Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Phương Quảng Viên Giác Kinh

Đại Phương Quảng Viên Giác Kinh

Tác giả: Hòa Thượng Pháp Sư - Thích Thiện Trí. Năm xuất bản: 2016. Số trang: 155.

Chương 12: Chương Viên Giác (Trang 134 - 143)

CHƯƠNG VIÊN GIÁC

 
DỊCH NGHĨA:
Lúc bấy giờ Bồ Tát Viên Giác ở giữa đại chúng rời chỗ ngồi đứng dậy, đến đảnh lễ dưới chân Phật, đi quanh bên hữu ba vòng, rồi quỳ thẳng chắp tay mà tác bạch.
Bạch Đấng Đại Bi Tôn! Ngài đã vì chúng con rộng nói các phương tiện để nhập viên giác thanh tịnh, khiến cho chúng sanh đời mạt pháp được lợi ích lớn.
Bạch Đức Thế Tôn! Chúng con hiện nay đã được tỏ ngộ. Nếu sau khi Phật nhập diệt, chúng sanh đời mạt pháp chưa được tỏ ngộ, làm sao an cư tu tập cảnh giới viên giác thanh tịnh?
Ba loại pháp quán thanh tịnh trong viên giác phải tu pháp nào trước?
Cúi xin Đức Đại Bi vì chúng sanh đời mạt, bố thí cho chúng con được lợi ích lớn. Tác bạch rồi Bồ Tát Viên Giác 5 vóc gieo xuống đất lặp đi lặp lại 3 lần.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Ngài Viên Giác Bồ Tát rằng: Lành thay! Lành thay!
Này thiện nam tử! Ông có thể hỏi Như Lai phương tiện tu hành như thế đem lại lợi ích cho các chúng sanh. Ông hãy lắng nghe, ta sẽ vì ông mà nói rõ.
Bồ Tát Viên Giác cùng đại chúng hoan hỉ vâng lời yên lặng lắng nghe.
Này thiện nam tử! Khi Phật còn tại thế, hoặc sau khi Phật nhập diệt, hoặc đương hồi mạt pháp, nếu chúng sanh có đủ căn tánh Phật thừa, tín tâm đại viên giác của Phật, phát tâm tu hành như vậy, ở tự viện trông coi đồ chúng, hoặc có những duyên sự khác không thể duyn6 tu tập được vì tuỳ Phật phán xét các pháp môn Như Lai đã dậy ở trước. Nếu không có nhân duyên gì khác thì thiết lập đạo tràng mà an cư, với 3 kỳ hạn: nếu lúc Phật nhập diệt thì an trí hình tượng, mắt nhìn, tâm tưởng nhớ, kính đồng như Phật còn tại thế. Trải qua 21 ngày, kính lạy hồng danh Phật đà 10 phương, tha thiết sám hối, cảm được cảnh giới tốt, thì tâm thư thái. Qua 21 ngày thì phải chuyên nhiếp vọng niệm.
Nếu vào đầu hạ, 3 tháng an cư phải cấm túc theo hạnh thanh tịnh của hàng Bồ Tát. Tâm lìa tư tưởng của Thanh Văn, không dựa đồ chúng. Đến ngày an cư, đứng trước hình tượng Như Lai mà tác bạch rằng:
Nay con là tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà di, nguyện tu theo hạnh tịch diệt của Bồ Tát thừa, đồng nhập thật tướng, lấy đại viên giác làm tự viện. Cả thân tâm an cư nơi bình đẳng tánh trí, tự tánh niết bàn, không có hệ thuộc xứ sở.
Con nay chẳng y theo thanh văn, con cung kính cầu thỉnh 10 phương chư Phật và chư đại Bồ Tát cùng với con đồng làm pháp an cư 3 tháng, chính là nhân duyên lớn để tu tập diệu giác vô thượng của Bồ Tát, không phải bó buộc theo đồ chúng.
Này thiện nam tử! chúng sanh đời mạt muốn tu hành để sâu đạo Bồ Tát vào 3 thời kỳ ấy mà chẳng phải như tất cả cảnh giới đã được chỉ dậy thì chẳng nên nhận lấy.
Này thiện nam tử! nếu chúng sanh tu tam ma bát đề, trước hết phải nhớ 10 phương chư Phật và chư vị Bồ Tát rồi y theo các pháp môn mà siêng năng cần khổ tuần tự tu hành tam muội, rộng phát đại nguyện, tự huân tập thành chủng tử. Nếu chẳng phải như tất cả cảnh giới đã được chỉ dậy thì chẳng nhận lấy.
Này thiện nam tử! nếu chúng sanh tu thiền na, trước hết phải biết quán sổ tức, ở trong tâm biết ra được mỗi niệm sanh, trụ, dị, diệt, chừng ấy số lượng cho đến khắp cả 4 uy nghi, phân biệt niệm số hết thảy đều hiểu suốt, lần lượt tiến lên, cho đến biết như biết rõ từng hạt mưa ở trong trăm nghìn thế giới, cũng như trước mắt thấy vật thọ dụng. Nếu không phải như tất cả cảnh giới đã được chỉ dậy thì không nên nhận lấy.
Đây là phương tiện đầu tiên của 3 pháp quán. Nếu chúng sanh tu cả 3 quán, siêng làm, tinh tấn, thì được gọi là Phật xuất hiện ở đời.
Nếu đời mạt thế, chúng sanh căn độn, tâm muốn cầu đạo mà không thành tựu, ấy là các nghiệp chướng xưa kia, nên phải ân cần sám hối, thường sanh tâm mong muốn đoạn trừ phiền não, thương, ghét, tật đố, siểm nịnh, rồi cầu các tâm từ thù thắng vô thượng. Đối 3 pháp quán thanh tịnh này, chọn 1 pháp để tu, nếu tu pháp quán này không thành tựu, thì tu pháp quán khác, phải lần lượt cầu chứng, chớ nên thối tâm buông thả.
Bấy giờ Đức Thế Tôn muốn lặp lại ý nghĩa này mới nói kệ rằng:
“ Viên Giác ông nên biết
Tất cả chúng vô sanh
Muốn cầu đạo vô thượng
Trước lập ba thời kỳ
Sám hối nghiệp vô thỉ
Trải qua hai mốt ngày
Sau mới chánh tư duy
Chẳng phải cảnh được nghe
Hoàn toàn không nên nhận
Xa ma tha cực tĩnh
Tam ma chánh nhớ nghĩ
Thiền na biết sổ tức
Ấy là ba tịnh quán
Nếu siêng năng tu tập
Gọi là Phật xuất thế
Kế căn độn chưa thành
Thường ân cần sám hối
Tất cả tội vô thỉ
Các chướng nếu tiêu trừ
Cảnh Phật ấy hiện liền”.
LƯỢC GIẢNG:
Lộ trình tu hành cố nhiên không phải tu nhất hành mà chứng nhập được viên giác. Hành giả quyết phải tinh tấn và hướng mãi, chẳng khác nào đi từ bậc thang thứ nhất lần lượt tiến đến bậc thang cuối cùng. Hành giả trên lộ trình tu cũng như người lau gương, càng lau gương thì càng sáng, sáng đến chỗ hoàn toàn chỉ còn lại một khối tinh thể. Nếu ở chương Tịnh Chư Nghiệp Chướng phải phủi sạch hết các chướng phiền não, nhưng giác tánh chưa được phổ biến. Đến chương viên giác thì giác tánh mới hoàn toàn viên mãn, tức là hướng dẫn đến sự tướng hành trì. Bởi lẽ sự chưa tròn thì lý chưa viên. Thế nên một lần nữa Bồ Tát Viên Giác lại đứng lên cầu Phật khai thị.
“ Nếu sau khi Phật nhập diệt, chúng sanh đời mạt chưa tỏ ngộ, thì làm sao an cư tu tập cảnh giới viên giác thanh tịnh? Ba loại quán pháp thanh tịnh trong viên giác phải tu pháp nào trước?”.
Lời nói của Bồ Tát Viên Giác được Đức Thế Tôn hứa khả và bắt đầu khai thị. ( trước hết Ngài dậy về pháp an cư).
Đây là pháp nói về hành trì. Muốn có hiệu quả trong việc tu tập 3 thiền quán, trước hết Ngài dậy về pháp an cư. Đây chính là pháp nói về sự tướng hành trì.
Với pháp môn này hành giả nếu vì một duyên sự nào đó không thể chuyên tâm tu tập được, thì tuỳ theo khả năng của mình đến quán sát tư duy về 3 thiền quán mà Đức Phật đã dậy rõ ràng trong chương Phổ Nhãn.
Nếu chẳng có duyên sự gì thì hành giả phải kiến lập đạo tràng và phân kỳ mà tu tập, tức là tập tu dung tâm tế. Khi đã trang nghiêm không gian và thời gian, ấy là hiển
dụng không gian và thời gian để tinh thần nhất quán không cho vọng động dấy khởi. Đó là lập hạnh noi theo Đức Bổn Sư dụng gốc Bồ Đề làm đạo tràng và phát khởi nguyện: “ Nếu ta không thành chánh giác thì không rời khỏi chỗ này”.
Khi Phật tại thế, hành giả thiết trí đạo tràng chỉ trên tư duy chánh niệm là đủ rồi.
Khi Phật nhập diệt, hành giả thiết trí đạo tràng để làm tiêu dịch cho tâm mục mà tư duy chánh niệm. Phải quán niệm quán thân thương trí. Khởi đầu Phật dậy tu tập trong 21 ngày ở tịnh thất.
Trong phạm vi 21 ngày, đối với người mới tu, giới đức chưa đủ, thân tâm chưa được thanh tịnh, chưa đủ năng lực tu tịnh huệ. Do vậy phải thiết lập đạo tràng, phải trải qua 21 ngày lễ Phật sám hối, nhờ đó mà được tịnh tâm, ấy là do sức cảm ứng Như Lai tâm mà có. Trong 21 ngày, thiện căn tăng trưởng, hành giả sẽ thấy được thân tâm khinh lợi an hoà.
Trải qua 21 ngày kính lạy hồng danh Phật đà 10 phương, tha thiết sám hối, cảm được cảnh giới tốt, thì tâm thư thái.
“ Cảnh giới tốt” ý nói thân tâm đã được phần an định. Đó là công việc nhập đạo tràng lúc ban đầu cần nhất hướng nhiếp niệm.
Tiếp đến Phật dậy an cư 3 tháng theo Bồ Tát thừa.
Ba tháng an cư bắt đầu từ rằm tháng 4 đến rằm tháng 7 âm lịch.
Đối với người phát tâm Bồ Đề tu theo Viên Giác, thì phải an cư theo Bồ Tát hạnh, chẳng phải nghĩ đến luật chế của Thanh Văn. Hành giả luôn luôn an trụ nơi thanh tịnh của Bồ Tát, đó là tâm lìa tự tướng thanh văn, không dựa đồ chúng”.
Nếu tới ngày an cư, hành giả đối trước mặt Phật mà bạch rằng:
“ Nay con là tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc hay ưu bà di, nguyện tu theo hạnh diệt của Bồ Tát thừa, đồng nhật thật tướng lấy đại viên giác làm tự viện, cả thân tâm con an cư nơi bình đẳng tánh trí, tự tánh niết bàn, không có hệ thuộc xứ sở. Nguyện tu theo hạnh tự diệt, thật tướng tức là chân như thật tướng, khế hợp với an cư của viên giác”.
Cả thân tâm con an cư tức là 5 thức của thân không bị trần duyên lôi kéo, nên được an gọi là thành sở tác trí, thức thứ 6 của tâm đã an trụ nơi thanh tịnh thật tướng, nên gọi là diệu quan sát trí. Khi 6 thức đã an thì thức thứ 7 chuyển thành bình đẳng tánh trí. Khi thức thứ 7 đã an không bị phiền động thì đệ bát thức cũng quy tụ về chân như thanh tịnh là tánh đại Viên Giác. Niết bàn tự tánh tức là tự tánh chân như bất sanh bất diệt. Không thuộc hệ xứ sở tức là không chấp trước nơi xứ sở thanh tịnh. Vì tự tánh niết bàn vốn chẳng hệ thuộc.
“ Con nay chẳng y theo thanh văn, con cung kính cầu thỉnh 10 phương chư Phật và chư đại Bồ Tát cùng với con đồng làm pháp an cư 3 tháng, chính là nhân duyên lớn để tu tập diệu giác vô thượng của Bồ Tát, không phải bó buộc theo đồ chúng”.
Sở dĩ không bó buộc theo đồ chúng vì muốn tu diệu giác vô thượng của Bồ Tát. Ấy là hành giả không còn chấp nơi tiểu tiết của bậc nhị thừa. Do không còn chấp nơi tiểu tiết ngã, nhơn, bỉ, thử nên gọi là Bồ Tát thị hiện an cư. Như vậy chẳng bị ràng buộc gì cả nên được tự tại vô ngại.
“ Qua 3 thời kỳ đó thì đâu cũng không ngại”.
Đến đây thì hành giả đã dụng công tu hành, cố nhiên có nhiều hiện tượng xuất hiện. Nếu chúng sanh tâm chấp trước thì dễ mắc vào lưới ngũ ấm. Hành giả phải nghiệm xét những cảnh hiện ra đó có đúng với sự nghe mà Đức Phật hay vị thiện tri thức đã chỉ dậy không. Nếu không hiệp với sự nghe, thì bất luận cảnh giới dù thiện hay ác cũng đều là ngũ ấm ma cả.
“ Nếu chúng sanh đời mạt pháp muốn tu hành cầu đạo Bồ Đề vào 3 thời kỳ ấy mà chẳng phải như tất cả cảnh giới đã được chỉ dậy, thì không nên nhận lấy”.
Nói một cách khác, khi một thân tĩnh thì 1 thế giới tĩnh nên trí giác phát ra cũng từ một thân cho đến khắp cả thế giới. Vì giác khắp cả nên có 1 chúng sanh nào vừa móng niệm là hành giả đều thấy biết rõ ràng. Tĩnh với giác tuy nói khác nhau, nhưng đối với thể tánh thì chẳng có trước sau, vì lẽ 1 thân tĩnh thì ngay đương thể cũng là 1 thân tĩnh giác nên gọi lá một thân giác. Tu xa ma tha khi thấy cảnh giới hiện ra phải đúng như sự thấy nghe mà vị thiện tri thức đã chỉ dậy. Như thế cảnh giới đó mới gọi là chân chánh. Ngược lại là ngũ ấm hiện.
Sau đó Phật thuyết minh về tam ma bát đề. Phải nhận thức rằng: Tu chỉ là vô tướng quán nên phải giữ cho cực tĩnh. Nay tu quán là hữu tướng quán cho nên trước phải
nhớ tưởng tất cả chư Phật và chư vị Bồ Tát 10 phương. Rồi y theo các pháp môn của Phật dậy mà thực hành cho tận lực, lập đạo tràng định kỳ hạn tu. Và phải phát đại nguyện huân tập thành chủng tử.
Trong khi tu tam ma bát đề thấy những cảnh hiện ra, thì cũng giống như đã nói ở phần tu chỉ.
Cuối cùng Phật thuyết minh về chỉ quán song tu ( thiền na).
Với pháp môn này, trước hết hành giả phải biết quán sổ tức, tức là pháp đếm hơi thở, điều hoà hơi thở ra và vào mà ghi rõ những sở. Nhờ vào điều hoà hơi thở nên tâm được tịnh ( chỉ). Tâm tịnh nên những niệm thô tế lúc sanh, trụ, dị, diệt giới hạn của nó dài, ngắn, lâu, chóng nhiều hay ít đều thấy biết ( quán).
Khi tĩnh toạ hành giả phải dụng tâm tu pháp quán như vậy. Pháp quán này khi mới thành hành giả biết được thời gian động tịnh nên những niệm thô tế lúc sanh, trụ, dị, diệt giới hạn của nó dài ngắn, lâu chóng hoặc ít, hoặc nhiều.
Đến khi pháp quán nhuần nhuyễn thì ví như trong trăm ngàn thế giới có bao nhiêu hạt mưa đều đếm được hết, cũng như thấy vật thọ trước mắt vậy.
Nên kinh dậy:
“ Nếu chúng sanh thiền na, trước hết phải biết quán sổ tức, ở trong tâm biết rõ được mỗi niệm sanh, trụ, dị, diệt chừng ngàn số lượng cho đến khắp cả 4 oai nghi phân biệt niệm số thảy đều suốt biết, lần lượt tiến lên cho đến biết như biết từng một hạt mưa trong trăm nghìn thế giới, cũng như trước mắt thấy vật thọ dụng”.
Sau khi kết thúc 3 pháp quán bằng câu: “ Đây là phương tiện đầu tiên của 3 pháp quán”. Tức là đáp thẳng câu hỏi: “ Lấy pháp nào làm trước?”. Chứng tỏ chú trọng ở điểm chỉ bầy nhập thủ phương tiện. Nếu hành giả tu cả 3 pháp quán, siêng làm tinh tấn, tức là đủ hạnh viên giác.
Đủ hạnh viên giác ấy là Phật hạnh nên gọi là “ Như Lai xuất hiện ở đời”.
Còn đối với người tu không được thành tựu là phần nhiều bởi nghiệp chướng đời trước tạo nên. Vì thế cần phải dụng công sám hối. Phải quyết tâm đoạn cho hết yêu, ghét, tật đố, siểm nịnh là những món chướng đạo. Khi trừ được những trở ngại làm chướng đạo, tâm nguyện trở nên thiết tha thì trong 3 pháp quán thanh tịnh, chọn một pháp để tu. Nếu tu pháp này không thành tựu thì tu pháp khác, quyết không thối chuyển, ắt phải tựu thành.
“ Nếu tu pháp quán này, hành giả lại rõ biết các phương tiện dẫn tu ấy là như huyễn, như hoá, như diệm. Hành giả vào thật tướng pháp dung thông tam tế. “ Nội vô sở đắc, ngoại vô sở cầu”. Tâm bất hệ đạo, phi tu, phi chứng. Chẳng cần trải qua các quả vị mà tự nó cao tột. Vì tánh thể viên giác là như vậy. Chư Phật, chư giáo thọ thiện tri thức dậy như vậy và hành giả thứ lớp tu như vậy.
/14
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »