Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Phương Quảng Viên Giác Kinh

Đại Phương Quảng Viên Giác Kinh

Tác giả: Hòa Thượng Pháp Sư - Thích Thiện Trí. Năm xuất bản: 2016. Số trang: 155.

Chương 1: Lời Nói Đầu (Trang 1 - 8)

LỜI NÓI ĐẦU
 
Kinh Viên Giác là một bộ Kinh viên mãn cứu cánh liễu nghĩa. Vì liễu nghĩa nên chỉ có bậc thượng căn thượng trí mới có khả năng lãnh hội được. Nó không theo một chuỗi suy luận qua từng đoạn trường Kinh viện để từ đó đi đến một hệ luận tất yếu mà được coi như tuệ giác viên mãn.
Tuệ giác viên mãn được thành tựu nương vào chánh định, là nơi an trú của chư Phật, cũng là chỗ thanh tịnh sáng suốt của chúng sanh. Vì Phật và chúng sanh vốn đồng nhất thể. Chính ở thế giới thanh tịnh này mà tâm và cảnh đều vắng lặng, nghĩa là ngã và pháp đều không. Do vậy mà phần Kinh văn trong Phẩm Tựa đã nêu rõ: Đức Thế Tôn hiển bầy những đức tướng quang minh vi diệu, hợp với thể tánh bình đẳng (bất nhị) của 10,000 Đại Sĩ mà biểu trưng là 12 hạnh ứng tứ một tánh duy nhất. Động niệm dấy lên từ tự tánh cũng chỉ là những dòng chuyển hoá nổi trôi bềnh bồng của khả năng tư duy trong thế giới hữu lượng. Thân và tâm được cấu tạo bởi năm uẩn cũng chỉ là lớp phù vân hư ảo bay lượn trong bầu trời tự tánh. Nhưng xét cho cùng thì tự tánh cũng chẳng nằm ngoài vô minh, ngoài vô minh chẳng có tự tánh. Đó là điểm căn bản để liễu nghĩa được Viên Giác. Vì Vô Minh là Tánh Không, là như huyễn, là bình đẳng tánh trí.
Đứng về thể mà nói thì Viên Giác thanh tịnh không có vấn đề tu, chứng. Nhưng đứng về dung thì phải cần đến thì Viên Giác thanh tịnh không có vấn đề tu, chứng, phải có phương pháp hành trì thứ lớp mới được Viên Giác. Hành giả phải chuẩn bị tư lương, sửa soạn hành trang để bước vào thế giới viên mãn, thế giới của vô niệm, vô trú, vô xử mà dụng vô sở đắc hiện hành thiện pháp…
 
---- Thích Thiện Trí ----
ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG VIÊN GIÁC KINH
 
I . NGUỒN GỐC BỔN KINH
A. VẤN ĐỀ PHIÊN DỊCH:
Đa số Kinh Phật được dịch từ Phạn văn sang Trung văn. Dịch giả Kinh này Ngài Giác Cửu (Phật Đà La Đa La), người ở Kế Tân (Yết Thấp DiLa), đến Trung Hoa dịch Kinh này vào giữa thế kỷ thứ 7.
B. CÁC BỘ PHÁI CHÚ GIẢI:
Có 3 bộ phái chú giải Kinh này: HIỀN THỦ, THIÊN THAI, THIỀN TÔNG.
  • Ngài HIỀN THỦ nương theo ngũ giáo để giải thích.
  • Ngài THIÊN THAI dùng ngữ thới bát giáo để giải thích.
  • THIỀN TÔNG trực chỉ vào bổn Kinh mà giải.
II. LƯỢC GIẢI ĐỀ TÀI KINH:
Đầu đề tài Kinh này là: “ ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG VIÊN GIÁC TUDALA LIỄU NGHĨA KINH”
  • Đại phương quảng : Cực kỳ cao rộng.
  • Viên giác: viên là viên mãn, nghĩa là tròn đầy, Giác tức là bồ đề.
  • Viên giác là tuệ giác viên mãn (tròn đầy). Nói cách khác Viên Giác là gồm cả bản giác, thị giác và cứu cánh giác. Có nghĩa là cái biết căn bản, cái biết khởi đầu, cái biết rốt ráo.
  • Tudala dịch là Kinh hay Khế Kinh. Đó là phân biệt giữa luật và luận.
  • Liễu nghĩa Kinh: Kinh có nghĩa lý rốt ráo, rõ ràng minh bạch.
Còn nghĩa lý mơ hồ không rõ gọi là bất liễu nghĩa. Kinh Viên Giác thuộc loại Kinh liễu nghĩa.
Tóm lại: “ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG VIÊN GIÁC TUDALA LIỄU NGHĨA KINH” nghĩa là Kinh Viên Giác, là Kinh cực kỳ cao rộng, có nghĩa là lý rốt ráo rõ ràng minh bạch, trong các Kinh thuộc loại “ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG”
III. PHÂN CHIA NỘI DUNG:
Có thể tạm thời chia làm 3 phần:
a./ Phần mở (phần tự).
b./ Phần nội dung (từ chương 1 đến chương 11).
ở phần này 6 chương đầu từ chương Văn Thù đến chương Thanh Tịnh Huệ là phần chủ yếu, những chương còn lại là phần bổ túc.
c./ Phần kết (chương 12).
ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG VIÊN GIÁC KINH
(Đời Đường nước Kế Tân, Sa môn Phật Đà La Đa La dịch ra tiếng Trung Hoa).
PHẦN TỰ
DỊCH NGHĨA:
Tôi nghe như vậy, một thời Đức Bà Già Bà nhập “THẦN THÔNG ĐẠI QUANG MINH TẠNG CHÁNH THỌ” là nơi quang nghiêm trú trì thâm tâm an định, bổn chánh bình đẳng chu khắp 10 phương.
Từ cảnh giới bất nhì xuất sanh các cõi tịnh độ cùng chư Đại Bồ Tát Ma Ha Tát cả thảy mười muôn cùng nhau dự hội. Trong đó có các vị như: Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Phổ Nhãn Bồ Tát, Kim Cang Tạng Bồ Tát, Oai Đức Tự Tại Bồ Tát, Viên Giác Bồ Tát, Hiền Thiện Bồ Tát…đều là những bậc thượng thủ cùng với quyến thuộc nhập tam muội, đồng ở pháp hội bình đẳng của Như Lai.

CHÚ THÍCH:
  • Bà Già bà: phạm âm có chỗ gọi là Bà Già Phạm, Bạc Già Phạm, Trung Hoa dịch là Thế Tôn.
  • Thần Thông Đại Quang Minh Tạng: Thấu suốt chẳng thể nghĩ bàn gọi là thần, tự tại vô ngại gọi là thông. Thần thông tiêu biểu cho “Đức giải thoát”
  • ĐẠI QUANG MINH tức là trí tuệ.
  • Tạng chỉ cho thể pháp tánh chơn như bình đẳng, nơi mà tất cả pháp đồng nương.
  • Tam muội: Trung Hoa dịch là chánh thọ. Ở đây nói tam muội chánh thọ tức là gộp chung cả Phạm âm lẫn Hoa âm.
Quang nghiêm trụ trì: Quang nghiêm chỉ cho trí tuệ của Phật. Phật dùng Quang Minh để trang nghiêm, gọi là quang nghiêm. Trụ là thường trụ trong cảnh “Bất Trụ”. Trì
  • là giữ cho không mất, tức là an trụ, nhậm trì tự tại chẳng lay động.
  • Giác địa thanh tịnh: cũng gọi là viên giác tâm, là Phật tánh, thường trụ chân tâm.
  • Bất dị: không hai, chỉ cho lý nhất thật, như như bình đẳng.
LƯỢC GIẢI:

Đây là phần mở đầu của bộ Kinh. Với một số lớn Kinh khác, vị trí tuyên thuyết thường được xác định. Riêng Kinh này Phật tuyên thuyết ở cảnh giới tịnh độ (được biểu hiện ở Tam muội).
Đó là nét đặc trưng của thế giới trong sạch, không có hạng lượng, nên bất cứ ở đâu, ở nơi nào, thời nào cũng đều là tịnh độ cả.
Nên biết giữa tịnh và uế chẳng có lằn ranh. Nói cách khác uế và tịnh cũng chỉ là một.
Thí như tất cả nước đục, trong, dơ, sạch của sông ngòi đều chảy về và chứa đựng giữa lòng đại dương. Nếu chúng sanh nào vứt bỏ được cặp kính màu của nghiệp báo thì mới thấy rõ điều này.
Kinh Viên Giác chủ thể là Phật, khách thể là chư vị Đại sĩ Bồ Tát. Điều đó đủ nói lên rằng: chỉ có hàng thượng căn thượng trí mới có đủ khả năng lãnh hội được cái “siêu thể viên dung” của toàn bộ Kinh văn.
Mười hai Đại Sĩ, qua danh tánh của các Ngài, biểu trưng cho 12 hạnh, thuộc phạm trù đức dục, theo diễn trình như sau:
  • VĂN THÙ SƯ LỢI: Biểu trưng cho trí (trí và đức thâm sâu vi diệu).
  • PHỔ HIỀN BỒ TÁT: Tượng trưng cho hạnh (đức và hạnh đầy khắp pháp giới).
  • PHỔ NHÃN BỒ TÁT: Biểu trưng cho sự nhìn thấy rộng (sự lý dung thông vô ngại).
  • KIM CANG LẶC BỒ TÁT: Biểu trưng cho ý chí kiên cường (ý chí bất hoại như cang).
  • DI LẶC BỒ TÁT: Biểu trưng cho tâm thức diệu dụng (thấy suốt nguồn gốc sanh tử).
  • THANH TỊNH HUỆ BỒ TÁT: Biểu trưng cho biện tâm vô trụ, vô trước (nhận rõ các pháp như hư không).
  • UY ĐỨC TỰ TẠI BỒ TÁT: Biểu trưng cho sức mạnh nội tâm (uy đức lớn chinh phục ma quân).
  • BIỆN ÂM BỒ TÁT: Biểu trưng cho biện tài vô ngại (dùng âm thanh vô ngại biện tài).
  • TỊNH CHỦ NGHIỆP CHƯỚNG BỒ TÁT: Biểu trưng cho nghị lực đoạn trừ hoặc chướng (đoạn trừ tam chướng).
  • PHỔ GIÁC BỒ TÁT: Biểu trưng cho sức mạnh nội trạch pháp (phương trừ bệnh).
  • VIÊN GIÁC BỒ TÁT: Biểu trưng sự giác ngộ viên mãn (trí giác viên mãn).
  • HIỀN THIỆN THỦ BỒ TÁT: Biểu trưng cho sự trì thuận, sự chứng đắc (hiền và thiện tuỳ thuận).
Diễn trình trên đây được xem như một hệ luận tất yếu một tiến trình liên tục xuyên suốt cả tâm lẫn cảnh để thể nhận tuệ giác viên mãn.
Đây có thể là dụng ý thâm sâu vi diệu của Kinh, ngay trong phần mở đầu của thời viên giác này.
PHẦN THỰC TẬP: hãy phân tích và bình giảng câu: “Như vậy, tôi nghe một thời” theo nghĩa trung đạo đế.
/14
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »