CHƯƠNG TỊNH CHƯ NGHIỆP CHƯỚNG
DỊCH NGHĨA:
Lúc bấy giờ Ngài Tịnh Chư Nghiệp Chướng ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy đến đảnh lễ dưới chân Phật, đi quanh bên hữu 3 vòng, rồi quỳ thẳng chắp tay mà tác bạch rằng:
Bạch Đấng Đại Bi Thế Tôn! Ngài đã dậy cho chúng con các việc bất tư nghì như thế, đó là hành tướng nhân địa của tất cả Như Lai, khiến cho đại chúng được lợi ích chưa từng có. Chúng con nhận thấy Đức Điều Ngự trải qua hằng sa kiếp nhiều như cát sông Hằng, tất cả công dụng cần khổ trong các cảnh giới thoảng như chừng một niệm, Bồ Tát chúng con tự thấy thâm kính vui mừng.
Bạch Đức Thế Tôn! Nếu giác tâm này bản tánh thanh tịnh, vậy do đâu lại bị nhiễm ô và vì sao chúng sanh mê muội chẳng nhập được tánh viên giác? Cúi xin Như Lai vì chúng sanh khai ngộ pháp tánh , khiến cho chúng hội và chúng sanh đời sau đều được con mắt trí tuệ.
Tác bạch rồi, Bồ Tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng năm vóc gieo xuống đất lặp đi lặp lại 3 lần.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Ngài Tịnh Chư Nghiệp Chướng Bồ Tát rằng: Lành thay! Lành thay!
Này thiện nam tử! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay do vọng tưởng điên đảo, chấp 4 tướng: ngã, nhơn, chúng sanh, thọ mạng. Nhận 4 tướng điên đảo là thật ngã thể. Do vậy mới sinh ra 2 cảnh yêu ghét. Vậy là ở trên cái thể hư
vọng chồng lên cái chấp hư vọng. Hai vọng nương nhau sanh ra cái vọng nghiệp. Vì vọng nghiệp nên vọng thấy có lưu chuyển, rồi chán lưu chuyển lại vọng thấy niết bàn. Do vậy mà không thể nhập vào viên giác thanh tịnh, chứ chẳng phải tánh viên giác chống trái với tâm năng nhập. Và ngay cả tâm năng nhập được nhập cũng chẳng phải tại tánh viên giác làm cho được nhập. Thế nên biết rằng động niệm cùng với dứt niệm cũng đều là mê muội. Vì sao vậy? Vì có vô minh chủ động trong đó.
Tất cả chúng sanh, sanh ra chẳng có mắt huệ nên chẳng thấy được thân tâm đều là vô minh, lại chẳng chịu diệt vô minh. Thí như có kẻ chẳng chịu tự chặt thân mạng của mình. Vì thế nên biết: Người ái ngã thì cũng tuỳ thuận, người chẳng tuỳ thuận ái ngã thì sanh chán ghét. Vì tâm yêu, ghét nuôi dưỡng vô minh nên cầu đạo mãi mà chẳng thành tựu.
Này thiện nam tử! Như người có cơ thể điều hoà, hình như chợt quên mình, nhưng khi vừa bị chích, đốt thì liền thấy có ngã, vì thế chính cái tự biết mớ hiện ra tự ngã.
Này thiện nam tử! Cái tự biết này chứng nhập rốt ráo niết bàn thanh tịnh Như Lai, thì đó cũng chỉ là ngã tướng.
Này thiện nam tử! sao gọi là nhơn tướng? đó là cái chỗ hiểu biết về cái tự biết đã nêu trên.
Này thiện nam tử! Cái tự biết là tự ngã thì các tự biết ấy không đáng nhận. Cái tự biết đã không phải ngã thì cái hiểu biết cái tự biết cũng vậy. Cái hiểu biết vượt qua hết thảy cái tự biết, đó chính là nhân tướng.
Này thiện nam tử! cái hiểu biết ấy hiểu biết rằng niết bàn của tự biết cũng chỉ là ngã tướng, thì sự hiểu biết tinh tế như vậy cũng là nhân tướng.
Này thiện nam tử! thí như có người nói: “ Tôi là chúng sanh” thì chúng sanh mà người ấy nói chẳng phải và cũng chẳng phải nhơn.
Tại sao chẳng phải ngã? Vì ngã là chúng sanh thì đương nhiên chẳng phải tự ngã.
Sao chẳng phải nhân? Vì ngã là chúng sanh, thời chẳng phải ngã của ai cả.
Này thiện nam tử! chỗ mà chúng sanh tự biết, tự hiểu đều là ngã tướng và nhân tướng. Chỗ mà ngã nhơn tướng chẳng thấu được mà nó vẫn tự rõ thì chỗ đó gọi là chúng sanh tướng.
Này thiện nam tử! Tuệ giác ấy vẫn trần cầu. Vì sao? Vì còn có năng giác, sở giác thì chẳng thật giác ngộ nên gọi là thọ giả tướng.
Này thiện nam tử! sao gọi là giả tướng?
Đó là tuệ giác của chúng sanh, soi biết chỗ tự rõ cái không thấy nói trên. Nhưng tuệ giác này còn mang tính biến động như vậy, thì dù có giác ngộ tất cả mà chẳng thật giác ngộ, nên gọi là thọ giả tướng.
Này thiện nam tử! Tuệ giác ấy vẫn là trần cầu. Vì sao? Vì còn có năng giác, sở giác thì chẳng ly được trần cầu.
Ví như nước sôi làm tan băng tuyết, băng tuyết đã bị tan thành nước. Tuy nhiên nếu còn chút ít chưa tan thì chưa
phải là nước hoàn toàn. Cũng giống như còn chấp tự ngã mà giác ngộ tự ngã, giác ấy còn trần cầu.
Này thiện nam tử! chúng sanh đời mạt pháp chẳng rõ 4 tướng. Tuy có trải nhiều kiếp cần khổ tu đạo mà chỉ được hữu vi quả, trọn chẳng thể nào thành thánh quả. Vì thế nên gọi là chánh pháp mạt thế. Vì sao vậy? vì nhận tất cả sắc thái biến tướng của ngã, cho là niết bàn và chấp có chứng có ngộ để thành tựu. Chẳng khác nào kẻ nhận giặc làm con, của cải trong nhà không sao giữ được.
Vì sao thế? Vì cái ưa muốn ngã cũng là cái ưa muốn niết bàn, hàng phục cái ta ưa muốn cho là tướng niết bàn.
Lại có người ghét ngã, ghét sanh tử mà chẳng biết rằng cái ưa muốn chính thật là sanh tử. Nếu chỉ riêng ghét sanh tử mà chẳng diệt cái ưa muốn thì gọi là chẳng thoát.
Làm sao biết được pháp không giải thoát?
Này thiện nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp tu tập Bồ Đề được chút ít thì tự cho là thanh tịnh, trong sáng, thế thì chưa có thể loại hết cội gốc của ngã tướng. Nếu có người tán thán liền sanh tâm hoan hỉ mà muốn cứu độ. Nếu có ai bài bác cái chỗ sở đắc của mình thì liền sanh tâm giận dữ, tức thì biết ngã tướng kiên cố chấp giữ ẩn núp trong tạng thức qua qua lại lại các căn, không bao giờ gián đoạn.
Này thiện nam tử! Người tu hành không bỏ được ngã tướng không khi nào vào được giác thanh tịnh.
Này thiện nam tử! Nếu biết ngã là không, thời không huỷ hoại ngã.
Nếu thấy ta thuyết pháp là chưa bỏ được ngã, chúng sanh, thọ mạng cũng thế.
Này thiện nam tử! chúng sanh đời mạt pháp thuyết bệnh mà cho là pháp. Thế nên gọi là người đáng thương xót, dẫu có siêng tinh thần mà chỉ tăng thêm bệnh. Vì vậy, chừng nào được giác thanh tịnh.
Này thiện nam tử! chúng sanh đời mạt pháp chẳng rõ 4 tướng nên dù có thể lấy chỗ hiểu và hạnh tu Như Lai làm hạnh tu của mình, thì cũng chẳng bao giờ thành tựu được.
Hoặc có chúng sanh chưa được nói, chưa chứng, nói chứng, thấy có người hơn mình sanh tâm tật đố. Chúng sanh này chưa đoạn được ngã ái nên chẳng thể vào được viên giác thanh tịnh.
Này thiện nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp mong muốn thành đạo, chẳng cầu giác ngộ, chỉ cốt đa văn nên tăng thêm ngã kiến, phải hết sức tinh tấn hàng phục phiền não, phát sanh đại dũng mãnh được cái chưa được, để đoạn cái chưa đoạn, các thứ tham, sân, yêu, ghét, tật đố, siểm nịnh, gặp cảnh không sanh, ta cùng người ân nghĩa yêu mến, tất cả đều tịch diệt, Phật nói người ấy lần lượt thành tựu. Cầu thiện tri thức chẳng lạc vào tà kiến. Nếu chỗ sở cầu có tâm yêu, ghét thì chẳng vào được biển giác thanh tịnh.
Bấy giờ Đức Thế Tôn muốn lặp lại ý này nên nói kệ rằng:
“ Tất cả các chúng sanh
Đều bỏ chấp có ngã
Nên mãi mãi lưu chuyển
Chưa bỏ được bốn tướng
Chẳng thành được Bồ Đề
Nơi tâm sanh yêu ghét
Niệm niệm còn nhiễm trước
Vì thế nên mê muội
Chẳng vào được thành giác
Nếu như giác ngộ được
Bỏ ngay: tham, sân, si
Tâm chẳng còn ái pháp
Lần lượt sẽ thành tựu
Thân ta vốn vô sanh
Thời yêu ghét ở đâu?
Người rõ cầu thiện hữu
Chẳng bị lạc tà kiến
Dấy vọng cầu sanh tâm
Hoàn toàn chẳng thành tựu”.
CHÚ THÍCH:
Chứng thủ: chứng nhận và giữ lấy, chỉ cho tâm của chúng sanh ( đệ bát thức), tức là ngã chứng và ngã thủ.
-
Tâm ngộ lý chứng: là ngộ được cái lý, sở chứng là sai. Nghĩa là chứng biết ngã tướng là không, nên không chấp ngã, nhưng cái thấy không có ngã, đó là nhơn tướng. Chứng được vô ngã là lý chứng, ngộ lý là phá được nhân tướng, phá nhân tướng gọi là tâm ngộ lý chứng.
-
Tâm chứng: tâm chứng được ngã tướng là không.
-
Liễu chứng: rõ biết được sở, ngộ, ngã tướng.
-
Ngã kiến: Đối với pháp không phải ngã mà chấp chặt cho là ngã, gọi là ngã kiến.
LƯỢC GIẢI:
Trên lộ trình tu hành, dù tu chỉ, tu quán, hay tu thiền na vẫn khó thoát khỏi quỷ đạo của bệnh hoạn phát sinh.
Do vậy sự tu hành chủ yếu phải nhằm vào vô thỉ vô để hàng phục phá trừ nó. Nhưng thế lực của vô minh rất mãnh liệt, tất nhiên sức đề kháng của nó ắt phải quyết liệt. Thế nên hành giả nhận chân đúng mức để biết rõ không những mặt phải của sự tu hành mà phải biết mặt trái của sự bệnh hoạn, như bệnh pháp ái, bệnh tăng thượng mạn, để tìm phương đối trị.
Ngài Tịnh Chư Nghiệp Chướng là vị Bồ Tát đã tẩy sạch nghiệp chướng nên đứng lên thỉnh cầu Phật chỉ giáo cho những chỗ nghi ngờ.
Nếu giác tâm này bản tánh thanh tịnh, vậy do đâu lại bị ô nhiễm và vì sao khiến chúng sanh mê muội chẳng nhập được viên giác.
Lời nói của Bồ Tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng được Phật hứa khả và Ngài bắt đầu khai thị:
Này thiện nam tử! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay do vọng tưởng điên đảo chấp 4 tướng: ngã, nhơn, chúng sanh, thọ mạng, nhận 4 tướng điên đảo làm thật ngã thể. Do vậy mới phát sinh ra cảnh yêu, ghét. Vậy là ở trên cái thể hư vọng chồng lên cái chấp hư vọng. Hai vọng nương nhau sanh ra các vọng nghiệp. Vì vọng nghiệp nên vọng thấy có lưu chuyển, rồi chán lưu chuyển, lại vọng thấy niết bàn. Do vậy mà không thể nhập vào viên giác thanh tịnh, chứ chẳng phải viên giác chống trái với tâm năng nhập. Và ngay cả với tâm năng được nhập cũng chẳng phải tự tánh viên giác làm cho được nhập. Thế nên biết rằng động niệm cùng với dứt niệm cũng đều là do mê muội. Vì sao vậy? Vì có vô minh chủ động trong đó. Tất cả chúng sanh, sanh ra không có mắt huệ nên không thấy được thân tâm là vô minh. Thí như có người không chịu tự chặt thân mạng của mình. Vì thế nên biết: Người ái ngã nên cùng ngã tuỳ thuận, người chẳng tuỳ thuận sanh ra chán ghét. Vì tâm yêu ghét nên nuôi dưỡng vô minh, nên cầu đoạn mãi mà chẳng thành tựu.
Trước hết Phật chỉ rõ: “ Do đâu bị ô nhiễm mà chẳng nhập được viên giác”. Ấy là do vọng tưởng điên đảo chấp 4 tướng ( ngã, nhơn, chúng sanh, thọ mạng) làm thật thể của ta. Thế nên cảnh thuận với ta thì yêu, nghịch với ta thì ghét.
Cả hai tâm vọng và cảnh vọng này nương nhau nên sanh ra các vọng nghiệp, tạo tác nên phàm phu vọng thấy có sanh tử lưu chuyển trong 6 đường. Hàng nhị thừa nhàm chán cảnh sanh tử luân hồi, lại vọng thấy có niết bàn, tức là ái pháp, thì cũng chỉ là ngã tướng do mê trí sanh ra.
Cái lý do khiến chúng sanh không nhập tánh viên giác thanh tịnh là bởi do chấp ngã và pháp tướng, chứ chẳng phải do tánh viên giác tánh tu các pháp hạnh mà chứng nhập vào. Hành giả tuỳ thuận giác viên tánh tu các pháp hạnh mà chứng nhập, ấy là do đức khế hợp với tánh chứ chẳng phải tánh viên giác làm cho được nhập.
Phải nhận thức rằng, một khi vọng tưởng chưa hết thì dụng tâm đều hoàn toàn nhầm lẫn. Thế nên hàng phàm phu động niệm là mê muội, hàng nhị thừa dứt niệm chấp tịch cũng là mê muội. Tất cả đều là vô minh chủ động trong đó, cho hay vô minh hay làm chướng ngại hành giả hành trì đạo nghiệp. Nói một cách khác, “ do vì vô minh dụng” mà vọng khởi ngã chấp. Khi cảnh nghịch thì sanh tâm oán ghét. Ưa và ghét đã từ vô minh sanh rồi trở lại nuôi dưỡng vô minh, chẳng dễ đoạn diệt được. Tựa như sóng từ nước sanh rồi trở lại giúp thể của nước để gây sóng.
Nên biết nếu yêu ghét cùng với vô minh luân tập và tự dưỡng lẫn nhau, tiếp nối không ngừng, thì dầu cho hành giả khổ tu hành đạo nghiệp mà 4 chướng chẳng rời, rốt cuộc cũng không thể thành tựu được.
Đến đây Đức Phật dậy rõ về 4 tướng là do mê trí của người cầu đạo.
1./ Ngã tướng:
Ngã tướng là gì? Tức là cái tâm sở chứng chúng sanh. Ấy là tự biết về cái ta.
Để giúp hành giả dễ nhận, Đức Phật đưa ra một thí dụ: Ví như người có cơ thể điều hoà chợt quên thân mình,
nhưng vì bị chích đốt là thấy ngã liền, vì thế mà nhận biết là có thân ( ngã).
Hành giả có thể đem chứng nghiệm này để nhận thức về ngã tướng ẩn phục thâm tế vô cùng. Nó hay làm chướng ngại cho người cầu đạo. Hành giả đến lúc tự thấy mình đắc đạo hay chứng niết bàn tịch tịnh cũng đều là ngã tướng. Bởi lẽ còn có niết bàn hay quả Phật sở chứng. Một khi năng chứng và sở chứng chưa dứt ấy là còn có ngã tướng.
2./ Nhơn tướng:
Nhơn tướng là gì? Tức là chỗ tâm ngộ chứng của chúng sanh, ấy là tự hiểu về sự tự biết cái ta là do cái chấp ngã tướng mà chuyển sanh ra dưới ký hiệu chân tướng. Như vậy tâm ngộ, nếu còn có một chút năng ngộ, thì trong quá trình tu hành cũng đều là nhân tướng.
3./ Chúng sanh tướng:
Chúng sanh tướng là tự rõ cái ngã ngoài tầm tự biết và tự hiểu. Hành giả khi rõ biết 2 tướng ngã và nhơn là khi không còn chấp. Tuy cái tướng sở chứng, sở ngộ không còn, nhưng cái ngã tướng hãy còn vi tế ẩn phục ở trong. Tướng đó gọi là chúng sanh tướng. “ Tựa như có người nói: tôi là chúng sanh, thì chúng sanh mà người ấy nói không phải ngã và cũng không phải bỉ”. Đó là hiển thị ý nghĩa ly khai ngã tướng, nhân tướng mà vẫn còn dấu vết của tâm ẩn tàng vi tế, đó là chúng sanh tướng.
4./ Thọ mạng tướng:
Cũng là ngã tướng vi tế hãy còn tồn tại, hành giả không thể tự thấy biết được. Cũng như mạng căn âm thầm tương tục để tồn tại, người không thể tự thấy biết. Đó gọi là
thọ mạng tướng. Hành giả nếu còn dụng tâm phân biệt để phá trừ các tướng thế là còn vọng. Bởi lẽ còn năng, sở, bỉ, thử đối đãi thì còn nhiễm ô nên gọi là trần cấu. Nói cách khác, hành giả nếu dụng cái biết trừ ngã tức là chưa thoát ly được vọng, ấy là còn vướng trong 4 tướng. Cũng như nước nóng làm tiêu băng, khi băng tiêu rồi thì nóng cũng không, chỉ còn nước.
Tóm lại, khi phân biệt chấp là ta là ngã tướng. Khi phá ngã tướng mà còn trí biết mình phá nhân tướng đó là chúng sanh tướng. Khi phá chúng sanh tướng còn trí biết mình phá chúng sanh tướng. Cái trí này vẫn tiếp tục tu các nghiệp vô lậu chưa thể đoạn huyễn tâm cũng như mạng căn âm thầm tương tục để tồn tại chưa thể tự đoạn, nên gọi là thọ tướng. Tóm lại:
“ Chứng là ngã tướng
Ngộ là nhân tướng
Liễu là chúng sanh tướng
Giác là thọ mạng tướng”
Sau khi đã dậy rõ 4 tướng, Đức Phật Như Lai ân cần căn dặn rằng: Người tu đạo mà chẳng cần hiểu 4 tướng thì dù có trải qua nhiều kiếp cần khổ tu hành cũng chỉ là nhân sanh diệt của thế gian, chẳng khác nào người nấu cát thành cơm, dù tốn nhiều thời gian chăng nữa cũng không thành cơm được, vì gốc nó vốn là cát. Thật vậy, nếu hệ thuộc nhân thế gian thì chẳng bao giờ thành được nhân chánh quả của xuất thế gian. Vì sao vậy? Bởi vì nhận lầm ngã tướng làm niết bàn. Tựa như nhận giặc làm con, tuy đã không được nhờ đỡ mà ngược lại còn bị nó phá hoại nữa.
Nếu bảo: có chứng, có ngộ là chưa rời được ngã tướng. Đó chỉ là vọng nhận ngã tướng thì chẳng thể nào được giải thoát, cho nên tu nhiều kiếp vẫn chưa thành thánh quả là như vậy.
Thế nên kinh dậy:
“ Này thiện nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp chẳng rõ 4 tướng, tuy có trải nhiều kiếp cần khổ tu hành mà chỉ được hữu vị quả, trọn chẳng thể nào thành chánh quả. Vì thế gọi là chánh pháp mạt thế. Vì sao vậy? Vì nhận tất cả ngã cho là niết bàn, vì chấp có chứng có ngộ để gọi là thành tựu, chẳng khác nào nhận giặc làm con, của cải trong nhà không sao giữ được”.
Trong khi tu đạo hành giả còn đem tâm yêu ghét là còn ngã tướng. Còn ngã tướng tất nhiên không bao giờ được giải thoát. Vì sao? Vì ngã tướng là gốc của sanh tử luân hồi. Ngay cả vấn đề ghét sanh tử cũng là cái nhân hệ luỵ trói buộc. Yêu niết bàn nên niết bàn trở thành pháp ái. Tu hành như vậy làm sao được giải thoát? Thế nên kinh dậy:
“ Vì cái ưa muốn ngã, cũng là cái ưa muốn niết bàn, hàng phục cái ta ưa muốn cho là tướng niết bàn. Lại có người ghét ngã cũng ghét sanh tử, mà chẳng biết rằng cái ưa muốn chính thật là sanh tử. Nếu chỉ riêng ghét sanh tử mà chẳng diệt cái ưa muốn thì gọi là chẳng giải thoát”.
Như vậy làm sao biết được pháp không giải thoát? Bởi lẽ niết bàn là pháp tịch diệt. Nếu ái niết bàn cầu giải thoát, như vậy là còn chấp ở pháp. Đã chấp đương nhiên là chẳng giải thoát. Hơn nữa, trong 4 phần chứng ngộ, liễu, giác hành giả vừa mới chứng được chút đỉnh tự cho là thanh tịnh, thì vẫn còn vướng vào hệ luỵ của ngã tướng. Ngã
tướng lắm khi tàng ẩn trong tạng thức của ta. Gặp cảnh thuận nghịch nó thường xuất đầu lộ diện, lai vãng nơi 6 căn. Có thể quan sát và suy nghiệm ngay trong tâm ngã chấp của mình cũng đủ rõ. Khi được khen ta sanh tâm hoan hỉ, khi bị chê bai ta đem tâm oán giận. Đó chính là lộ trình của ngã tướng xuất hiện. Người tu hành nếu không trừ được ngã tướng, thì không thể vào được biển tịch diệt viên giác.
Ngã tướng như vậy thật là bước trở ngại lớn trên đường tu đạo. Người tu đạo được khen không mừng, bị người chê chẳng buồn vẫn còn chưa hết ngã tướng. Nếu thật đã hết chấp ngã thì trong khi được khen bị chê vẫn không thấy có người khen chê, như vậy mới gọi là vô ngã. Trong khi thuyết pháp còn thấy có ta thuyết, có ta tế độ, thế là ngã tướng chưa đoạn. Chừng nào không còn thấy ta thuyết đạo, không còn có thấy người nghe đạo, không thấy có ta tế độ, lúc đó mới gọi là vô ngã.
Thế nên kinh dậy:
“ Này thiện nam tử! nếu biết ngã là không, thời không huỷ hoại ngã. Có cái ngã thuyết pháp là chưa bỏ được ngã. Chúng sanh thọ mạng cũng y như thế”.
Trên bước đường tu đạo, ngã tướng được coi như trọng bệnh của hành giả. Nếu không trừ được trọng bệnh này thì càng tu ngã tướng lại càng tăng trưởng. Do vậy mới phát sinh ra những điều nhầm lẫn. Nhận công đức của Phật làm công đức của mình, bởi mang cặp kính mầu khởi dụng tâm phân biệt chấp chặt vào ngôn giáo nên mới lấy chỗ hiểu và hạnh tu của Như Lai làm hạnh tu của mình. Dụng tâm như vậy là không biết rõ 4 tướng ẩn tàng trong thức nên chẳng
được thanh tịnh hành giả. Do đó mà vẫn luẩn quẩn trong vòng sanh tử luân hồi.
Cũng vì ngã tướng chưa đoạn nên trong lúc tu đạo hành giả thấy được kết quả đôi phần, lại sanh tâm kiêu mạn, chưa chứng nói chứng, hoặc thấy người hơn mình lại sanh tâm tật đố. Do vậy mà chưa đoạn được vi tế tướng của ngã ái. Vì thế nên chẳng vào được viên giác thanh tịnh.
Thế nên kinh dậy:
“ Này thiện nam tử! chúng sanh đời mạt pháp thuyết bệnh mà cho là pháp. Thế nên gọi là người đáng thương xót. Dầu có siêng năng tinh tấn mà chỉ tăng thêm bệnh. Vì vậy chẳng vào được giác thanh tịnh. Chẳng rõ được 4 tướng, lại lấy chỗ hiếu và hạnh tu Như Lai làm hạnh tu của mình, thì chẳng lúc nào được thành tựu. Hoặc chưa được nói được, chưa chứng nói chứng, thấy có người hơn mình sanh tâm tật đố. Chúng sanh này chưa đoạn được ngã ái, nên chẳng thể vào được viên giác thanh tịnh”.
Cuối cùng Đức Phật khuyến giới làm lộ trình tu hành.
- Muốn được đạo dứt khoát phải trừ cho được 4 tướng. Nếu học rộng nói suông mà không tu thì chỉ tăng thêm ngã kiến.
- Phải mạnh dạn hàng phục phiền não tức là hiểu biết 4 tướng đều không. Phải phát tâm dũng mãnh siêng tu thiện pháp, đoạn trừ ác pháp. Đối cảnh nghịch không sanh phiền não. Và phải vận dụng tâm đoạn cho được các pháp chướng ngại trong cảnh điên đảo. Như vậy chỉ có tự mình mới chứng nghiệm được căn bản của phiền não, của tham, sân, si, mạn, yêu, ghét, tật, đố, siểm nịnh…chứng nghiệm được
điều này thời thân tâm an định. “ Ta cùng với người ân nghĩa yêu mến, tất cả đều tịch diệt”. Nghĩa là vọng niệm không sanh, chân tâm hiển lộ.
Phải nhận thức rằng: khi căn bản của ngã tướng chưa trừ thì đó là chướng đạo. Nắm vững được điều này khi cầu thiện tri thức mà đem tâm phân biệt giầu – nghèo – sang – hèn…ấy là ngã tướng vẫn còn, ắt khó vào được biển giác thanh tịnh.
Thế nên kinh dậy:
“ Nếu chỗ sở cầu có tâm yêu ghét thì chẳng vào được biển giác thanh tịnh”.