hoá độ chúng sanh.
9./ Trước đồng thời tu định và huệ, sau định huệ song tu: với pháp môn này hành giả trong khi tu chỉ đồng thời dùng sức chỉ tịnh của chỉ giúp cho sức biến hoá của quán phát khởi để hoá độ chúng sanh tức là tịnh huyễn song chiếu. Lộ trình này vừa tu ( chỉ) làm phần tư lương lợi lạc lại vừa tu quán để phát khởi hạnh lợi tha. Cuối cùng tu thiền na nhằm diệt phiền não. Khi phiền não đã đoạn dứt là 2 pháp viên mãn. Ấy là kết hợp trung đạo thành đạo vô thượng Bồ Đề.
10./ Trước đồng thời tu định và định huệ song tu, sau tu huệ: với pháp môn này hành giả bắt nguồn từ tu ( chỉ) rồi
dùng sức chỉ định của chỉ giúp cho quả tịch diệt của thiền na được thành tựu. Nói một cách khác hàng giả đồng thời tu định, đồng thời diệt phiền não. Khi đạt đến cực định thì phiền não lặng dứt. Sau dùng diệu hạnh của Bồ Tát để hoá độ chúng sanh. Ấy là tròn công hạnh tự lợi và lợi tha, tức là tu quán.
Từ pháp tu thứ 4 đến pháp tu thứ 10, cộng là 7 pháp đều là trước tu ( chỉ).
11./ Trước tu huệ sau tu định: với pháp môn này hành giả dùng sức biến hoá của huyễn hoá tuỳ thuận theo căn tánh của chúng sanh mà hoá độ là tu ( quán). Vì quán biết chúng sanh như huyễn như hoá nên chẳng bị động tâm, tức tu chỉ. Đó chính là tuỳ duyên mà bất biến, bất biến mà tuỳ duyên.
12./ Trước tu huệ, sau định huệ song tu: với pháp môn này hành giả trước dùng sức biến hoá là tu quán mà được thành tựu. Khi thành tựu khởi ra các cảnh giới như huyễn để hoá độ chúng sanh như huyễn. Khi công hạnh đã tròn đầy, thì tiến tới đoạn tuyệt phiền não mà giữ tánh thể lặng dứt của thiền na.
13./ Trước tu huệ, thứ tu định, sau định huệ song tu: với pháp môn này hành giả dùng sức biến hoá làm các Phật sự là do tu quán thành tựu. Khi làm Phật sự mà tánh vẫn an trụ trong cảnh vắng lặng là do tu ( chỉ) mà được bất động. Dù được bất động mà vẫn tiến lên đoạn các phiền não để kết hợp trung đạo đó là định huệ song tu.
14./ Trước tu huệ, thứ tu thiền na, sau tu định: với pháp môn này hành giả dùng sức biến hoá tuỳ thuận chúng sanh hiện ra tác dụng vô ngại, ấy là do tu “ quán” mà được thành
tựu. Rồi tiến lên đoạn các phiền não là “ tu chỉ quán song tu”. Cuối cùng an trụ trong cảnh “ chí định” ấy là tu “ chỉ”.
15./ Trước tu huệ sau đồng thời tu định và định huệ song tu: với pháp môn này hành giả dùng sức biến hoá các phương tiện độ sanh, đó là tu quán, sau này thuận tánh chí tịnh ( tu chỉ) để được an tâm và lặng dứt của thiền na, ngõ hầu đoạn phiền não mà tiến lên thánh vị, tức là tuỳ thuận cả hai “ chí tịnh và tịch diệt”.
16./ Trước đồng thời tu huệ và định sau tu thiền na: với pháp môn này hành giả dùng sức biến hoá khởi ra tác dụng sai biệt để hoá độ, đó là tu quán đã thành tựu. Nhưng vẫn an trụ trong cảnh vắng lặng và ở trong động mà tịnh mới là chí tịnh. Nói một cách khác trong khi tu “ quán”, tánh chí tịnh mới là tịnh của “ chỉ” tự nhiên thành tựu, đó là đồng thời tu quán và chỉ. Cuối cùng tu “ chỉ quán song tu” để đoạn phiền não, thành tựu Bồ Đề, ly khai sanh tử chứng nhập niết bàn, khiến cho tư lợi và lợi tha rốt ráo thanh tịnh.
17./ Trước đồng thời tu huệ và định huệ song tu, sau tu định: với pháp môn này hành giả dùng sức biến hoá là tu “ quán” giúp cho tịch diệt là “ chỉ quán song tu” khiến cả 2 đều được thành tựu, sau an trụ nơi tánh định thanh tịnh không cho tạo tác mà tu “ chỉ”.
18./ Trước định huệ song tu, sau tu huệ: với pháp môn này hành giả dùng sức tịch diệt khởi tánh rất tịnh là “ chỉ quán song tu” rồi an trụ nơi tịnh là tu “ chỉ”.
19./ Trước định huệ song tu, sau tu huệ: với pháp môn này hành giả dùng sức tịch diệt của pháp tu thiền na, khi thành tựu khởi ra các tác dụng độ chúng sanh mà vẫn tuỳ thuận nơi tịch diệt là tu “ quán”.
20./ Trước định huệ song tu, thứ tu định, sau tu huệ: với pháp môn này hành giả dùng sức tịch diệt, quán tự tánh chúng sanh để hoá độ là “ quán chỉ song tu”, an trụ nơi định là tu chỉ, sau biến hoá các pháp vào trần lao không nhiễm để độ sanh là tu “ quán”.
21./ Trước định huệ song tu, thứ tu huệ, sau tu định: với pháp môn này hành giả dùng sức tịch diệt ở trong tự tánh vô tác để khởi tác dụng độ sanh là “ chỉ quán song tu”, rồi tu “ quán” biến hoá cảnh giới phiền não trần lao của chúng sanh trở thành cảnh giới thanh tịnh, sau đó lặng dứt tất cả vọng, quay về chí tịnh là tu ‘ chỉ”.
22./ Trước tu thiền na, sau đồng thời tu định và huệ: với pháp môn này hành giả dùng sức tịch diệt xa hẳn cảnh ngại và không ngại nên mỗi mỗi đều được thanh tịnh là “ chỉ quán song tu”, an trụ nơi định là tu “’ chỉ” khởi ra các thứ biến hoá là tu “ quán”.
23./ Trước đồng thời tu thiền na va tu định, sau tu huệ: với pháp môn này hành giả dùng sức tịch diệt là “ chỉ quán song tu”, giúp cho chí tịnh là tu “ chỉ” sau khởi ra tác dụng biến hoá độ sanh khiến cho tư lợi và lợi tha đều được lợi ích là tu “ quán”.
24./ Trước đồng thời tu thiền na và tu huệ, sau tu định: với pháp môn này hành giả dùng sức tịch diệt “ chỉ quán song tu” giúp việc biến hoá là tu “ quán” sau khởi tánh rất tịnh là tu “ chỉ”. Do vậy mà có cảnh giới chí tịnh và tuệ giác viên mãn.
25./ Viên tu 3 pháp: với pháp môn này hành giả lấy tuệ viên giác mà viên dung khế hợp với 3 pháp môn: định, huệ và định huệ song tu, dẫn đến các tánh, tướng của các pháp
đều không rời tánh viên giác. Lộ trình pháp môn này được gọi là 3 thứ viên tu tự tánh thanh tịnh tức là thanh tịnh tuỳ thuận 25 định luận, tuy rằng y vào huyễn lực chưa giác mà thành sai biệt. Song tu tập cũng đều ở trong viên giác nà phát hiện vậy.
Cuối cùng Phật kết thúc 25 pháp môn tu này không ngoài 3 pháp xa ma tha, tam ma bát đề và thiền na. Lộ trình 25 định luận thanh tịnh chỉ là phương tiện giáo hoá độ sanh, tuỳ vào trình độ nhận thức của hành giả mà có sự hoán chuyển trước sau, chung quy tu pháp môn nào cũng đều nhắm đến viên giác tánh.
Hành giả sau khi thực hành pháp nào trong 25 định luận, muốn biết trình độ của mình đạt đến hiệu quả nào. Điều cốt nhất là phải thanh lọc tâm bằng cách giữ phạm hạnh tịch tĩnh tư duy trải qua lộ trình 21 ngày tức là dụng thông tam tế ( quá khứ, hiện tại, vị lai) rồi hành giả tự tay ghi rõ 25 pháp môn, thành tâm bốc lấy 1 sẽ tự biết trình độ căn cơ của mình. Ấy là hành giả trú pháp bằng danh tự ngôn ngữ, mà danh tự ngôn ngữ là vô trú vô trước.
Thế thì tuy trú pháp mà thật ra chẳng phải trú pháp nào cả, mà là y chỉ theo pháp, tự y chỉ vậy.