Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Phương Quảng Viên Giác Kinh

Đại Phương Quảng Viên Giác Kinh

Tác giả: Hòa Thượng Pháp Sư - Thích Thiện Trí. Năm xuất bản: 2016. Số trang: 155.

Chương 5: Chương Kim Cang Tạng (Trang 51 - 61)

CHƯƠNG KIM CANG TẠNG

 
DỊCH NGHĨA:
Lúc bấy giờ Bồ Tát Kim Cang Tạng, ở giữa đại chúng,  rời chỗ ngồi đứng dậy, đến đảnh lễ dưới chân Phật, đi quanh bên hữu 3 vòng, rồi quỳ thẳng chắp tay mà tác bạch.
Bạch đấng đại bi Thế Tôn! Ngài đã khéo vì chư vị Bồ Tát và chúng sanh mà tuyên dương đại tổng trì viên giác là pháp hành căn bản sơ khai của Như Lai, và chỉ dạy phương tiện thứ lớp, khiến cho trong pháp hội này vâng lãnh huấn dụ từ bi của Ngài mà huyễn mạng tiêu tan, mắt huệ sáng tỏ.
Bạch Đức Thế Tôn! Nếu chúng sanh bản lai là Phật thì sao lại có vô minh? Nếu vô minh là chúng sanh vốn có, thì sao Như Lai lại nói chúng sanh bản lai là Phật? Nếu 10 phương “Dị sanh” vốn đã là Phật, rồi sau ra khỏi vô minh. Vậy thì Đức Như Lai, chừng nào thì các phiền não sẽ phát sanh trở lại? Cúi mong Đức Bất Xả Vô Giá Đại Bi vì các Bồ Tát và tất cả chúng sanh đời mạt pháp mở kho tàng bí mật, khiến cho họ được nghe pháp môn liễu nghĩa và giáo lý của Tu Đa La ngõ hầu dứt hẳn mọi sự ngờ vực. Tác bạch rồi, Bồ Tát Kim Cang Tạng 5 vóc gieo xuống đất, lặp đi lặp lại như vậy 3 lần.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Bồ Tát Kim Cang Tạng kệ rằng: Lành thay! Lành thay! Này thiện nam tử! Ông có thể vì chư vị Bồ Tát và chúng sanh đời mạt pháp, hỏi Như Lai về những điều bí mật sâu xa, những phương tiện rốt ráo, những điều giáo huấn tối thượng về pháp liễu nghĩa Phật thừa, dành cho chư vị Bồ Tát và tất cả chúng sanh đời mạt pháp được lòng tin quyết định, dứt hẳn nghi ngờ. Ông hãy
nghe kỹ, ta sẽ vì ông mà nói rõ. Bồ Tát Kim Cang Tạng và tất cả đại chúng vâng lời dậy của Phật, yên lặng lắng nghe.
Này thiện nam tử! Ví như con mắt bị nhặm đỏ nên thấy hoa đốm ở hư không, khi hết đỏ mắt thì không thể nói rằng: mắt nhặm đỏ đã hết, đến khi nào lại sanh ra mắt nhặm đỏ? Vì sao? Vì bệnh mắt nhặm đỏ và hoa đốm, cả hai không thật thể, cả hai đối đãi nhau. Cũng như hoa đốm trong hư không, khi đã diệt, thì không thể nói hư không đến lúc nào lại sanh hoa đốm nữa? Vì sao? Vì hư không vốn chẳng có hoa, vốn chẳng phải khởi diệt. Như vậy sanh tử niết bàn cũng là khởi diệt. Viên giác thanh tịnh vốn như hoa đốm và mắt nhặm đỏ.
Này thiện nam tử! Phải biết hư không chẳng phải tạm có, cũng chẳng phải tạm không, huống chi viên giác tuỳ thuận Như Lai lại là bản tánh như hư không bình đẳng.
Này thiện nam tử! Ví như lọc quặng vàng, vàng không phải do lọc mà có. Khi đã thành vàng ròng, thì không bao giờ trở lại làm quặng nữa. Dủ bao luâ đi nữa, tính vàng cũng chẳng hoại. Như vậy chẳng thể nói: Vàng vốn chẳng phải là vàng. Viên giác Như Lai cũng như vậy.
Này thiện nam tử! Viên giác Như Lai vốn chẳng có Bồ Đề và niết bàn, cũng chẳng là Phật hay không là Phật, cũng chẳng có là vọng luân hồi hay phi luân hồi.
Này thiện nam tử! Cảnh giới viên giác của Thanh Văn là tiêu diệt tất cả thân tâm, ngôn ngữ mà chẳng bao giờ đạt đến viên giác Như Lai, huống chi là tâm trí tư duy thì làm sao lường được cảnh giới của viên giác Như Lai.
Ví như lấy 1 đốm lửa mà đốt núi Tu Di, thì không bao giờ đốt được. Bạch Đức Thế Tôn! Nếu chúng sanh bản lai là Phật thì sao lại có vô minh? Nếu vô minh là chúng sanh vốn có, thì sao Như Lai lại nói chúng sanh bản lai là Phật? Nếu 10 phương “Dị sanh” vốn đã là Phật, rồi sau ra khỏi vô minh. Vậy thì Đức Như Lai, chừng nào thì các phiền não sẽ phát sanh trở lại? Cúi mong Đức Bất Xả Vô Giá Đại Bi vì các Bồ Tát và tất cả chúng sanh đời mạt pháp mở kho tàng bí mật, khiến cho họ được nghe pháp môn liễu nghĩa và giáo lý của Tu Đa La ngõ hầu dứt hẳn mọi sự ngờ vực. Tác bạch rồi, Bồ Tát Kim Cang Tạng 5 vóc gieo xuống đất, lặp đi lặp lại như vậy 3 lần.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Bồ Tát Kim Cang Tạng kệ rằng: Lành thay! Lành thay! Này thiện nam tử! Ông có thể vì chư vị Bồ Tát và chúng sanh đời mạt pháp, hỏi Như Lai về những điều bí mật sâu xa, những phương tiện rốt ráo, những điều giáo huấn tối thượng về pháp liễu nghĩa Phật thừa, dành cho chư vị Bồ Tát và tất cả chúng sanh đời mạt pháp được lòng tin quyết định, dứt hẳn nghi ngờ. Ông hãy nghe kỹ, ta sẽ vì ông mà nói rõ. Bồ Tát Kim Cang Tạng và tất cả đại chúng vâng lời dậy của Phật, yên lặng lắng nghe.
Này thiện nam tử! Ví như con mắt bị nhặm đỏ nên thấy hoa đốm ở hư không, khi hết đỏ mắt thì không thể nói rằng: mắt nhặm đỏ đã hết, đến khi nào lại sanh ra mắt nhặm đỏ? Vì sao? Vì bệnh mắt nhặm đỏ và hoa đốm, cả hai không thật thể, cả hai đối đãi nhau. Cũng như hoa đốm trong hư không, khi đã diệt, thì không thể nói hư không đến lúc nào lại sanh hoa đốm nữa? Vì sao? Vì hư không vốn chẳng có hoa, vốn chẳng phải khởi diệt. Như vậy sanh tử niết bàn cũng là khởi diệt. Viên giác thanh tịnh vốn như hoa đốm và mắt nhặm đỏ.
Này thiện nam tử! Phải biết hư không chẳng phải tạm có, cũng chẳng phải tạm không, huống chi viên giác tuỳ thuận Như Lai lại là bản tánh như hư không bình đẳng.
Này thiện nam tử! Ví như lọc quặng vàng, vàng không phải do lọc mà có. Khi đã thành vàng ròng, thì không bao giờ trở lại làm quặng nữa. Dù bao lâu đi nữa, tính vàng cũng chẳng hoại. Như vậy chẳng thể nói: Vàng vốn chẳng phải là vàng. Viên giác Như Lai cũng như vậy.
Này thiện nam tử! Viên giác Như Lai vốn chẳng có Bồ Đề và niết bàn, cũng chẳng là Phật hay không là Phật, cũng chẳng có là vọng luân hồi hay phi luân hồi.
Này thiện nam tử! Cảnh giới viên giác của Thanh Văn là tiêu diệt tất cả thân tâm, ngôn ngữ mà chẳng bao giờ đạt đến viên giác Như Lai, huống chi là tâm trí tư duy thì làm sao lường được cảnh giới của viên giác Như Lai.
Ví như lấy 1 đốm lửa mà đốt núi Tu Di, thì không bao giờ đốt được. Đem tâm luân hồi khởi các hiểu biết luân hồi, mà mong nhập vào điển đại của Như Lai, thì không bao giờ vào được.
Vì lẽ đó, Như Lai nói rằng: Tất cả các Bồ Tát và chúng sanh đời mạt pháp, việc phải làm trước hết là phải loại trừ cội gốc luân hồi.
Này thiện nam tử! Tam nông nổi hư dối thì phần nhiều có các kiến chấp huyễn hoá, không thể là tâm chân thật. Dùng tư duy này biện minh Phật cảnh khác chút nào “không hoa” lại kết thành “không quả”. Vọng tưởng xoay vần như thế, không thể đạt được viên giác.
Này thiện nam tử! Cái tâm tư duy ấy toàn là ảo tưởng nương theo 6 trần, nên chẳng thể là tâm thể chân thật. Dùng tư duy biện minh Phật chẳng khác chút nào “không hoa” lại kết thành “không quả”. Vọng tưởng xoay vần như thế, không thể đạt được viên giác.
Này thiện nam tử! Tâm nông nổi hư dối thì phần nhiều có các kiến chấp huyễn hoá, không thể là phương tiện của viên giác cho nên phân biệt hỏi như thế không phải là lời hỏi chính đáng.
Bấy giờ Đức Thế Tôn muốn lặp lại lời nói này mới nói kệ rằng:
Kim Cang Tạng nên biết
Tánh tịch diệt Như Lai
Chưa từng có thuỷ chung
Nếu dùng tâm luân hồi
Tư duy thì xoay đảo
Chỉ đến bến luân hồi
Không bào biển của Phật
Thí như lọc quặng vàng
Vàng chẳng phải do lọc
Bản lai chính là vàng
Nhờ lọc mà thành tựu
Khi thành thể vàng ròng
Chẳng trở lại thành quặng
Sanh tử và niết bàn
Phàm phu và chư Phật
Đồng là tướng không hoa
Tư duy còn huyễn hoá
Huống hồ các hư vọng
Mới mong cầu viên giác.
CHÚ THÍCH:
  • Dị sanh: Những loài chúng sanh khác nhau.
  • Bất xả vô giá đại bi: Bất xả là không bỏ, vô giá là dung nạp rộng lớn vô giới hạn.
  • Đại bi: Lòng thương cao cả, không lựa chọn, độ tận chúng sanh, không bỏ sót một chúng sanh nào cả.
LƯỢC GIẢI:
Là một trong những vị thượng thủ của hàng Bồ Tát, Ngài Kim Cang Tạng là biểu trưng cho trí kim cang.
Kim cang có nghĩa là cứng bén, tạng có nghĩa là thâm sâu. Trí của Ngài Kim Cang Tạng “cứng bén” có thể vào tạng bí mật Như Lai. Nhờ trí này mà Bồ Tát Kim Cang thấy rõ pháp liễu nghĩa Tu Đa La thật thậm tâm thâm vi diệu, e rằng sơ tâm trong đời mạt pháp khó liễu tri mà sanh tâm nghi hối.
Để đánh tan những nghi hối, có thể có, đối với pháp hội hiện tiền và ngay cho cả đời sau, Bồ Tát Kim Cang Tạng khởi đại bi tâm đứng lên lập lời vấn nạn. Ngài dùng vọng ma vấn chơn, dùng chơn mà vấn vọng. Đó là lối hỏi đặt vấn đề ở phạm trù đối lập pháp.
Điều này ta thấy rõ qua 3 cảu hỏi của Ngài khi thưa thỉnh Đức Thế Tôn chỉ giáo.
  • Nếu chúng sanh bản lai là Phật thì sao lại có vô minh?
  • Nếu vô minh chúng sanh vốn có, thì tại sao Như Lai lại nói: chúng sanh bản lai là Phật?
  • Nếu các loài dị sanh ở 10 phương vốn đã là Phật rồi, sau khi khởi ra vô minh. Vậy thì Đức Như Lai chừng nào các phiền não sẽ mất đi?
Lời vấn nạn của Bồ Tát Kim Cang Tạng ẩn chứa ý nghĩa sâu xa về “ kho tàng bí mật Như Lai” và được xem như huyễn nhiệm và vấn đề chứng nhập. Đó là liễu Phật thừa.
Sau nghi thức thỉnh pháp thông lệ của Bồ Tát Kim Cang Tạng, Đức Thế Tôn hứa khả và bắt đầu khai thị.
Này thiện nam tử! Tất cả thế giới thỉ chung sanh diệt, tiền hậu hữu vô, tập tán, khởi chỉ, niệm niệm nối nhau. Điều đó chứng tỏ rằng 3 câu hỏi của ông là lầm lẫn là mê vọng không đến chơn thực tế được.
Tất cả thế giới ( hữu vi) thỉ chung sanh diệt, tiền hậu hữu vô, tập tán khởi chỉ niệm niệm nối nhau, xoay vần qua
lại, nhận lấy bỏ đi, thế là luân hồi. Luân hồi như vậy được xây dựng trên nhân quả của từng đơn của thời gian vô hạn.
Còn có tâm phân biệt là còn ở trong vòng hữu vi, còn có sanh diệt ở trong sanh diệt thì không biết được cái “ không sanh diệt”. Cũng thế, nếu đem tâm sanh diệt mà suy lường về bản thể viên giác, thì không bao giờ đến được cảnh giới viên giác.
Nói cách khác, viên giác vượt thoát tâm tư luân hồi. Những ví dụ trong đoạn Kinh trên giúp ta hiểu rõ. Do hoa mắt nên thấy nước xao động, do đờ mắt nên thấy lửa có vòng, trăng do mây bay nên thấy nó chạy, bờ di thuyền nên thấy nó di động, thật ra tất cả đều do sự nhầm lẫn của con mắt gây nên. Nước, lửa, trăng, bờ trước sau như một.
Thế nên biết rằng, nếu vọng tâm chưa thoát khỏi luân hồi mà suy lường đến viên giác, thì viên giác không giác lưu chuyển thành ra tướng lưu chuyển. Ấy vì biến kế sở chấp nên chẳng thể nhìn thấy thật nghĩa ‘chúng sanh bản lai” là “ Phật” nên chơn tâm trở thành mê vọng.
Đến đây Đức Phật đưa ra ví dụ: “ Không hoa và mắt đỏ” nhằm giải thích 3 nghi vấn của Bồ Tát Kim Cang Tạng. Đó là con đường lập dụ luỹ tiến để chỉ rõ vô minh. “ Mắt đỏ” dụ cho vô minh, “ không hoa” dụ cho thân tâm, thế giới và tướng phiền não. Khi “ Mắt đỏ” tiêu trừ, thì “ Không hoa” liền diệt. Cũng như vô minh tiêu trừ, thì thân tâm, thế giới thành “ Không”.  ‘Mắt đỏ” chỉ là pháp hư vọng vốn chẳng thật nên khi đã diệt thì chẳng khởi. Do vậy mà vô minh và các pháp cũng thế.
Qua ví dụ trên giúp chúng ta nhận thức được rằng: các pháp và vô minh đều hư vọng, chẳng có thực thể, cho nên
chẳng có gì sanh diệt. Thế nên Kinh nói “ không bản vô hoa”, khi phải di liễu tri được điều này thì không thể nói rằng: “ 10 phương dị sanh vốn là Phật rồi, sau khỏi vô minh”. Bởi lẽ viên giác vốn chẳng có phiền não thì làm sao phiền não phát sinh trở lại. Lại nữa viên giác siêu việt mọi tư duy luân hồi. Viên giác vĩnh viễn là viên giác vượt thoát tầm kiến tư duy.
Xét cho cùng cả 3 câu hỏi của Ngài Kim Cang Tạng đều xoay quanh phạm trù kiến thức luân hồi. Do đó cách trả lời của Phật được xem là tổng đáp lời hỏi của 3 nghi vấn và cũng chỉ có 1 ý là: “ TIÊU VỌNG THÀNH CHƠN”
Nhằm thiết lập lý “ Chúng sanh bản lai là Phật” Đức Phật đã dậy về vụ lọc quặng vàng để điều phục tâm người nghe, thật là lý thú tuyệt vời.
Này thiện nam tử! Thí như lọc quặng vàng, vàng không phải do lọc mà có. Khi đã trở thành vàng ròng thì không trở lại quặng nữa. Dù thời gian bao lâu đi nữa, tính vàng cũng chẳng hoại. Như vậy không thể nói: vàng vốn chẳng phải là vàng. Viên giác Như Lai cũng như vậy.
Có thể vận luôn thành một quy trình như sau: vàng ở trong quặng xưa nay vẫn thế. Tuy nhiên ta vẫn có thể nói rằng: trong quặng vẫn có cát sỏi tạp chất chưa được chọn lọc, điều này đã hiển bày cái lý “ Dầu rằng chúng sanh bản lai là Phật” mà vẫn trọn ý khi nói “ có tất cả vô minh”.
Lập luận này có thể gián tiếp giải thích nghi vấn thứ 1: “ Nếu chúng sanh bản lai là Phật thì sao lại có vô minh?”
Kinh dậy: Khi đã thành vàng ròng ( Phật) thì không bao giờ trở lại quặng nữa. Có nghĩa là đã thành vàng ròng,
tất nhiên đã được lọc rồi, không còn cát sỏi tạp chất ( Vô minh). Điều này chứng tỏ không thể có sự kiện: “ Đã là Phật sau lại khởi vô minh”.
Kinh dậy: “ Dù thời gian bao lâu đi nữa tính vàng cũng chẳng hoại”. Lời dậy này nhằm trả lời câu hỏi: “ Đức Như Lai, chừng nào các phiền não sẽ phát sinh trở lại?” ( Câu hỏi 3).
Kinh dậy: Như vậy chẳng thể nói “ vàng vốn chẳng phải là vàng”. Ngầm ý cho ta hiểu rằng: Trong quặng tuy có cát sỏi, tạp chất nhưng bản tính sẵn có. Luận cứ này nhằm gián tiếp giải thích nghi vấn thứ 2.
Nếu vô minh chúng sanh vốn có, thì vì sao Như Lai nói: “ Chúng sanh bản lai là Phật”.
Qua thí dụ “ Lọc quặng vàng” trên đây đã hiển bầy công năng thành trì hướng dẫn viên giác.
Khi đã thành tựu thành công năng hành trì theo viên giác tâm tức là dụng viên giác vi diệu làm lập trường, thì sẽ rõ tánh viên giác vốn chẳng có tướng sanh tử, niết bàn, cũng chẳng có luân hồi và phi luân hồi, là Phật hay không là Phật. Nhưng nếu còn vọng chấp thân thì đương nhiên còn có sanh, tử, có phiền não mà thuyết Bồ Đề có niết bàn. Bởi lẽ khi còn chấp ngã, chấp pháp thì chẳng bao giờ đạt đến “ Tịnh viên giác tâm”. Thế nên không thể đem kiến thức luân hồi để bàn luận phân tích về viên giác. Nên biết kiến, văn, giác, tri là hiện thân của gốc rễ luân hồi, hiện thân của vô minh, như vậy chẳng thể đem kiến thức vô minh mà lường viên giác được. Điều đó chẳng khác nào lấy một đốm lửa nhỏ mà đốt núi Tu Di. Vì tư duy xuất sanh từ tâm thức và nương theo 6 trần nên chẳng phải là tâm thể
chân thật mà chỉ là vọng tâm khởi thành vọng kiến. Nếu dụng tâm tư duy như vậy để biện minh Phật cảnh, thì chẳng khác nào “ không hoa” kết thành “ không quả”, hư vọng trong hư không.
Như vậy Ngài Kim Cang Tạng đại diện cho tất cả chúng hội hiện tiền, mà đặt 3 nghi vấn trên nhằm cho đời sau kẻ sơ tâm tu Bồ Tát đạo được lòng tin bền vững, chứ chẳng phải Ngài và chúng sanh hội thiện tiền nghi ngờ “ Viên giác tánh”.

PHẦN THỰC TẬP:
Viên giác Như Lai vốn chẳng có bồ đề và niết bàn, cũng chẳng là Phật không Phật, cũng chẳng có là “ vọng luân hồi hay phi luân hồi”.
Hãy trình bầy sự nhận thức và tính hiện thực của đoạn Kinh văn khi áp dụng vào thực tiễn hành pháp.
/14
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »