Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Phương Quảng Viên Giác Kinh

Đại Phương Quảng Viên Giác Kinh

Tác giả: Hòa Thượng Pháp Sư - Thích Thiện Trí. Năm xuất bản: 2016. Số trang: 155.

Chương 11: Chương Phổ Giác (Trang 123 - 133)

CHƯƠNG PHỔ GIÁC

 
DỊCH NGHĨA:
Lúc bấy giờ Bồ Tát Phổ Giác ở giữa đại chúng rời chỗ ngồi đứng dậy, đến đảnh lễ dưới chân Phật, đi quanh bên hữu 3 vòng, rồi quỳ thẳng chắp tay mà tác bạch:
Bạch Đấng Đại Bi Thế Tôn! Ngài đã dậy một cách thích thú về bệnh của thiền quán khiến cho đại chúng được sự chưa từng có, làm cho tâm ý thư thái hoàn toàn thanh tịnh an ổn.
Bạch Đức Thế Tôn! Chúng sanh đời mạt pháp cách Phật quá xa, hiền thánh ẩn khuất, tà pháp càng tăng. Con xin Ngài dậy cho họ biết nên cầu hạng người nào? Y theo pháp nào? Để cho chúng sanh mù quáng khỏi tà kiến.
Tác bạch rồi Bồ Tát Phổ Giác 5 vóc giéo xuống đất lặp đi lặp lại như vậy 3 lần.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Ngài Bồ Tát Phổ Nhãn rằng: Lành thay! Lành thay!
Này thiện nam tử! Ông có thể hỏi Như Lai về sự tu hành như vậy, khiến cho chúng sanh đời mạt pháp đạo nhãn vô uý được thành thánh đạo. Ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì ông nói rõ.
Bồ Tát Phổ Nhãn cùng đại chúng hoan hỉ vâng lời, yên lặng lắng nghe.
Này thiện nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp nếu sắp phát tâm lớn thì cầu thiện tri thức. Nếu muốn tu hành thì
cầu người chánh tri kiến, tâm chẳng trụ ở tướng, chẳng chấp trước cảnh giới nhị thừa. Tuy là hiện trần lao mà tâm thường thanh tịnh, hiện ra có các lỗi mà vẫn tán dương phạm hạnh, không để chúng sanh sa vào chỗ không giới luật uy nghi. Cầu người như thế sẽ được thành tựu vô thượng Bồ Đề.
Chúng sanh đời mạt pháp thấy người như thế phải nên cúng dường chẳng tiếc thân mạng. Thiện tri thức này ở trong 4 uy nghi thường hiện thanh tịnh, cho đến thị hiện các thứ tội lỗi, tâm không kiêu mạn, huống nữa chẳng quan tâm đến của cải, vợ con, thân thuộc. Nếu thiện nam tử đối với bạn lành chẳng khởi ác niệm có năng lực thành tựu chánh giác, bông hoa tâm trí phát sáng 10 phương.
Này thiện nam tử! Cái pháp nhiệm màu của thiện tri thức này chứng không còn có 4 bệnh. Bốn bệnh là gì?
1./ Tác bệnh: nếu có người nói rằng, bản tâm tôi làm ra cái hạnh để cầu giác. Nhưng cái tánh viên giác không phải làm ra mà có được. Nên nói như thế là bệnh.
2./ Nhặm bệnh ( bệnh phó mặc): nếu lại có người nói rằng: chúng tôi không có ý đoạn sanh tử, chẳng cần niết bàn. Đối với niết bàn sanh tử, chẳng có niệm khởi diệt, phó mặc cho tất cả, tuỳ thuận pháp tánh để cầu viên giác. Nhưng tánh viên giác chẳng cầu mà có được. Nên nói như thế là bệnh.
3./ Chỉ bệnh ( bệnh căn): Nếu lại có người nói rằng: Tự tâm tôi, tôi dứt hết các niệm, được tất cả các bình đẳng. Tịch diệt để cầu viên giác. Nhưng tính viên giác chẳng phải hiệp với tâm ngăn mà có được. Nên nói như thế là bệnh.
4./ Diệt bệnh ( bệnh dứt): nếu có người nói rằng: Tôi diệt hết tất cả phiền não, thân tâm hoàn toàn trống rỗng, không có gì là cái của mình, huống chi cảnh giới căn trần hư vọng. Tất cả đều vắng lặng để cầu viên giác. Nhưng tánh viên giác chẳng phải tướng tịch. Nên nói như thế là bệnh.
Không có 4 bệnh này thì  biết rõ thanh tịnh. Quán như thế gọi là chánh quán. Nếu quán khác đi gọi là tà quán.
Này thiện nam tử! Chúng sanh đời mạt pháp muốn tu hành thì phải hết mình cúng dường thiện hữu, tôn thờ thiện tri thức, thiện tri thức nếu muốn gần gũi thì phải đoạn tâm kiêu mạn. Nếu thiện hữu tránh xa mình thì phải đoạn tâm sân hận, hoặc hiện cảnh nghịch thuận thì cũng xem như hư không, biết rõ thân tâm thảy bình đẳng, cùng với chúng sanh đồng thể không khác, tu hành như thế mới vào viên giác.
Này thiện nam tử! chúng sanh đời mạt pháp chẳng được thành đạo là vì chừa tất cả hạt giống yêu ghét từ vô thỉ cho nên chưa được giải thoát. Nếu có kẻ xem người thù oán như cha mẹ mình, tâm chẳng có hai, thì trừ được các bệnh. Ở trong các pháp yêu, ghét, mình, người, cũng như vậy.
Này thiện nam tử! chúng sanh đời mạt pháp muốn cầu viên giác, nên phát tâm như thế này: “ Tất cả chúng sanh tận cõi hư không, tôi đều khiến cho được vào viên giác hoàn toàn. Ở trong viên giác, chẳng thủ giác mà đoạn trừ tất cả tướng ngã nhân”. Phát tâm như vậy chẳng lạc vào tà kiến.
Bấy giờ Đức Thế Tôn muốn lặp lại ý nghĩa này nên nói kệ rằng:
“ Phổ Giác ông nên biết
Các chung sanh đời mạt
Muốn cầu thiện tri thức
Cần phải cầu chánh kiến
Tâm xa pháp nhị thừa
Trong pháp trừ bốn bệnh
Tác, chỉ, niệm và diệt
Gần gũi không kiêu mạn
Tránh xa không giận hờn
Thấy tất cả cảnh giới
Phải sanh tâm hy hữu
Cũng như Phật xuất thế
Chẳng hề trái luật nghi
Gốc giới thường thanh tịnh
Độ tất cả chúng sanh
Hết thảy vào viên giác
Không có tướng ngã nhân
Thường y chánh trí huệ
Để vượt qua tà kiến
Chánh giác nhập niết bàn”.

 
CHÚ THÍCH:
- Tâm hoa: đem hoa dụ cho tính chất thanh tịnh của bản tâm gọi là tâm hoa. Vậy tâm hoa chỉ cho bản thể thanh tịnh.
LƯỢC GIẢI:
Phổ Giác là vị Bồ Tát giác ngộ cùng khắp thế giới nên Ngài biết rõ trên lộ trình tu hành, hành giả đương nhiên gặp nhiều chướng ngại. Nhưng, những chướng ngại ấy đều do chấp 4 tướng mà sanh ra.
Bởi chấp 4 tướng nên hành giả bị mây mờ vô minh che mặt trăng bản thể viên giác nên viên giác chẳng thể chiếu soi phổ biến được. Bởi vậy Ngài Bồ Tát thương xót chúng sanh đời sau cách xa Phật, xa pháp, chư vị thánh hiền thì ẩn cư, ngoại đạo tà sư thì thịnh hành khiến cho hành giả dễ lạc vào tà kiến, nên đứng lên cầu Phật chỉ dậy cho 5 điều.
Hành giả phải cầu hạng người nào làm minh sư?
Y theo pháp môn nào để tu?
Phải làm những hạnh gì?
Trừ bỏ những bệnh gì?
Phát tâm thế nào?
Lời thưa thỉnh cầu của Bồ Tát Phổ Giác được Đức Thế Tôn hứa khả và Ngài bắt đầu khai thị.
Trước hết, Phật chỉ rõ hành giả muốn được thành tựu Thánh Quả khỏi sợ sa vào tà kiến, cần phải có đạo nhẫn vô uý. Đạo nhẫn vô uý là kim chỉ nam định hướng cho con người chánh tri kiến.
Người tu Phật thừa phải lấy đại bi tâm làm nhân, lấy việc cầu thiện tri thức làm duyên. Nếu có nội nhân mà thiếu ngoại duyên hoặc ngược lại ắt khó thành tựu.
Song việc cầu thiện tri thức phải là người chánh tri kiến. Làm sao để nhận xét người đó là chánh tri kiến? Hành giả phải áp dụng phương pháp thuận và nghịch cảnh mới quan sát được.
1./ Nhận xét về cảnh thuận:
Phải nhận rằng thiện tri thức là chánh tri kiến, tất nhiên không trụ tướng, tức là xa lìa được tâm cầu phước báu nhơn thiên. Tâm không được nhiễm cảnh giới nhị thừa tức là xa lìa được cái tâm chuyển tu lợi tiêu cực của hàng Thanh Văn, Duyên Giác.
2./ Nhận xét về cảnh nghịch:
Phải nhận thức rằng thiện tri thức vì lợi ích chúng sanh mà phải hiện thân trong cảnh trần lao mà tâm vẫn thường thanh tịnh. Lắm khi vị thiện tri thức này thực hành đồng sự để dễ bề nhiếp hoá nên thị hiện làm việc lỗi chúng sanh, nhưng không dùng lý luận để bào chữa lỗi mình. Trái lại, hẳn tán dương hạnh thanh tịnh và tự giác lỗi lầm của mình. Hành động như vậy là y chỉ pháp được của Phật để đối trị.
Một khi đã tìm được người như vậy mà tâm tôn làm thầy bạn, thì phải tận tâm tận lực cúng dường chẳng kể thân mạng.
Nên biết rằng sự thị hiện của vị thiện tri thức đều là dùng phương tiện giáo hoá chúng sanh.
Nếu là thuận hành ở trong 4 oai nghi thì đó là chuẩn tắc cho chúng sanh noi theo.
Nếu là nghịch hành, thì đó cũng vì chúng sanh tội lỗi mà thị hiện các lỗi, vẫn không sanh tâm kiêu mạn, chẳng tham trước tài sản, hình thức, vợ con. Như trường hợp Duy Ma Cật là một điển hình. Người vẫn sống đời như thường tình thế gian mà đạo hạnh thì cao vút vô ngần.
Như vậy đối cảnh thuận nghịch chỉ là phương tiện giả hiện. Khi tâm địa thanh tịnh thì chánh niệm thuần thục tức ly ác niệm, ấy là tuỳ nhơn cảm quả khế hợp chân tâm. Lúc đó “ Thì có năng lực thành tựu chánh giác, bông hoa tâm trí phát sáng chiếu soi 10 phương”. Đó là Đức Phật chỉ giáo về câu hỏi thứ nhất của Ngài Phổ Giác: “ Hành giả cầu hạng người nào là minh sư?”.
Câu hỏi thứ hai: Y theo pháp môn nào để tu?
Phải y cứ vào “ cái pháp nhiệm màu của thiện tri thức này chứng mà tu tập thì chẳng có 4 bệnh. Đó là điều chánh được y chỉ vì nó ly được 4 bệnh.
1./ Tác bệnh: Tác có nghĩa là làm. Muốn cầu viên giác mà khởi tâm tạo tức là vọng là tác hạnh lành để cầu nhập viên giác thì ắt chẳng thành. Vì sao vậy? Vì tánh viên giác ấy là thanh tịnh vô vi mà hành giả lại dùng pháp hữu vi để cầu pháp vô vi thì chẳng biết rằng: hễ chấp tạo tác thì đã trái với giác tánh.
Thế nên kinh dậy:
“ Nếu có người nói rằng: bản tâm tôi làm ra các hạnh là để cầu viên giác. Nhưng cái tánh viên giác không phải làm ra mà có được. Nên nói như thế là tác bệnh”.
2./ Nhậm bệnh: Có nghĩa là bệnh tự nhiên, phó mặc. Nhậm bệnh khác với tác bệnh. Một bên làm tất cả hạnh lành để mong cầu. Một bên chẳng làm gì hết mà mong cầu, được xem là buông thả thân tâm. Vì nhậm bệnh nên hành giả chẳng lo diệt sanh tử, chẳng ham niết bàn, pháp chơn, pháp vọng chẳng quan tâm nên không có niệm khởi diệt, để mặc tự nhiên nghiệp lực xoay chuyển. Ấy là lấy cái tâm tự nhiên mặc nó để cầu viên giác. Đem tâm cầu như vậy chẳng nhập được viên giác. Vì thế nên gọi là nhậm bệnh.
3./ Chỉ bệnh: Tức là ngăn vọng niệm. Hành giả nhận thấy tác bệnh và nhậm bệnh chẳng được giác tánh. Vì tác làm cho tâm khởi, nhậm làm cho buông thả, nên áp dụng phương pháp chỉ. Thật ra hành giả chưa nắm vững chỉ trong quán pháp xa ma tha của Bồ Tát nên dùng chỉ để dứt vọng niệm. Có ngờ đâu vọng niệm càng ngăn dứt thì càng dấy động lên nhiều. Vì ngay nơi tâm dứt niệm vẫn là vọng niệm, tức là trái với giác tâm vô niệm. Như thế đem tâm này mà cầu viên giác nên chẳng nhập được. Thế nên gọi là chỉ bệnh.
4./ Diệt bệnh: chữ diệt ở đây nghĩa là vắng lặng. Thật ra tánh viên giác là “ Giác thể minh linh, tịch chiếu bất nhị”. Nay hành giả chỉ đoạn phiền não tức là chỉ trông lặng dứt mà mất đi cái tánh minh chiếu, tất nhiên có chỉ, có tịch thì chẳng hợp được với tánh viên giác. Thế nên gọi là diệt bệnh.
Nhận rõ được 4 bệnh này, người cầu đạo phải cố gắng lìa cho được. Lìa được là biết nương vào pháp mà vị thiện tri thức chỉ bầy để vào chánh quán, ngược lại là tà quán.
Thế nên kinh dậy:
“ Không có 4 bệnh này, thì biết đó là thanh tịnh. Quán như thế gọi là chánh quán. Nếu quán khác đi gọi là tà quán”.
Câu hỏi thứ ba: Phải làm những hạnh gì? Bồ Tát Hạnh thật là vô lượng, vô biên. Ở đây cốt lấy thờ thầy làm quý. Đời mạt pháp, pháp nhược ma cường, nếu chẳng có minh sư chỉ dậy tất nhiên không sao tránh khỏi tà kiến. Do vậy hành giả phải đem hết thân mạng mà cúng dường thiện tri thức.
Thiện tri thức dù hiện cảnh giới thuận hay nghịch với ý mình, tâm hành giả phải một niệm tôn kính, quyết không thay đổi, khác nào như hư không bình đẳng bất động.
Phải nhận thức rằng: Thầy, bạn, chúng sanh và mình vốn đồng thể viên giác. Liễu được như vậy mà có tâm thiện hành thiện pháp. Nhờ thầy có thể khuất tiết, độ chúng sanh có thể vọng thân. Đó chính là tuỳ thuận giác vậy. Đó chính là kính lễ “ Pháp pháp sư” vậy.
Câu hỏi thứ tư: Trừ bỏ những bệnh gì? Ấy là trừ bỏ những bệnh thương, ghét. Ở đây Phật dậy về phần vi tế tức là chủng tử. Chúng sanh sở dĩ trôi lăn trong dòng sanh tử, nguyên nhân từ vô thỉ đến nay do những tạp niệm ta, người và thương, ghét làm chủng tử. Với chủng tử này thiện hiện hành duyên xúc, chấp thủ.
Do vậy mà lúc cầu minh sư lại sinh ra thương, ghét, khinh, trọng dẫn đến lúc nghe pháp sinh ra yêu ghét và thủ xả. Đây chính là chướng ngại cho đạo. Vì thế mà tất cả chủng tử cũng gọi là bệnh. Vậy thì hành giả phải nắm lấy phần cốt lõi là phải trừ bỏ bệnh chấp ngã, chấp nhận và yêu ghét, phải dụng tâm bình đẳng mà hành xử. Với kẻ oan gia xem như cha mẹ. Với sanh tử và niết bàn là chẳng hai, chẳng khác. Được vậy, mới đoạn được cái chủng tử nhân ngã và yêu ghét. Chừng đó mới có thể nhập được viên giác thanh tịnh. Thế nên kinh dậy:
“ Chúng sanh đời mạt pháp chẳng được thành đạo là vì chứa tất cả hạt giống yêu, ghét, mình, người có từ vô thỉ. Cho nên chưa được giải thoát. Nếu có kẻ xem người thù oán như cha mẹ mình, tâm chẳng có hai, thì trừ được các bệnh. Ở trong các pháp yêu ghét, mình, người cũng y như vậy”.
Câu hỏi thứ năm: phải phát tâm như thế nào? Phát tâm tức là phát lời nguyện để lập chí tịnh tâm cho sự tu hành mới được thành tựu.
1./ Phát tâm rộng lớn: nguyện độ tất cả chúng sanh tận cõi hư không.
2./ Phát tâm cứu cánh: Độ chúng sanh viên giác tánh rốt ráo.
3./ Phát tâm chơn thường: Ở trong viên giác không có thủ giác.
4./ Phát tâm điên đảo: Trừ tất cả các bệnh nhân, ngã, chúng sanh, thọ mạng vi tế. Phát tâm như thế là do bi và trí
hoạt động ở cùng lúc làm động cơ cho sự tu hành nên chẳng lạc vào tà kiến.
Thế nên kinh dậy:
“ Chúng sanh đời mạt, muốn cầu viên giác, nên phát tâm như vậy: Tất cả chúng sanh tận cõi hư không, tôi đều làm cho được viên giác hoàn toàn. Ở trong viên giác không có thủ giác, trừ tất cả tướng nhân, ngã, phát tâm như vậy chẳng lạc vào tà kiến”.
/14
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »