Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Phương Quảng Viên Giác Kinh

Đại Phương Quảng Viên Giác Kinh

Tác giả: Hòa Thượng Pháp Sư - Thích Thiện Trí. Năm xuất bản: 2016. Số trang: 155.

Chương 4: Chương Phổ Nhãn (Trang 27 - 50)

CHƯƠNG PHỔ NHÃN.

 
DỊCH NGHĨA:
Lúc bấy giờ Ngài Phổ Nhãn Bồ Tát ở giữa đại chúng rồi chỗ đứng dậy đến đảnh lễ dưới chân Phật, đi quanh bên hữu 3 vòng, rồi quỳ thẳng, chắp tay mà bạch Phật rằng:
Bạch đấng đại bi Thế Tôn! Con xin Ngài vì thính chúng Bồ Tát trong hội này và tất cả chúng sanh ở đời mạt pháp diễn nói thứ lớp tu hành của Bồ Tát. Bồ Tát phải tư duy như thế nào? Trụ trì như thế nào? Chúng sanh chưa ngộ phải dùng phương tiện gì khiến cho hết thảy đều được khai ngộ?
Bạch Đức Thế Tôn! Nếu chúng sanh không có phương tiện chân chánh và tư duy chân chánh thì nghe Như Lai nói tam muội này, tâm sanh mê muội, như vậy đối với viên giác tánh chẳng thể nào ngộ nhập được. Cúi mong Như lai vì chúng con và chúng sanh đời mạt pháp mà giả thuyết phương tiện.
Tác bạch rồi Phổ Nhãn Bồ Tát năm vóc gieo xuống đất, lặp đi lặp lại như vậy 3 lần.
Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Ngài Phổ Nhãn Bồ Tát rằng: Lành thay! Lành thay!
Này thiện nam tử! Ông có thể vì các Bồ Tát và các chúng sanh đời mạt pháp hỏi về thứ lớp tu hành, tư duy, trụ trì cho đến giả thuyết các pháp phương tiện. Ông nay nghe kỹ ta sẽ vì ông mà nói rõ. Bồ Tát Phổ Nhãn và đại chúng hoan hỉ vâng lời dậy của Phật, yên lặng lắng nghe:
Này thiện nam tử! Hàng tân học Bồ Tát và chúng sanh đời mạt pháp muốn cầu tâm viên giác thanh tịnh Như Lai thì cần phải chánh niệm mới xa lìa được huyễn tâm. Trước hết phải y theo hạnh xa ma tha của Phật nghiêm trì cấm giới, cùng với chư vị pháp lữ sắp xếp đồ đệ, ở yên nơi tịnh thất toạ thiền và thường nhớ nghĩ thế này: những gì có thể thì thuộc về đất, những gì dịch thể thì thuộc về nước, những gì nhiệt lực thì thuộc về lửa, những gì động lực thì thuộc về gió. Khi bốn đại chủng ấy chia lìa nhau thì chẳng có gì gọi là thân cả. Suy nghĩ như vậy mới thấy thân này rốt ráo chẳng có tự thể, do hoà hợp các duyên mà có thân tướng như vậy, thân này chỉ có huyễn hoá.
Do vì 4 đại chủng duyên hợp mà vọng có lục căn. Lục căn, 4 đại trong ngoài hoà hợp có duyên khí, rồi tích tụ lại hình như có duyên tưởng giả lập, gọi là tâm.
Này thiện nam tử! Tâm hư vọng này nếu ly 6 trần thì chẳng có chỗ trú, và đại phân ly thì cũng có 6 trần. Thế thì duyên trần chẳng có, mà duyên tâm chẳng còn.
Này thiện nam tử! Thân huyễn hoá chúng sanh đã diệt thì tâm huyễn hoá cũng diệt, tâm huyễn hoá diệt thì trần huyễn hoá. Thì cái huyễn hoá diệt cũng diệt, tâm huyễn hoá diệt thì trần huyễn hoá cũng diệt, thì cái huyễn hoá cũng diệt. Huyễn hoá diệt đã diệt thì cái phi huyễn bất diệt. Ví như lau gương bụi hết thể sáng hiện ra.
Này thiện nam tử! Phải biết thân tâm đều là cấu huyễn. Tướng huyễn cấu diệt rồi thì 10 phương thanh tịnh.
Này thiện nam tử! Ví như bảo ma ni trong sáng ánh ra 5 sắc, theo mặt ngọc mà hiện. Thế nhưng người ngu si thấy ngọc ma ni thực có 5 sắc.
Này thiện nam tử! Tánh thanh tịnh viên giác theo chủng loại mà ảnh hiện thân tâm. Người ngu si nhận lầm ảnh hiện ấy cho là viên giác thanh tịnh thật tướng. Do vậy nên chẳng thể xa lìa được huyễn tâm.
Vì vậy Như Lai dậy: thân tâm là huyễn cấu. Đối với người ly được tâm huyễn cấu thì Phật gọi đó là Bồ Tát. Khi cấu đã diệt tức chẳng cần trừ cấu, thì danh ngôn giả tướng cũng chả còn.
Này thiện nam tử! Các vị Bồ Tát và chúng sanh đời mạt pháp, khi thực chứng được huyễn hoá tâm diệt, lúc bấy giờ mới thấy được sự thanh tịnh vô biên của viên giác tâm hiển bầy. Viên giác đã tròn đầy thì huyễn tâm thanh tịnh, huyễn tâm thanh tịnh thì kiến trần thanh tịnh, kiến trần thanh tịnh thì nhãn căn thanh tịnh, nhãn căn thanh tịnh nên nhãn thức thanh tịnh, nhãn thức thanh tịnh thì văn trần thanh tịnh, văn trần thanh tịnh thì nhĩ căn thanh tịnh, nhĩ căn thanh tịnh thì nhĩ thức thanh tịnh, nhĩ thức thanh tịnh thì giác trần thanh tịnh. Thanh tịnh như thế nào…cho đến tỷ, thiệt, thân, ý cũng đều như vậy.
Này thiện nam tử! Vì căn thanh tịnh nên sắc trần thanh tịnh, sắc trần thanh tịnh thì thanh trần thanh tịnh. Hương vị, xúc, pháp cũng lại như vậy.
Này thiện nam tử! 4 đại thanh tịnh, nên 12 xứ, 18 giới, 25 cõi thanh tịnh thì thanh tịnh. Vì các pháp thanh tịnh nên 10 lực, tứ vô sở uý, tứ vô ngại trí, 18 bất cộng pháp, 37 phẩm trợ đạo đều được thanh tịnh. Như thế cho đến 8 muôn ngàn đà la ni môn, tất cả đều thanh tịnh.
Này thiện nam tử! Vì tánh của hết thảy thật tướng pháp đều thanh tịnh, do vậy thân thanh tịnh, một thân thanh tịnh
thì nhiều thân thanh tịnh. Nhiều thân thanh tịnh như thế cho đến 10 phương pháp giới chúng sanh đều là “viên giác thanh tịnh”. Nhiều thế giới thanh tịnh…cho đến suốt cả hư không, tròn khắp 3 đời tất cả đều bình đẳng bất động.
Này thiện nam tử! Hư không bình đẳng bất động, thì tánh viên giác bình đẳng bất động. Bốn đại bình đẳng bất động thì viên giác bình đẳng bất động, như thế cho đến 8 vạn 4 ngàn pháp môn đà la ni đầy khắp pháp giới.
Này thiện nam tử! Tính viên giác đầy khắp thanh tịnh bất động, tròn sáng không giới hạn, thì biết 6 căn đầy khắp pháp giới. 6 căn đầy khắp pháp giới…như thế nào cho đến pháp môn đà la ni đầy khắp pháp giới.
Này thiện nam tử! Vì tính viên giác tròn khắp nên tánh căn, tánh trần không hoại, không tạp. Căn trần không hoại…như thế dẫn đến pháp môn đà la ni chẳng hoại, chẳng tạp. Ví như trăm nghìn ngọn đèn soi chiếu trong 1 căn nhà, ánh sáng toả khắp chẳng hoại, chẳng tạp.
Này thiện nam tử! Đã thành tựu được tính viên giác, thì Bồ Tát chẳng bị pháp buộc, chẳng cầu pháp giải, không nhàm chán sanh tử, chẳng mến niết bàn, không kính người trì giới, chẳng ghét người phá giới, không trọng học lâu, chẳng khinh người mới học. Vì sao thế? Vì tất cả đều có giác tánh. Ví như nhãn quan thấy rõ cảnh tròn khắp mà chẳng có ưa ghét. Vì sao thế? Vì thể minh chiếu chẳng hai, nên chẳng có sự ưa ghét.
Này thiện nam tử! Bồ Tát và chúng sanh đời mạt pháp tu tập tâm này mà được thành tựu thì ở nơi ấy cũng chẳng có tu, cũng chẳng có thành tựu. Viên giác soi khắp tịch diệt không hai. Ở trong số trăm nghìn muôn ức a tăng kỳ thế
giới của Phật như số cát sông hằng chẳng thể đếm hết đều cũng như hoa đốm ở hư không, loạn khởi, loạn diệt, chẳng tức, chẳng ly, chẳng buộc, chẳng mở, mới biết chúng sanh bản lai là Phật, sanh tử, niết bàn cũng như giấc mộng đêm qua.
Này thiện nam tử! Vì đã như giấc đêm qua, nên sanh tử niết bàn chẳng khởi, chẳng diệt, chẳng mất, chẳng qua, chẳng lại. Người chứng được như vậy chẳng tác, chẳng chỉ, chẳng nhậm, chẳng diệt. Trong cảnh chứng ấy, không năng, không sở, rốt ráo chẳng có cảnh chứng, cũng không có người chứng. Vì thế tánh của tất cả pháp là bình đẳng bất hoại.
Này thiện nam tử! Các vị tân học Bồ Tát nên tu hành như thế, thứ lớp như thế, tư duy như thế, trụ trì như thế, phương tiện như thế, cầu pháp như thế thì chẳng mê muội.
Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn muốn lặp lại ý nghĩa này, nên nói kệ rằng:
Phổ Nhãn ông nên biết
Tất cả các chúng sanh
Thân, tâm đều như huyễn
Tướng thân thuộc bốn đại
Tâm tính thuộc sáu trần
Bốn đại thế phân ly
Lấy đâu mà duyên khởi
Thứ lớp tu như vậy
Tất cả đều thanh tịnh
Khắp pháp giới bất động
Không tác, chỉ, nhậm, diệt
Cũng không người năng chứng
Hết thảy thế giới Phật
Như hoa đốm hư không
Ba đời đều bình đẳng
Hoàn toàn chẳng khứ lai
Bồ Tát mới phát tâm
Chúng sanh đời mạt pháp
Muốn cầu vào Phật đạo
Nên như vậy tu hành.
CHÚ THÍCH:
- Khai ngộ: Nói cho đủ là khai trí ngộ lý, tức là phá vỡ vô minh, khiến trí tuệ phát sinh, mới nhận thức được chân lý.
- Chánh tư duy: Suy nghĩ chân chính. Đó là một trong 8 nẻo đường của bát chánh đạo. Chánh tư duy còn có nghĩa rõ biết tư duy như huyễn.
- Mê muội: Mê lầm, phàm phu vì mê nên chấp có ngã. Nhị thừa vì lầm nên chấp có pháp. Chấp ngã nên bị pháp
tướng ngăn che. Cả hai đều bị chướng ngại, không thể ngộ nhập được viên giác.
- Xa ma tha: Trung Hoa dịch là chỉ tịch tịnh. Đó là pháp hạnh tập trung tư duy (Định).
- Duyên khí: duyên là phan duyên, khí là khí phần, có nghĩa là tâm do một phần khí chất ở nơi chân tâm phát ra. Cũng có giải thích: duyên là các duyên, khí là tập trung khí vọng tưởng. Duyên khí chính là do sắc tâm hư vọng do nơi các duyên mà phát ra.
- Duyên tâm: Cái tâm phan duyên sự vật, theo cảnh mà phân biệt.
- Ma ni bảo châu: Trung Hoa dịch là như ý. Ngọc ma ni hàm chứa: thể, tướng, dụng.
- Sắc trần: Trần cảnh thuộc về sắc tướng có thể thấy được. Trần có nghĩa là ô nhiễm. Vì thế cái gì làm ô nhiễm chơn tánh đều gọi là trần.
- 12 xá: gồm 6 căn và 6 trần
- 18 giới: gồm 6 căn, 6 trần và 6 thức.
- 25 hữu: gồm lục dục có 14 hữu, sắc giới có 7 hữu, vô sắc giới có 4 hữu.
- Lục dục có 14 hữu: 4 châu:
1./ Nam thiên bộ châu.
2./ Đông thắng thần châu.
3./ Tây ngưu hoá châu.
4./ Bắc cửu lô châu.
Bốn ác thú là:
5./ Địa ngục.
6./ Ngạ quỷ
7./ Súc sanh.
8./ A tu la
Sáu cõi dục:
9./ Tứ thiên vương thiên
10./ Đao lợi thiên.
11./ Dạ ma thiên.
12./ Đầu suất đà thiên.
13./ Hoá lạc thiên.
14./ Tha hoá tự tại thiên.
Sắc giới có 7 hữu:
15./ Đại phạm thiên (sơ thiền).
16./ Sơ thiền thiên
17./ Nhị thiền thiên
18./ Tam thiền thiên
19./ Tứ thiền thiên.
20./ Tịnh cư thiên (bất hoàn thiên)
21./ Vô tưởng thiên (thuộc tứ thiền).
22./ Không vô biên xứ.
23./ Thức vô biên xứ.
24./ Vô sở hữu xứ.
25./ Phi phi tưởng xứ.
Thập lực: 10 thứ trí lực của Phật:
1./ Thị xứ phi xứ trí lực: Phật biết rõ nhân duyên quả báo một cách như thật. Gây nhân lành được quả báo an vui là thị xứ, tạo nhân ác cầu được quả an vui là phi xứ.
2./ Nghiệp trí lực: Phật biết rõ hành nghiệp của chúng sanh trong 3 đời (thiện, ác và bất động nghiệp).
3./ Định trí lực: Phật biết rõ căn cơ của chúng sanh để tuỳ nghi giáo hoá.
4./ Căn trí lực: Phật biết rõ sự ưa muốn của chúng sanh để tuỳ nghi giáo hoá.
5./ Dục trí lực: Phật biết rõ sự ưa muốn của chúng sanh.
6./ Giới trí lực: Chữ giới có nghĩa là tâm tánh, phần chủng tử ở bên trong của một chúng sinh như tham, sân, si, Phật biết rõ lúc nào có thể độ, người nào có thể độ, người nào không thể độ.
7./ Chí xứ chí lực: Phật biết rõ chỗ nhà của chúng sanh. Hành thiện nghiệp chỗ đến sẽ là nhơn đạo hoặc thiên đạo.
Hành ác nghiệp chỗ đến sẽ là địa ngục, ngạ quỷ hay súc sanh. Hành vô lậu nghiệp chỗ đến sẽ là niết bàn tịch tịnh.
8./ Túc mệnh trí lực: Phật biết rõ việc nhiều đời trước của chúng sanh trong ngàn muôn ức kiếp.
9./ Thiên nhãn trí lực: Phật biết rõ chúng sanh chết kia sanh đây do nghiệp duyên ác gì, thọ quả báo tốt xấu ra sao trải qua hàng trăm ngàn kiếp.
10./ Lậu tận trí lực: Phật biết rõ chúng sanh ai là người lậu tâm vĩnh viễn không còn thọ thân hậu hữu sanh tử.
- Tứ vô sở uý: Tức là 4 thứ tâm hoá thành không sợ sệt. Do được 4 điều này mà Đức Phật không bao giờ có sự sợ sệt khi thuyết pháp giữa đại chúng.
1./ Nhất thiết trí vô uý: Đức Phật thấy hết và biết hết tất cả pháp thế và xuất thế gian.
2./ Lậu tận vô uý: Đức Phật đoạn hết tất cả phiền não mà tâm không một chút sợ sệt.
3./ Thuyết chướng đạo vô uý: Phật biết rõ, nói rõ, dậy rõ về những hoặc nghiệp, khổ…các pháp chướng đạo.
4./ Thuyết tận khổ đạo vô uý: Phật biết rõ, nói rõ, dậy rõ về những phương pháp diệt khổ.
- Tứ vô ngại trí: 4 thứ trí tuệ, đối cảnh ứng cơ không bị chướng ngại. Đứng về mặt ý nghiệp gọi là giải, đứng về mặt khẩu nghiệp gọi là biện.
1./ Pháp vô ngại: Đối với tất cả các pháp hoặc danh hoặc tướng đều rõ biết và nói được hết.
2./ Nghĩa vô ngại: Tất cả thật nghĩa của các pháp đều rõ biết và nói được hết.
3./ Từ vô ngại: Đối với ngôn ngữ ứng dụng cho từng địa phương thảy đều thông suốt.
4./ Nhạo thuyết vô ngại: Do có đủ 3 vô ngại trên mà Đức Phật thuyết pháp tự tại vui vẻ không bị chướng ngại.
- Mười tám bất cộng pháp: 18 bất cộng pháp này chỉ Phật mới có. Hàng nhị thừa và Bồ Tát không thể cùng có. Do vậy mới có bất cộng.
1./ Thân vô thất: Đức Phật từ vô lượng kiếp đến nay, thường dùng giới, định, huệ và từ bi để tu thân tướng. Công đức ấy được viên mãn, phiền não đều dứt sạch nên gọi là thân vô thất.
2./ Khẩu vô thất: Phật có vô lượng trí tuệ biện tài nên khi thuyết pháp đều tuỳ căn cơ của chúng sanh mà khiến họ được tỏ ngộ, nên được gọi là khẩu vô thất.
3./ Niệm vô thất: Đức Phật tu các pháp thiền định đến rốt ráo vi diệu. Đối với các pháp, tâm không ô nhiễm, được sự an ổn của đệ nhất nghĩa đế, nên gọi là niệm vô thất.
4./ Vô dị tưởng: Đức Phật bình đẳng độ chúng sanh, tâm không lựa chọn nên gọi là vô dị tưởng.
5./ Vô bất định tâm: Bốn oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi của Phật luôn luôn ở trong định, nên gọi là vô bất định tâm.
6./ Vô bất tri dĩ xả: Đối với tất cả các pháp, Đức Phật hiểu biết tường tận. Dùng trí tuệ chiếu soi biết pháp nào
nên xả thì xả, không khi nào biết mà xả, nên gọi là vô bất tri dĩ xả.
7./ Dục vô diệt: Đức Phật đầy đủ các pháp lành, luôn độ cho chúng sanh mà tâm không bao giờ nhàm chán cho là đủ, mà gọi là dục vô diệt.
8./ Tinh tấn vô diệt: Thân, tâm của Phật luôn luôn tinh tấn, không bao giờ dừng nghĩ, nên gọi là tinh tấn vô diệt.
9./ Niệm vô diệt: Phật luôn luôn nghĩ nhớ chúng sanh để độ cho họ được vào cảnh giới niết bàn nên gọi là niệm vô diệt.
10./ Huệ vô diệt: Phật đầy đủ trí huệ không giới hạn, không cùng tận nên gọi là huệ vô diệt.
11./ Giải thoát vô diệt: Đức Phật xa lìa tất cả chấp trước, đầy đủ hai thứ giải thoát: hữu vi và vô vi giải thoát. Hữu vi giải thoát là sự giải thoát tương ứng với trí tuệ vô lậu. Vô vi giải thoát là sạch hết tất cả phiền não, nên gọi là giải thoát vô diệt.
12./ Giải thoát tri kiến vô diệt: Phật đối với tất cả pháp giải thoát thấy biết rõ ràng, phân biệt vô ngại, nên gọi là giải thoát tri kiến vô diệt.
13./ Nhất thiết thân nghiệp tuỳ trí tuệ hành: Thân nghiệp của Phật hành động theo sự điều khiển của trí tuệ mà diễn nói tất cả các pháp, nên gọi là nhất thiết thân nghiệp tuỳ trí huệ hành.
14./ Nhất thiết khẩu nghiệp tuỳ trí huệ hành: Trí huệ của Phật, phát ngôn theo sự điều khiển của trí huệ mà vận
chuyển hoá độ lợi ích chúng sanh, nên gọi là nhất thiết khẩu nghiệp tuỳ trí huệ hành.
15./ Nhất thiết ý nghiệp tuỳ trí huệ hành: Ý nghiệp của Phật luôn luôn thanh tịnh xuất từ trí huệ mà vận chuyển vào tâm tư chúng sanh nên gọi là nhất thiết ý nghiệp tuỳ trí huệ hành.
16./ Trí huệ tri quá khứ vô ngại: Phật dùng trí huệ biết tất cả pháp chúng sanh hoặc phi chúng sanh về quá khứ không bị chướng ngại.
17./ Trí huệ tri hiện tại vô ngại: Phật dùng trí huệ biết tất cả chúng sanh pháp hoặc phi chúng sanh pháp trong hiện tại không bị chướng ngại.
18./ Trí huệ tri vị lai vô ngại: Phật dùng trí huệ biết tất cả chúng sanh pháp hoặc phi chúng sanh pháp ở vị lai mà chẳng chướng ngại.
- BA MƯƠI BẨY PHẨM TRỢ ĐẠO: Chữa phẩm có nghĩa là pháp, cũng có nghĩa là loại, là món. Trợ có nghĩa là phụ giúp vào. Vậy 37 phẩm này là những pháp trợ lực cho chánh đạo. Muốn thành tựu đạo Bồ Đề cần phải dùng 37 pháp này để trợ giúp vào mới mong đạt kết quả. Gồm có:
- Tứ niệm xứ: có 4.
- Tứ chánh cần: có 4.
- Tứ như ý túc: có 4.
- Ngũ căn: có 5.
- Ngũ lực: có 5.
- Thất giác chi: có 7.
- Bát chánh đạo: có 8.
Tổng cộng: 37 phẩm.
+ Tứ niệm xứ gồm có:
1./ Thân niệm xứ: quán thân bất tịnh.
2./ Thọ niệm xứ: quán thọ thì khổ.
3./ Tâm niệm xứ: quán tâm vô thường.
4./ Pháp niệm xứ: quán pháp vô ngã.
+ Tứ chánh cần: Một lòng tinh tấn thực hành 4 pháp này gọi là tứ chánh cần, gồm có:
1./ Đối với việc ác đã sanh, phải siêng năng diệt trừ. ( Dĩ sanh ác linh vĩnh đoạn như tật tật bệnh).
2./ Đối với việc ác chưa sanh, phải siêng năng khiến cho không sanh. ( Vị sanh ác, linh bất sanh, như phòng hoả tai).
3./ Đối với việc thiện chưa sanh: phải siêng năng khiến cho sanh. ( dĩ sanh thiện, linh tăng trưởng, như bồi hoả mộc).
4./ Đối với việc thiện đã sanh, phải siêng năng khiến cho tăng trưởng. ( vi sanh thiện, linh tốc sanh, như quán chủng tử).
+ Tứ như ý túc: Tứ niệm xứ là tu về trí huệ. Tứ chánh cần tu về chánh tinh tấn. Như vậy tinh tấn và trí tuệ được tăng trưởng nhưng định lực còn yếu. Do đó cần thêm 4 thứ
định để nhiếp tâm, thì định và huệ ngang nhau, mới đạt được như ý, nên gọi là như ý túc. Gồm có:
1./ Dục như ý túc: Dục có nghĩa là mong muốn. Ở nơi gia hạnh vị mà khởi ra định, nương nhờ sức của dục dẫn phát mà khởi ra Dục như ý túc.
2./ Tinh tấn như ý túc: Ở nơi gia vị hạnh nhất tâm chuyên tu, nhờ sức của tâm nên dịch được dẫn phát khởi ra Nhất Tân Như Ý Túc.
3./ Nhất tâm như ý túc: Ở nơi gia vị hạnh nhất tâm chuyên tu, nhờ sức của tâm nên dịch được dẫn phát khởi ra Nhất Tân Như Ý Túc.
4./ Quán như ý túc: Ở nơi gia vị hạnh, quán sát chơn lý, nhờ nới sức quán dẫn phát mà khởi ra Quán Như Ý Túc.
+ Ngũ căn: Căn có nghĩa là năng sanh và tăng trưởng. Ngũ căn có 2 loại: 1 là căn của ngũ thức. 2 là căn của tín. Ở đây thuộc loại thứ 2.
1./ Tín căn: Tín căn Tam Bảo.
2./ Tấn căn: Dũng mãnh tu theo thiện pháp.
3./ Niệm căn: Ghi nhớ chánh pháp.
4./ Định căn: Tâm chuyên chú ở một cảnh mà không bị dao động.
5./ Huệ căn: Tư duy chân chánh.
Năm pháp này là nguồn gốc sanh ra tất cả thiện pháp khác, nên gọi là ngũ căn.
+ Ngũ lực: Do ngũ căn tăng trưởng tạo thành năng lực đối trị lại ngũ chướng gọi là ngũ lực. Gồm có:
1./ Tín lực: Tín căn tăng trưởng có năng lực phá trừ các tà tín.
2./ Tấn lực: Tấn căn tăng trưởng có năng lực diệt trừ sự giải đãi của thân.
3./ Niệm lực: Niệm căn tăng trưởng có năng lực phá trừ tà niệm.
4./ Định lực: Định căn tăng trưởng có năng lực phá trừ loạn tưởng.
5./ Huệ lực: Huệ căn tăng trưởng có năng lực phá trừ “hoặc” trong tam giới.
+ Thất giác chi: Thất giác chi, đôi khi cũng có tên gọi là thất Bồ Đề phần hay thất giác phần. Chữ giác ở đây phải được hiểu là giác liễu hay giác sát ( rõ biết hay xét biết). Pháp này chia làm 7 phần (chi) là:
1./ Trạch pháp giác chi: Dùng trí huệ để lựa chọn các pháp chân thật và hư giả.
2./ Tinh tấn giác chi: Dùng sức mạnh nội tâm viễn ly hạnh tà để tu pháp chơn.
3./ Hỷ giác chi: Tâm được pháp lành sanh hoan hỉ.
4./ Khinh an giác chi: Tâm được nhẹ nhàng, an ổn và thư thái, sau khi đã tận diệt sự day rứt của thân tâm.
5./ Niệm giác chi: Nhớ nghĩ minh bạch nơi định và huệ không để quên mất, khiến định và huệ được quân bình.
6./ Định giác chi: Dùng định lực để tâm trụ ở một cảnh không bị tán loạn.
7./ Hành xả giác chi: Xả bỏ hết thảy các pháp, giữ tâm thanh thản, không hoài niệm những cảnh đã qua. Đây chính là tâm sở thuộc về hành uẩn gọi là hành xả.
Hành giả nương theo 7 pháp này mà thực hành năng chứng quả vô học.
+ Bát chánh đạo: 8 nẻo đường chân chính.
1./ Chánh kiến: Thấy biết chân chánh. Liễu được lý Tứ Đế nhờ dùng huệ vô lậu làm thể. Huệ được xem như là trụ cột của bát chánh đạo vậy.
2./ Chánh tư duy: Suy nghĩ chân chánh, thấy được chân lý Tứ Đế còn phải tư duy để cho chân trí tăng trưởng. Dụng tâm vô lậu làm thế.
3./ Chánh ngữ: Nói lời chân chánh, dụng chân trí để tu khẩu nghiệp, lấy giới vô lậu làm thể.
4./ Chánh nghiệp: Hành động chân chánh. Dùng chân trí loại bỏ những hành động không chân chánh, an trụ nơi thân nghiệp thanh tịnh, lấy giới vô lậu làm thể.
5./ Chánh mệnh: Mạng sống chân chánh tức giữ cho thân, khẩu, ý được thanh tịnh, thuận theo chánh pháp, viễn ly pháp tà mệnh, lấy giới vô lậu làm thể.
6./ Chánh tinh tấn: Siêng năng chân chánh, lấy dụng chân trí tu đạo niết bàn, dụng cần vô lậu làm thể.
7./ Chánh niệm: Nhớ nghĩ chân chánh, dụng chân trí nhớ nghĩ chánh đạo, xua đuổi tà niệm, tạp niệm xen vào, lấy niệm vô lậu làm thể.
8./ Chánh định: Thiền định chân chánh, dụng chân trí để nhập thiền định vô lậu, lấy định vô lậu làm thể.
+ A Tăng Kỳ: Trung Hoa dịch là vô số.
+ Tám muôn bốn ngàn môn đà la ni: Đà la ni Trung Hoa dịch là tổng trì, có nghĩa là ở trong mỗi một pháp môn tóm giữ được tất cả pháp. Do có 84 ngàn phiền não trần lao mà có pháp đối trị lại là 84 ngàn môn đà la ni.
+ Tánh diệu giác: Giác hạnh viên mãn một cách rốt ráo vi diệu.
+ Căn tánh: Tánh của căn. Nguồn gốc xuất sanh khí lực gọi là căn. Tập quán của thiện ác gọi là tánh.
+ Trần tánh: Tánh của Trần. Hết thảy pháp trong thế gian gọi là trần, bản chất ô nhiễm gọi là tánh.
LƯỢC GIẢI:
Con đường Tri Lý là con đường trực chỉ đến quả vị Phật. Con đường này không theo một lộ trình vạch sẵn, mà chỉ cần “liễu ngộ nhất tâm”. Biết huyễn tức ly, không cần phương tiện, ly huyễn tức giác chẳng cần thứ lớp. Như vậy con đường này chỉ dành cho những đại sĩ pháp thân mới đủ khả năng liễu đạt được. Còn hàng tân học Bồ Tát khó mà theo kịp. Với lại những chúng sanh mang cặp kính màu làm sao với tới. Đứng trước một vấn đề nan giải, Bồ Tát Phổ Nhãn dùng pháp nhãn quán sát căn tánh của chúng sanh, sót thương kẻ tân học nên mở lời thưa thỉnh cầu Phật giả
thuyết phương tiện để khai ngộ cho hàng tân học Bồ Tát và chúng sanh trong đời mạt pháp nhờ đó mà có thể hạ thủ công phu, ngộ nhập viên giác.
Có thể tóm y lời thưa của Bồ Tát Phổ Nhãn như sau:
  1. Bồ Tát phải tư duy như thế nào?
  2. Bồ Tát phải trụ trì như thế nào?
  3. Những chúng sanh chưa ngộ phải dùng phương tiện gì khiến cho hết thảy đều khai ngộ?
Sau lời thỉnh pháp bằng một nghi thức thông lệ của Bồ Tát Phổ Nhãn, Đức Thế Tôn hứa khả, rồi Ngài bắt đầu khai thị.
Này thiện nam tử! “ Hàng tân học Bồ Tát và chúng sanh trong đời mạt pháp, muốn cầu tâm viên giác thanh tịnh Như Lai thì cần phải chánh niệm, mới xa lìa được huyễn tâm. Trước hết phải y theo hạnh Xa Ma Tha của Phật, nghiêm trì cấm giới cùng với chư vị pháp lữ, sắp xếp đồ đệ, ở yên nơi tịnh thất toạ thiền”.
Muốn cầu tâm viên giác thanh tịnh, trước hết phải nhận bằng cửa ngõ tư duy chánh niệm. Có chánh niệm mới viễn ly được huyễn. Chánh niệm tức là ly niệm. Từ đó y cứ vào pháp hạnh Xa ma tha, pháp hành tập trung tư duy mà nghiêm trì giới luật cùng chung với pháp lữ, ở yên nơi tịnh thất toạ thiền. Như vậy là cụ túc an lạc hành. Phương pháp này chính là con đường tam vô lậu học ( giới, định, huệ). Phải nhận thức được rằng tánh không nhiễm gọi là giới. Việt định là chánh định, liễu tri thật tướng pháp là huệ. Hội đủ điều kiện này, hành giả mới đủ khả năng tư duy quán niệm về thân, tâm mà không sanh giác quán.
Bồ Tát phải tư duy thế nào?
Đức Phật khai thị có 2 pháp tư duy: tư duy thân không và tư duy tâm không. Tư duy thân, Đức Phật khai thị: “ Thân thể của ta đây chỉ là sự tập hợp 4 đại chủng, những gì “cố thế” thì thuộc về đất, những gì “dịch thể” thì thuộc về nước, những gì “nhiệt lực” thì thuộc về lửa, những gì “động lực” thì thuộc về gió. Khi cả 4 đại chủng ấy chia lìa nhau thì chẳng có gì gọi là thân cả. Suy nghĩ như vậy mới biết thân này rốt ráo chẳng có tự thể, do hoà hợp các duyên mà thân tướng. Như vậy thân này chỉ là huyễn hoá, là tánh không”.
Lời dậy đó dụng theo pháp từ tổng hợp đến phân tích. Thử đem thân thể của một cá nhân để quan sát toàn bộ, ta thấy rõ thân thể chỉ là sự tổ hợp của 4 đại chủng. Những gì cố thể thuộc về đất, những gì dịch thể thuộc về nước, những gì nhiệt lực thuộc về lửa, những gì động lực thuộc về gió. Như vậy toàn bộ cơ thể là do tổ hợp của 4 đại chủng mà có. Khi 4 đại chủng ấy chia lìa thì chẳng có gọi là thân. Do vậy thân hoàn toàn chẳng có tự thể, nên khi 4 đại chủng ly tán, thì thân tán hoại. Tư duy như vậy mới thấy rõ thực chất thân này cũng chỉ là hư huyễn, là tánh không.
Tư duy tâm, Đức Phật dậy:
“ Do vì 4 đại chủng duyên hợp mà vọng có lục căn. Lục căn 4 đại trong ngoài hoà hợp vọng có duyên tướng: giả lập gọi là tâm.
Tâm hư vọng này nếu ly 6 trần thì chẳng có chỗ trú và 4 đại phân chia thì cũng chẳng có 6 trần. Thế thì duyên trần chẳng có, mà tâm duyên chẳng còn”.
Đây là pháp quán tâm không. Tâm ở đây chỉ cho đệ lục ý thức trong duy thức học. Sáu thức, 6 căn, 6 trần đối nhau mà khởi: nhưng nếu không có 6 trần là sở duyên tức không thể có cái tâm năng duyên. Nếu quán sát 6 trần thì cũng do tứ đại hợp thành. Khi tứ đại tan rã thì trần kia cũng tán hoại, và như vậy, cái tâm năng duyên cũng không thể tồn tại được. Nói cách khác, 6 căn, 6 trần, 6 thức và cả 4 đại đều chỉ là sự tương quan tổ hợp, không thật. Đã không thật tất nhiên cái tâm này chỉ là tâm huyễn. Tư duy như vậy mới thấy rõ thực chất tâm này cũng chỉ là như huyễn.
Bồ Tát phải trụ trì như thế nào?
Đức Phật khai thị: Này thiện nam tử! Thân huyễn hoá của chúng sanh diệt. Tâm huyễn hoá của chúng sanh diệt, tâm huyễn hoá cũng diệt. Tâm huyễn hoá diệt thì trần huyễn hoá diệt. Trần huyễn hoá diệt thì các huyễn hoá diệt cũng diệt. Huyễn hoá diệt đã diệt thì cái phi huyễn bất diệt.
Khi đã quán thân “vô thể” tức là đồng với huyễn hoá, rồi an trụ nhậm trì trong cảnh như huyễn, lúc ấy thì huyễn thân không còn, tức là “huyễn thân diệt”. Tâm năng lại duyên gá nơi huyễn thân mà có. Nên khi huyễn thân diệt, thì huyễn tâm cũng diệt. Huyễn thân, huyễn tâm đã diệt thì năng đối không còn, lục trần sở đối đương nhiên phải diệt, thì huyễn trần, “sở quán” và “sở diệt” đã diệt thì huyễn diệt. Thế thì một pháp cũng chẳng tạo lập và cả tướng pháp cũng không. Xem vậy cũng đủ rõ lớp lớp diệt huyễn, nhịp nhịp trụ trì. Huyễn diệt đã diệt lồ lộ chân pháp uyên nguyên.
Nói cách khác, khi huyễn diệt rồi tất nhiên còn lại cái “phi huyễn”, ấy là tánh viên giác chân thường bất diệt.
Tánh viên giác bản lai vốn thanh tịnh sáng ngời, nhưng vì huyễn che lấp nên không hiển hiện được. Khi viễn ly tất cả các huyễn, thì tánh viên giác thuần là minh linh, hư diệu. Tương tự như lau gương, do bẩn lau hết, thì thể sáng do gương hiện ra. Xét cho cùng chẳng phải lau gương mà thực chất lau cái dơ bẩn. Vì thế gương trước sau như một.
Cũng như vậy, viên giác phi huyễn thể vốn chân thường trong sáng. Do vô minh vọng chấp huyễn ngã, huyễn pháp nên thể viên giác ẩn mặt.
Đến lúc ngã diệt, pháp diệt, huyễn diệt cũng diệt luôn, thì tánh  giác viên giác thường trụ hiển bầy, bất diệt trong sáng. Nên biết thân, tâm đều là huyễn cấu, tướng cấu. Khi huyễn cấu, tướng cấu đã diệt, thì tất cả các cấu 10 phương đều trong sáng, đó là ý nghĩa “Ly huyễn tức giáo”. Như vậy Bồ Tát phải trụ trì ở nơi viên giác. Khi đã trú nơi viên giác thì thấy hết thảy các pháp đều thanh tịnh, cho đến tất cả đều bình đẳng.
  • Thấy các pháp thế gian và xuất thế đều thanh tịnh (sự vô ngại). Viên giác đã tròn đầy thì huyễn tâm thanh tịnh, huyễn tâm thanh tịnh thì kiến trần thanh tịnh…như thế cho đến 8 muôn 4 ngàn đà la ni môn, tất cả đều thanh tịnh.
  • Thấy các pháp y báo, chánh báo đều thanh tịnh. Vì tánh của hết thảy đều thanh tịnh, do vậy thân thanh tịnh. Một thân thanh tịnh thì nhiều thân thanh tịnh. Nhiều thân thanh tịnh như thế cho đến 10 phương chúng sanh đều viên giác thanh tịnh.
  • Một thế giới thanh tịnh thì nhiều thế giới thanh tịnh…cho đến suốt cả hư không tròn khắp ba đời đều thanh tịnh.
  • Thấy các pháp đều bất động ( lý vô ngại). Hư không bình đẳng bất động thì tánh viên giác bình đẳng bất động. Bốn đại bình đẳng bất động thì tánh viên giác bình đẳng bất động. Như thế cho đến 8 vạn 4 ngàn pháp môn đà la ni bình đẳng bất động, thì tánh viên giác bình đẳng bất động.
  • Thấy các pháp đều phổ biến (sự lý vô ngại).
  • “Tánh viên giác đầy khắp thanh tịnh bất động, tròn sáng không giới hạn, thì biết 6 căn đầy khắp thế giới…như thế cho đến pháp môn đà la ni khắp thế giới”.
  • Thấy các pháp đều viên dung (sự sự vô ngại).
  • “ Vì tánh viên giác tròn đầy tánh căn tánh trần không hoại…như thế dẫn đến pháp môn đà la ni chẳng hoại chẳng tạp.
  • Thấy các pháp đều bình đẳng (vô phân biệt trí). “Bồ Tát” và chúng sanh đời mạt pháp tu tập tâm này mà được thành tựu, thì ở nơi ấy chẳng thấy có tu, cũng chẳng thấy có thành tựu. Viên giác soi khắp tịch diệt không hai. Niết bàn chẳng khởi, chẳng diệt, vô khứ, vô lai. Nơi cảnh sở chứng chẳng được chẳng mất, chẳng lấy chẳng bỏ. Người chứng được như vậy chẳng tác, chẳng chỉ, chẳng nhậm, chẳng diệt. Trong cảnh chứng ấy không năng, không sở, rốt ráo chẳng có cảnh chứng, cũng không có người chứng. Vì thể tánh của tất cả pháp đều bình đẳng bất hoại.
Điều cần ghi nhận ở đây là khi đã trú ở viên giác thì thấy hết thảy các pháp đều thanh tịnh, cho đến tất cả đều bình đẳng. Các pháp thanh tịnh cho đến bình đẳng chẳng tuân theo một diễn trình thứ tự chủng loại, bởi lẽ nhiều pháp thanh tịnh, thì một pháp thanh tịnh, một pháp thanh
tịnh thì nhiều pháp thanh tịnh. Một pháp bình đẳng thì nhiều pháp bình đẳng, nhiều pháp bình đẳng thì một pháp bình đẳng…Đó chính là lối nhận thức một là tất cả, tất cả là một.
Những chúng sanh chưa ngộ phải dùng phương tiện gì khiến cho hết thẩy đều được khai ngộ?
Đức Phật khai thị một cách ngắn gọn:
“Chúng sanh đời mạt pháp muốn cầu vào Phật đạo, nên như vậy tu hành”
Qua lời khai thị đó, ta thấy rõ: Hãy đem phương tiện thứ tự mà truyền đạt cho tha nhân.
Truyền đạt như thế khiến cho họ tiếp thu được như thế. Đó chính là phương tiện để “ Ngộ nhập viên giác”.
PHẦN THỰC TẬP:
Qua đoạn Kinh đã được nghe giảng, thử trình bầy về hai cách quán thân và tâm. Từ đó nhận định như thế nào về pháp quán thân và tâm của hàng nhị thừa.
/14
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »