CHƯƠNG DI LẶC
DỊCH NGHĨA:
Lúc bấy giờ, Ngài Di Lặc Bồ Tát ở giữa đại chúng rời chỗ ngồi đứng dậy đến đảnh lễ dưới chân Phật, đi quanh bên hữu 3 vòng rồi quỳ thẳng chắp tay mà tác bạch.
Bạch đấng đại bi Thế Tôn! Ngài đã khai mở một cách rộng rãi kho tàng bí mật, khiến đại chúng sanh ngộ luân hồi, phân biệt tà chánh. Ngài đã ban cho chúng sanh đời mạt pháp đạo nhãn vô uý, khiến họ phát sanh lòng tin quyết định đối với đại niết bàn, không còn trở lại theo cảnh giới luân hồi mà khởi kiến chấp tuần hoàn.
Bạch Đức Thế Tôn! Nếu các Bồ Tát và chúng sanh đời mạt pháp muốn du hành trong biển đại tịch diệt của Như Lai, thì họ phải làm thế nào đoạn trừ được căn bản luân hồi. Trong luân hồi có mấy đẳng cấp? Tu tập Bồ Đề có bao nhiêu chủng tánh? Khi trở lại trần lao độ các chúng sanh phải vận dụng bao nhiêu phương tiện để giáo hoá độ chúng sanh?
Cúi mong đấng Đại Bi Bất Xả khiến cho tất cả Bồ Tát và chúng sanh đời mạt pháp tu hành được mắt tuệ trong sáng gương tâm chiếu soi viên ngộ được tri kiến vô thượng Như Lai. Tác bạch rồi, Bồ Tát Di Lặc năm vóc gieo xuống đất, lặp đi lặp lại như vậy 3 lần.
Bấy giờ Đức Thế Tôn bảo Ngài Di Lặc Bồ Tát rằng: Lành thay! Lành thay! Này thiện nam tử! Ông có thể vì các Bồ Tát và chúng sanh đời mạt pháp mà hỏi Như Lai về ý nghĩa sâu xa vi diệu để cho các Bồ Tát được mắt huệ sáng tỏ và khiến cho tất cả chúng sanh đời mạt pháp dứt hẳn
luân hồi, tâm ngộ thật tướng đủ vô sanh nhẫn. Ông hãy nghe kỹ, ta sẽ vì ông mà nói rõ.
Bồ Tát Di Lặc và tất cả đại chúng vâng lời của Phật yên lặng lắng nghe.
Này thiện nam tử! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay vì có các thú ân ái, tham dục nên có luân hồi.
Các loài sinh bằng thai, sinh bằng trứng, sinh ở ẩm ướt, biến hoá sinh ở trong thế gian đều là do dâm dục mà có tính mệnh. Phải biết “ái” là gốc của luân hồi, bởi có ái dục giúp phát ái tính, mạng nhơn dục có, ái dục là nhân, ái mạng là quả.
Do nơi cảnh dục khởi ra các thứ thuận nghịch. Cảnh trái tâm chẳng ưa thì sinh chán ghét tạo các thứ nghiệp ác. Vì thế mới sinh ra địa ngục, ma quỷ. Biết dục đáng chán mới thích đạo mà chán nghiệp, bỏ ác ưa thiện mà hiện cõi nhơn, thiên. Lại biết ái như vậy nên đáng chán ghét mà bỏ ái ưa xả nghĩa là vẫn trở lại trồng thêm gốc ái nên có những thiện quả tăng trưởng. Tất cả đều là luân hồi chẳng thể trở thành Thánh Đạo. Vì vậy, chúng sanh muốn thoát khỏi sanh tử, luân hồi thì trước hết phải biết tận diệt ái dục.
Này thiện nam tử! Bồ Tát biến hoá thị hiện ở thế gian chẳng phải dùng ái làm gốc, chỉ vì lòng từ bi muốn cho chúng sanh bỏ ái nên giả mượn các tham dục mà vào sanh tử.
Nếu tất cả các chúng sanh đời mạt pháp, có năng lực dứt bỏ tham dục và trừ yêu ghét, dứt hẳn luân hồi bằng cách siêu quần cảnh giới viên giác Như Lai, thì ở nơi tâm thanh tịnh liền được khai ngộ.
Này thiện nam tử! Tất cả chúng sanh bởi gốc tham dục sẵn có rồi phát triển vô minh mà hình thành năm tánh sai biệt chẳng giống nhau, lại y nơi hai chướng mà hiện ra sâu cạn.
Thế nào là 2 chướng?
Một là lý chướng, ngăn cách tri kiến. Hai là sự chướng, tiếp nối sanh tử. Năm tánh là gì?
Này thiện nam tử! Nếu 2 chướng chưa đoạn diệt ấy gọi là chưa thành Phật.
Nếu các chúng sanh loại bỏ tham dục trừ được sự chưa đoạn lý chướng thì có thể ngộ nhập thanh văn, duyên giác, chưa thể nhập vào cảnh giới Bồ Tát.
Này thiện nam tử! Nếu tất cả chúng sanh đời mạt pháp muốn thể nhập đại viên giác Như Lai tạng thì trước hết phải lập nguyện nỗ lực diệt trừ 2 chướng, khi 2 chướng đã hàng phục liền được ngộ nhập vào cảnh giới của Bồ Tát, và nếu 2 chướng đã vĩnh viễn đoạn diệt thì liền được ngộ nhập viên giác vi diệu Như Lai tạng, đầy đủ bồ đề và đại niết bàn.
Này thiện nam tử! Tất cả chúng sanh đều có khả năng chứng ngộ viên giác. Nếu gặp thiện tri thức, rồi y theo nhơn địa của vị đã thực hành mà tu tập thì bấy giờ sự tu tập có đốn, có tiệm. Nhưng nếu gặp đạo Bồ Đề của chư Phật thì đó chính là con đường tu hành chân chánh, nên bất cứ căn cơ nào dù cao hay thấp đều được thành tựu quả vị Phật đà. Còn chúng sanh tuy có cầu thiện hữu, nhưng chẳng may gặp kẻ tà kiến chưa được chánh ngộ, nên rơi vào chủng tính ngoại đạo. Đó là do sự lỗi lầm của tà sự, chẳng phải lỗi ở
chúng sanh. Bởi các nhân duyên như vậy nên gọi là 5 tánh sai biệt của chúng sanh.
Này thiện nam tử! Bồ Tát chỉ lấy đại bi làm phương tiện mà vào các thế gian, khai phát cho những người chưa ngộ, cho đến hiện ra các thứ hình tướng cảnh giới thuận nghịch của họ đồng sự giáo hoá cho họ trở thành Phật đà. Tất cả đều là y nơi nguyện lực thanh tịnh từ vô thỉ.
Nếu tất cả chúng sanh đời mạt pháp đối với đại viên giác, khởi tăng thượng, thì phải phát đại tâm thanh tịnh của Bồ Tát, phải nói như vầy: “ Nguyện cầu ngày nay, trụ trong viên giác của Phật, cầu nguyện tri thức, không gặp ngoại đạo và nhị thừa”. Rồi y theo đại nguyện như vậy mà tu tập, thì dần dần đoạn diệt được 2 chướng. Hai chướng đã diệt thì đại nguyện tròn đầy. Thế là bước lên chánh điện thanh tịnh giải thoát, chứng đại viên giác cõi diệu trang nghiêm.
Bấy giờ Đức Thế Tôn muốn lặp lại nghĩa này nên nói kệ rằng:
“ Di Lặc ông nên biết
Tất cả các chúng sanh
Chẳng được đại giải thoát
Là vì do ái dục
Chìm đắm dòng sanh tử
Nếu đoạn được yêu ghét
Cùng với tham, sân, si
Chẳng nhơn tánh sai biệt
Đều được thành Phật đạo
Hai chướng đều huỷ diệt
Tuỳ thuận nguyện Bồ Tát
Nương nhờ đại niết bàn
Mười phương chư Bồ Tát
Đều lấy nguyện đại bi
Thị hiện vào sanh tử
Người tu hành đời nay
Và chúng sanh đời mạt
Cương quyết đoạn ái kiến
Liền về nơi viên giác.
LƯỢC GIẢI:
Di Lặc Bồ Tát biểu trưng cho duy thức quán, dùng hạnh nguyện lợi tha làm sự nghiệp, biểu thị vạn pháp duy thức làm phương tiện độ sanh. Chính vì hạnh nguyện đó nên Ngài Di Lặc muốn cho Bồ Tát và chúng sanh trong đời mạt pháp quán diệt triệt được vọng kiến sanh tử, dứt trừ huyễn hư tham ái nên Ngài đứng lên thỉnh cầu Phật chỉ dậy cho 4 điều:
-
Làm thế nào đoạn thứ được căn bản luân hồi?
-
Luân hồi có bao nhiêu đẳng cấp?
-
Tu tập Bồ Đề có bao nhiêu chủng tánh?
Có thể nói! Bốn câu thưa thỉnh của Ngài Di Lặc nhằm vào một chủ đích: hành trì lợi sanh. Đó là công việc thiết yếu của Bồ Tát trong đời mạt pháp, từ đó vọng tâm chẳng sanh, luân hồi bắt dứt, đó gọi là vô sanh nhãn. Hành trì ở đây là tuỳ thuận viên giác thanh tịnh, liễu tri được tánh thể các pháp.
Bồ Tát phát đại bi tâm nên hành trì nhằm vào lợi lạc độ sanh. Thế nên Bồ Tát Di Lặc có lời thưa thỉnh trên, được Đức Phật hứa khả và Ngài bắt đầu khai thị.
Này thiện nam tử! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay vì có các thứ ân ái tham dục nên có luân hồi.
Có loài sinh bằng thai, sinh bằng trứng, sinh ở ẩm ướt, biến hoá sinh ở trong thế gian đều là do dâm dục mà có tính mệnh. Phải biết “ái” là gốc của luân hồi, bởi có ái dục giúp phát ái tính, nên khiến cho sinh tử liên tục, dục nhơn ái sinh, mạng nhơn dục có, ái dục là nhân, ái mạng là quả.
Do nơi cảnh dục khởi phát ra các thứ thuận nghịch. Cảnh trái với tâm ái thì sinh chán ghét, tạo các thứ nghiệp ác. Vì thế mới sinh ra địa ngục, ngạ quỷ. Biết dục đáng chán, mới thích đạo mà chán nghiệp, bỏ ác ưa thiện, hiện có cõi nhơn, thiên. Lại biết ái như vậy nên đáng chán ghét mà bỏ ái, ưa xả nghĩa là vẫn trở lại trồng thêm gốc ái, mà có những thiện quả tăng trưởng.
Tất cả đều là luân hồi chẳng thành Thánh Đạo. Vì vậy chúng sanh muốn thoát khỏi sanh tử luân hồi, thì trước hết phải tận diệt ái dục.
Này thiện nam tử! Bồ Tát biến hoá thị hiện ở thế gian chẳng phải dùng ái làm gốc, chỉ vì lòng từ bi muốn cho chúng sanh bỏ ái nên giả mượn các sự tham dục mà vào sanh tử.
Đây là lời khai thị nhằm trực tiếp giải đáp về căn bản luân hồi. Đối với chúng sanh trong đời mạt pháp, muốn đoạn dứt căn bản luân hồi, trước hết phải đoạn dứt ái dục. Ái dục là nguyện động lực tạo nên dòng sinh tử tương tục. Ái ở đây là phải được hiểu là 1 trong 12 nhân duyên. Còn dục hiểu luôn cả nghĩa thô và nghĩa tế của ngữ dục. Cả 4 loài sinh đều mang tính âm dương nên có dâm dục. Do tình dục còn thì sinh mệnh còn, ngược lại xét cho cùng, nguồn gốc của sanh tử khởi điểm từ ái làm duyên cho thủ, thủ làm duyên cho hữu…tiếp nối lưu chuyển không ngừng. Ái là do dục mà phát sinh, dục lại nhờ ái mà nối tiếp. Cho nên ái tính không bao giờ dứt bặt, thì dòng sanh tử vẫn tiếp nối không bao giờ ngừng. “ Ái dục là nhân, ái mệnh là quả”. Xem thế thấy “Ái” là căn bản luân hồi ( đáp câu 1).
Nhưng ái tính khởi phát là do sự trợ dục. Chính điều này mà khởi ra có đẳng cấp luân hồi.
Luân hồi có 3 đẳng cấp: Ác nghiệp, thiện nghiệp và bất động nghiệp.
Do nơi cảnh dục mà khởi ra cái ghét bỏ ưa thích. Như cảnh trái với ái thì phản ứng bằng cách ghét bỏ nên gây các thứ ác nghiệp. Đó chính là lý do có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đây là kết quả do ái ngã mà làm nên việc ác. Nếu biết dục đáng chán ghét và con đường đi của ác nghiệp thì tất nhiên phải tu thiện nghiệp mà dẫn sanh vào chốn nhơn thiên. Đấy là kết quả hành nghiệp thiện mà được như vậy.
Còn bất động nghiệp là do kết quả thiền định cảm nên mà sanh lên cõi trời sắc giới và vô sắc giới ( đáp câu 2).
Còn Bồ Tát vì đại bi tâm mà thực hiện ở thế gian, hành động như thế gian, nhưng vốn hành: tu mà vô tu, vì vốn biết tâm giới là mộng huyễn, ngã và sở đều không. Do vậy mà chẳng “ái trước’, nên chẳng phải do ái làm gốc.
Đến đây Đức Phật khai thị tiếp về câu hỏi thứ 3 của Ngài Di Lặc như sau:
Này thiện nam tử! Tất cả chúng sanh bởi gốc tham dục sẵn có rồi phát triển vô minh mà hình thành 5 tánh sai biết chẳng giống nhau, lại y nơi 2 chướng mà hiện ra sâu cạn.
Thế nào là 2 chướng?
Một là lý chướng, ngăn chánh tri kiến.
Hai là sự chướng, tiếp nối sanh tử.
Năm tánh là gì?
Này thiện nam tử! nếu 2 chướng này được đoạn diệt, ấy gọi là thành Phật.
Nếu các chúng sanh loại bỏ tham dục mới trừ được sự chướng, chưa đoạn lý chướng thì chỉ có thể ngộ nhập thanh văn, duyên giác, chưa thể nhập vào được cảnh giới Bồ Tát.
Này thiện nam tử! Nếu tất cả chúng sanh đời mạt pháp muốn thể nhập đại viên giác Như Lai Tạng thì trước hết phải lập nổ diệt trừ, khi 2 chướng đã hàng phục thì liền được ngộ nhập vào cảnh giới Bồ Tát, và nếu 2 chướng đã vĩnh viễn đoạn diệt thì liền được ngộ nhập viên giác vi diệu Như Lai tạng, đầy đủ Bồ Đề, đại niết bàn.
Này thiện nam tử! Tất cả chúng sanh đều có khả năng chứng tỏ ngộ viên giác. Nếu gặp thiện trí thức rồi y theo nhơn địa của vị đó đã thực hành mà tu hành mà tu tập thì bấy giờ sự tu tập đó có đốn, có tiệm. Nhưng nếu gặp đại Bồ Đề vô thượng của Chư Phật thì đó chính là con đường tu hành chân chánh. Nên bất cứ căn cơ nào dù cao hay thấp đều được thành tựu quả vị Phật đà. Còn chúng sanh tuy có cầu thiện hữu, nhưng chẳng may gặp kẻ tà kiến chưa được chánh ngộ, nên rơi vào chủng tánh ngoại đạo, đó là sự lỗi lầm của tà sư, chẳng phải lỗi ở chúng sanh.
Bởi các nhân duyên như vậy nên gọi là 5 tánh sai biệt của chúng sanh.
Lời dậy trên, trước hết nếu chúng 5 tánh, 5 tánh đều do tham dục sẵn có của tất cả chúng sanh mà có sự sai biết. Vậy thì sự sai biệt nương vào đâu để phán quyết?
Tất nhiên là phải y vào 2 chướng mà có sâu, cạn. vậy 2 chướng là gì? Đó là lý chướng và sự chướng.
-
Lý chướng cũng gọi là sở tri chướng, tức là bị vọng kiền che ngăn nên không nhận được thật tướng các pháp.
-
Sự chướng cũng gọi là phiền não chướng, do chấp có ngã mà khởi ra các phiền não làm trở ngại sự giải thoát.
Năm tánh là gì?
1./ Dị sanh tánh: cũng gọi là phàm phu tánh. Với phàm phu tánh vì chưa biết đoạn chướng nên gọi chung là những người chưa thành Phật.
2./ Nhị thừa tánh: với hàng nhị thừa còn chấp pháp nên đoạn được sự mà chưa đoạn được lý chướng, nên chưa nhập được chủng tánh Bồ Tát.
3./ Bồ Tát tánh: với Bồ Tát tánh trước hết phải phát khởi nguyện lực siêng năng đoạn 2 chướng. Khi sự lý chướng đã đoạn diệt tức đầy đủ Bồ Đề trí đức. Đầy đủ niết bàn là đoạn đức. Khi đoạn đến chỗ cứu cánh là hiện hành Phật quả, liền ngộ nhập cảnh giới viên giác vi diệu của Như Lai Tạng.
4./ Bất định tánh: với bất định tánh muốn cầu đoạn chướng phải cẩn thận cầu thiện tri thức. Tuỳ theo thiện tri thức chỉ dậy mà tu, chứ không nhất định pháp môn nào.
5./ Xiển đề tánh ( ngoại đạo chủng tánh): với xiển để tánh cũng có cầu tuệ giác, nhưng gặp phải ác tri thức nên đành ngoại đạo, chưa được chánh tri kiến.
Như vậy 5 tánh sai biệt này chỉ y cứ vào đoạn chứng sâu cạn mà đã hoặc sẽ thành nên đều có thể tu chứng viên giác. Do thuận hay nghịch mà thành mau hay chậm.
Lời đáp câu hỏi thứ 4 của Ngài Di Lặc “ khi trở lại trần lao độ chúng sanh phải vận dụng bao nhiêu phương tiện để giáo hoá độ sanh?”
Đức Phật khai thị:
“ Này thiện nam tử! Bồ Tát chỉ lấy đại bi tâm làm phương tiện mà vào các thế gian, khai phát cho những người chưa ngộ, cho đến hiện ra các thứ hình tướng, cảnh giới thuận nghịch của họ, đồng sự giáo hoá cho họ trở thành Phật đà. Tất cả đều là y nơi nguyện lực thanh tịnh từ vô thỉ”.
Lời khai thị của Đức Phật tuy ngắn gọn mà rõ ràng minh bạch. Bồ Tát phương tiện nhập cảnh giới luân hồi chỉ cốt dụng tâm đại bi làm gốc. Phương tiện hiện ra các hình tướng để quán cảm ( hiện thân) hoặc dùng ngôn giáo để giáo hoá ( hiện khẩu) hay đồng sự để nhiếp hoá ( hiện đồng sự). Tất cả nhằm vào giáo hoá chúng sanh vào làm chủ đích, mà điểm cơ bản là ở đại bi nguyện lực.
Cuối cùng, căn cứ trên sự lập đại nguyện, rồi y theo đó mà đoạn sự lý chướng. Khi đoạn sự lý chướng đã đoạn diệt, ấy là lúc “ bước lên chánh điện thanh tịnh giải thoát, chứng đại viên giác cõi diệu trang nghiêm”.
PHẦN THỰC TẬP:
Hãy cho biết “ Ái dục có phải là nguyên nhân động lực tạo nên dòng sanh tử tương tục hay chăng? Muốn dứt trừ ái dục chúng ta phải dùng hành pháp gì?