Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Phương Quảng Viên Giác Kinh

Đại Phương Quảng Viên Giác Kinh

Tác giả: Hòa Thượng Pháp Sư - Thích Thiện Trí. Năm xuất bản: 2016. Số trang: 155.

Chương 8: Chương Oai Đức Tự Tại (Trang 84 - 93)

CHƯƠNG OAI ĐỨC TỰ TẠI
 
DỊCH NGHĨA:
Lúc bấy giờ Ngài Oai Đức Tự Tại ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, đến đảnh lễ dưới chân Phật, đi quanh bên hữu 3 vòng rồi quỳ thẳng, chắp tay mà tác bạch:
Bạch Đấng Đại Bi Thế Tôn! Ngài đã vì chúng con mà phân biệt tuỳ thuận giác tánh như thế, khiến cho chư Bồ Tát tuệ giác sáng tỏ, nhờ viên âm của Phật nên chẳng qua sự tu tập mà vẫn được lợi ích tốt đẹp.
Bạch Đức Thế Tôn! Ví như thành trì to lớn, ngoài có 4 cửa, muốn vào cửa nào cũng được, chẳng phải có 1 đường. Chư vị Bồ Tát cũng vậy, trang nghiêm Phật quốc và thành đạo Bồ Đề đâu phải chỉ có một phương tiện. Cúi xin Đức Thế Tôn vì chúng sanh chỉ dậy có bao nhiêu thứ lớp phương tiện và người tu hành phương tiện ấy như thế nào? Khiến chư vị Bồ Tát ở trong hội này và chúng sanh đời mạt pháp cầu Phật thừa mau chóng tỏ ngộ, dạo chơi trong bể đại tịch diệt Như Lai.
Tác bạch rồi, Bồ Tát Oai Đức Tự Tại 5 vóc gieo xuống đất, lặp đi lặp lại như vậy 3 lần.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Ngài Oai Đức Tự Tại Bồ Tát rằng: Lành thay! Lành thay!
Này thiện nam tử! Ông có thể vì chư vị Bồ Tát và chúng sanh đời mạt pháp mà hỏi Như Lai về các phương tiện như vậy. Ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì ông mà nói rõ. Bồ Tát Oai Đức cùng các đại chúng vô cùng hoan hỉ yên lặng lắng nghe.
Này thiện nam tử! Diệu giác vô thượng chu biến 10 phương xuất sanh Như Lai và tất cả các pháp đồng thể bình đẳng với sự tu hành thật chẳng có 2 phương tiện thích ứng tuỳ thuận với đồng thể thì có vô số, nhưng thâu nhiếp lại theo tính sai biệt thì có 3 thức:
a./ Xa ma tha:
Này thiện nam tử! Nếu chư vị Bồ Tát ngộ được viên giác thanh tịnh, dùng giác tâm thanh tịnh mà làm hạnh tính. Rồi y đó lắng các vọng niệm nhận biết các thức và lay động phiền nhiễu. Lúc tuệ tĩnh phát sinh, thân tâm, khách trần theo đó mà diệt hẳn, liền được nội tâm vắng lặng khinh an. Do vì vắng lặng nên đức tâm Như Lai trong 10 phương thế giới hiện rõ như bóng trong gương. Pháp phương tiện này gọi là Xa ma tha.
b./ Tam ma bát đề:
Này thiện nam tử! Nếu các Bồ Tát ngộ được viên giác thanh tịnh, dùng giác tâm thanh tịnh nhận biết tâm thức và căn trần đều là huyễn hoá nên khởi ra các huyễn để trừ huyễn hoá, biểu hiện mọi phương tiện hoá mà hoá độ cho chúng sanh huyễn hoá. Do vì khởi ra các huyễn nên nội tâm phát ra sự thư thái đại bi.
Tất cả Bồ Tát theo đây khởi hành dần dần tăng tiến tu hành. Biết sự quán sát huyễn hoá là chẳng đồng huyễn hoá, rồi biết sự quán sát chẳng đồng huyễn hoá đó cũng là huyễn hoá. Được vậy huyễn hoá mới vĩnh viễn thoát bỏ, ly được tướng huyễn là chỗ hiệu dụng tu hành của các Bồ Tát, tựa như đất đai tăng trưởng lúa má.
Pháp phương tiện này gọi là Tam ma bát đề.
c./ Thiền na:
Này thiện nam tử! Nếu chư vị Bồ Tát ngộ được viên giác thanh tịnh, dùng giác tâm thanh tịnh chẳng thủ huyễn hoá và các tướng tĩnh lặng, rõ biết thân tâm đều là chướng ngại, còn tính viên giác ngộ vô tri giác minh thì không chướng ngại nên vĩnh viễn siêu việt vượt thoát ngoài những cảnh chướng ngại ( sinh tử) và không chướng ngại ( niết bàn). Nhưng thọ dụng thế giới thân tâm ở trong cõi trần mà không bị cảnh trần ràng buộc, mặc dù phiền não hay niết bàn cũng không làm lưu ngại nó được.
Ví như tiếng “ boong” của chuông, tuy ở nơi chuông mà vẫn thoát ra ngoài chuông. Bấy giờ nội tâm được vắng lặng, nhẹ nhàng thư thái. Do vậy ngã, nhơn, chúng sanh, thọ mạng 4 tướng đều chẳng còn tuỳ thuận cảnh giới viên giác tịch tịnh mầu nhiệm.
Pháp phương tiện này gọi là Thiền na.
Này thiện nam tử! Ba pháp môn đó đều là thân cận tuỳ thuận viên giác. Mười phương chư Phật là nhơn nơi phương tiện này là được thành Phật. Mười phương Bồ Tát tu các phương tiện đồng hay dị nhưng cũng y nơi 3 pháp môn này được chứng ngộ viên giác.
Này thiện nam tử! Giả sử có người tu nơi thánh đạo giáo hoá thành tựu quả vị A La Hán và Bích Chi Phật đến trăm ngàn vạn ức, chẳng bằng có người nghe 3 pháp môn vô ngại này của viên giác và tuỳ thuận tu tập dù trong khoảng 1 sát na.
Bấy giờ Đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này nên nói kệ rằng:
“ Oai Đức ông nên biết
Vốn chẳng có 2 tướng
Tuỳ thuận các phương tiện
Số mục có vô lượng
Như Lai tổng khai thị
Chỉ có 3 chủng loại
Xa ma tha vắng lặng
Như gương soi hình tượng
Tam ma đề như huyễn
Như mầm lúa tăng trưởng
Thiền na duy tịch diệt
Như tiếng chuông ngân nga
Ba pháp môn vi diệu
Đều là tuỳ thuận giác
Mười phương chư Như Lai
Và chư đại Bồ Tát
Nhơn đây được thành Phật
Ba pháp viên mãn chứng
Là cứu cánh niết bàn”.
CHÚ THÍCH:
+ Viên âm: âm thanh viên diệu, chỉ lời nói của Phật viên mãn vi diệu trọn đầy 2 nghĩa:
1./ Lời của Phật nói đầy đủ nghĩa lý không có sự thiếu sót khiến cho từng lớp chúng sanh thấm nhuần lợi ích.
2./ Cùng một lời mà áp dụng cho mọi người nghe pháp tuỳ theo trình độ nhận thức đều được khai ngộ.
+ Phiền động: phiền não vọng động từ trên tâm thức.
+ Tịnh huệ: Do tĩnh lặng mà có trí huệ.
+ Khách trần: Do chỗ phiền não, vì phiền não không phải là vật mà tâm tánh nhất định có. Vì mê lý mà khởi nên gọi là khách. Vì nó làm nhiễm ô tâm tánh nên gọi là trần.
+ Huyễn trí: Trí tuệ từ tâm thức khởi ra để trừ các huyễn. Khi huyễn dứt thì trí này không còn vì là như huyễn nên gọi là huyễn trí.
+ Lưu ngại: Vướng mắc làm trở ngại.
LƯỢC GIẢI:
Oai Đức Tự Tại là vị Bồ Tát biểu trưng cho mặt: nội, ngoại viên dung. Nội tại thì đầy đủ đức tánh viên diệu, ngoại tại thể hiện oai tướng trang nghiêm. Chính do sự thành tựu nội tánh và ngoại tướng nên được gọi là Tự Tại. Công hạnh Bồ Tát này tương ứng với viên giác. Vì thế Ngài đứng lên thưa thỉnh cầu Phật chỉ dậy:
Có bao nhiêu thứ lớp phương tiện và người thực hành phương tiện tu viên giác thế nào?
Lời thưa thỉnh của Bồ Tát Oai Đức Tự Tại được Đức Phật Thế Tôn hứa khả và bắt đầu khai thị:
Này thiện nam tử! Diệu giác vô thượng khắp cả 10 phương xuất sanh Như Lai và tất cả các pháp đồng thể bình đẳng với sự tu hành thật chẳng có hai. Phương tiện thích ứng tuỳ thuận với đồng thể thì có vô số nhưng thâu nhiếp lại theo tính sai biệt thì có 3 thứ.
Đây là lời dậy tổng quát về 3 phương tiện theo sự sai biệt tánh. Nhưng Diệu Giác thì chu biến theo 10 phương. Nếu tâm hành giả ngộ được viên giác thì sanh ra tịnh giác. Tất cả các pháp nhiễm tịnh vốn chẳng bình đẳng đồng thể, nhưng dụng thì có sai khác. Vì thế nên phương tiện thích ứng với thể viên giác thì có vô số, tựu trung nhiếp lại không ngoài 3 phương pháp thực hành. Có thể được coi là 3 mặt của thiền quán.
  • Xa Ma Tha: Tàu dịch là chỉ, nghĩa là dụng công lắng niệm, đó là định.
  • Tam Ma Bát Đề: Tàu dịch là đẳng trì, cũng gọi là huệ.
  • Thiền Na: Tàu dịch là tĩnh lự, tĩnh là chỉ, lự là quán, chỉ quán song tu khiến cho định huệ được quân bình.
Muốn cho hành giả nắm vững 3 pháp tu này, Đức Thế Tôn đã thuyết minh từng pháp môn một.
Trước hết là pháp Xa Ma Tha, hành giả muốn đạt được pháp này, trước nhất phải dụng giác tâm thanh tịnh mà làm hạnh tĩnh. Đó là điểm then chốt trong thực hành, nhờ đó mà có vọng niệm lắng xuống. Vọng niệm lắng xuống mới nhận được các tướng phiền động của thức tâm.
Tựa như ta rót 1 ly nước đầy, đợi khi nước lắng trong thì thấy cặn bã dưới đáy. Sở dĩ phàm phu chẳng biết đến sự phiền động của thức tâm, vì thiếu công năng tu tập lắng niệm. Hành giả mới tinh tấn dụng công lắng niệm, đương nhiên tĩnh tuệ phát sanh. Tĩnh tuệ phát sanh thì thấy rõ hết thảy đại giả hợp của huyễn thân và lục trần duyên cảnh của vọng tâm, chẳng khác nào khách trần hỗn loạn. Tâm thể vắng lặng nhưng vẫn không trú chấp ở thể vắng lặng này.
Ấy là lúc tâm viên giác thanh tịnh trang nghiêm thường tịch hiển lộ pháp thân, huệ quang sáng chói. Tự tâm Như Lai tạng tương ứng khế hợp với chư Phật trong 10 phương thế giới. Bấy giờ Phật tâm hiển lộ nơi hành giả chẳng khác như bóng trong gương. Tu phương tiện này chính là lấy “ Thủ tịnh làm hạnh” gọi là tu hạnh Xa Ma Tha.
Thế nên Kinh dậy:
Này thiện nam tử! nếu chư vị Bồ Tát ngộ được viên giác thanh tịnh, dùng giác tâm thanh tịnh làm hạnh tĩnh. Rồi ý đó lắng các vọng niệm nhận ra các thức là lay động phiền nhiễu. Lúc ấy tuệ tĩnh phát sinh, thân tâm khách trần theo đó mà diệt hẳn, liền được nội tâm vắng lặng khinh an. Do vì vắng lặng nên đức tâm Như Lai trong 10 phương thế giới hiện rõ như bóng trong gương.
Pháp phương tiện này gọi là Xa Ma Tha. Pháp phương tiện thứ 2 gọi là tam ma bát đề. Tu pháp phương tiện này phải trải qua lộ trình tác quán tức là tu quán.
Có thể nói, cả 3 phương tiện này chỉ bậc thượng căn thượng trí mới đủ khả năng thực hành. Do vậy mà mỗi thời
khai thị của Phật về pháp phương tiện đều mở đầu bằng câu:
Bồ Tát đã ngộ viên giác thanh tịnh. Xem vậy đủ rõ hành giả phải y nơi tâm thanh tịnh giác mà quán các pháp: 6 căn, 6 trần, 6 thức đều là huyễn hoá. Lộ trình này bắt buộc phải dụng khởi trí như huyễn để diệt các vô minh phiền não như huyễn, tu các hạnh như huyễn, để hoá độ chúng sanh như huyễn. Đến lúc ly các huyễn cảnh, huyễn trí, thì tâm, cảnh, năng, sở đều diệt. Phải viễn ly hết thảy mọi huyễn tướng, bấy giờ tánh viên giác như huyễn mới hiển lộ. Đó chính là quán hạnh như huyễn, lấy tâm đại bi khinh an làm gốc mà khởi hạnh thứ lớp tăng tiến. Nhận thức được điều này mới thấu suốt lối tu huệ quán từ nơi huyễn quán mà vượt thoát mọi thứ huyễn hoá nên không đồng với quán huyễn. Lối quán này, hành giả biết huyễn liền ly huyễn, đến thì không còn ly được nữa là đến chỗ diệu dụng, tựa như đất đai tăng trưởng mầm lúa. Tu pháp quán hạnh như huyễn gọi là tam ma bát đề.
Thế nên Kinh dậy:
Này thiện nam tử! Nếu các Bồ Tát ngộ được viên giác thanh tịnh, dùng giác tâm thanh tịnh nhận biết tâm thức và căn trần đều là huyễn hoá nên khởi ra các huyễn để trừ huyễn, biểu hiện mọi phương tiện huyễn hoá mà hoá độ cho chúng sanh huyễn hoá. Do vì khởi ra các huyễn nên nội tâm phát ra sự thư thái đại bi. Tát cả Bồ Tát theo đây khởi hành dần dần tăng tiến tu hành. Biết sự quán sát huyễn hoá là không phải huyễn hoá, rồi biết sự quán sát không phải huyễn hoá đó cũng là huyễn hoá. Được vậy huyễn hoá mới vĩnh viễn thoát bỏ. Ly được tướng huyễn là chỗ diệu dụng
tu hành của các Bồ Tát, tựa như đất đai tăng trưởng lúa má, pháp phương tiện này gọi là Tam ma bát đề.
Pháp phương tiện thứ 3 là Thiền na.
Đây chính là pháp “ Chỉ quán song tu”. “ Định huệ quân bình”.
Hành giả tu pháp môn thiền na chẳng giống lối tu hành Xa Ma Tha là riêng tu định cũng chẳng giống tu quán Tam ma bát đề là riêng tu huệ.
Lối tu này chẳng thủ thân tâm huyễn hoá và các tướng tĩnh lặng. Bởi lẽ hành giả tu thiền na nhận biết tâm huyễn hoá đều là chướng ngại. Chính nhờ không thủ huyễn hoá mới vượt qua các “ Ngại”, chẳng thủ tĩnh lặng mà vượt qua cảnh “ Ngại” ấy là lìa được sự chướng. Hai chướng đã lìa nên khi thọ dụng thân tâm thế giới trần cảnh mà tánh viên giác vẫn hoàn toàn siêu việt, vượt ra ngoài các cảnh chướng ngại và không ngại dẫn đến các phiền não hay niết bàn cũng lưu ngại được.
Ví như tiếng “ Boong” của chuông, tuy ở nơi chuông mà vẫn thoát ra ngoài chuông. Nói một cách khác, khi 2 chướng đã lìa, thì chẳng vướng phiền não của thế pháp, chẳng trụ niết bàn của xuất thế pháp. Do vậy, công phu quán hạnh tương ứng với chân tâm nên nội tâm được vắng lặng nhẹ nhàng thư thái, tức là ứng hợp với thể tác vô sanh, vì nó vốn chẳng sanh diệt vậy.
Đến đây hành giả đã diệt hết 4 tướng ngã, nhơn, chúng sanh, thọ mạng, bấy giờ mới thể nhập vào cảnh giới viên giác. Pháp phương tiện này gọi là Thiền na.
Thế nên Kinh dậy:
Này thiện nam tử! Nếu chư vị Bồ Tát ngộ được viên giác thanh tịnh, dùng giác tâm thanh tịnh chẳng thủ huyễn hoá và các tướng tĩnh lặng, rõ biết thân tâm đều là chướng ngại, còn tánh viên giác vô tri giác thì không bị các vật làm chướng ngại, nên vĩnh viễn siêu việt vượt thoát ngoài những cảnh chướng ngại ( sinh tử) và không chướng ngại ( niết bàn). Những thọ dụng: thọ dụng thân tâm ở trong cõi trần mà không bị cảnh trần ràng buộc, mặc dù phiền não hay niết bàn cũng không làm lưu ngại nó được. Ví như tiếng “ boong” của chuông, tuy ở nơi chuông mà vẫn thoát ra ngoài chuông. Bấy giờ nội tâm được vắng lặng nhẹ nhàng thư thái. Do vậy nên ngã, nhơn, chúng sanh, thọ mạng 4 tướng đều chẳng còn. Và được tuỳ thuận cảnh giới viên giác tịnh mầu nhiệm. Pháp phương tiện này gọi là thiền na.
Sau khi đã khai thị rõ ràng về 3 phương tiện pháp môn, Đức Phật lại một lần nữa ân cần nhắc nhở tầm quan trọng của nó được xem như 3 mặt của thiền quán. Ba mặt của thiền quán chính là phương tiện thân cận, tuỳ thuận viên giác, là một nhân tố tất yếu làm Phật, là căn bản trí của Bồ Tát hạnh. Nếu đem so sánh với thánh đạo nhị thừa thì nó vượt hẳn. Thế nên, y kinh nhấn mạnh, dù chỉ nghe thoáng qua 3 pháp môn này rồi y nơi đó mà tu tập dù trong khoảng một thời gian ngắn nhất vẫn có thể thành Phật. Điều này chứng tỏ lộ trình tu về 3 mặt thiền quán của Bồ Tát là phương tiện thù thắng nhất dẫn đến quả thị Phật đà.
/14
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »