Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Phật học phổ thông 3

Phật học phổ thông 3

Tác giả: Hòa thượng Thích Thiện Hoa. Năm xuất bản: 2012. Số trang: 670.

Chương 32: Khóa IX. Nhơn Minh Luận. Nhơn Minh Luận Cương Yếu. B. Nhơn (Trang 193 - 206)

B. NHƠN

Nhơn là nguyên nhơn hay lý do. Phàm một sự vật hay câu nói gì, cũng đều có nguyên nhơn  hay lý do cả.

Như nói:             - Tôn : Tôi muốn ăn cơm. 
                          - Nhơn: Vì tôi đói bụng vậy (lý do). 

Phàm cái "Nhơn" nào đủ cả ba tánh chất sau đây, mới đúng đắn. Trái lại, nếu thiếu một,  thiếu hai, hoặc thiếu ba, thì cái Nhơn ấy có lỗi. 14 lỗi về Nhơn sau này, cũng bởi thiếu một, hai hoặc ba tánh chất sau đây. Vậy quý vị nên nhớ kỹ ba tánh chất của Nhơn. 
1. Biến thị Tôn pháp tánh. - Nghĩa là: Cái Nhơn phải bao trùm cả Tôn (tánh chất thứ nhứt). 
 

Như Lập:         - Tôn: Tôi muốn ăn cơm. 
                       - Nhơn: Vì tôi đói bụng vậy. 

Cái Nhơn "Vì tôi đói bụng" này, nó trùm được danh từ trước của Tôn là "Tôi muốn"; và cũng trùm được danh từ sau của Tôn là "Ăn cơm". 
Nghĩa là: Vì tôi đói bụng, nên "tôi muốn"; và vì tôi đói bụng, nên "tôi ăn cơm". 
2. Đồng phẩm định hữu tánh. - Nghĩa là cái Nhơn quyết định phải hoàn toàn hoặc ít nhứt là phải có một phần liên quan với Đồng dụ. Nó phải là đồng một tánh chất như Đồng dụ (tánh chất  thứ hai của Nhơn). 

Phật học phổ thông 3
"Như anh A " là đồng dụ. Nghĩa là anh A cũng "vì đói bụng" (Nhơn) nên "muốn ăn cơm" (Tôn).
Cái Nhơn "vì đói bụng" này, hoàn toàn liên quan với Tôn và
Đồng dụ (thí dụ thuận). 
3. Dị phẩm biến vô tánh. - Cái "Nhơn" này đối với Dị dụ (thí dụ về bề trái) phải hoàn toàn  không liên quan; nghĩa là tánh chất của Nhơn, phải hoàn toàn không có trong Dị dụ mới được  (tánh chất thứ ba của Nhơn).   
Phật học phổ thông 3
Cái Nhơn "vì đói bụng" này, đối với Dị dụ hoàn toàn không có liên quan; nghĩa là: anh B (Dị dụ) đã no bụng (trái với Nhơn: đói bụng), nên không muốn ăn (trái với Tôn: muốn ăn).  
14 LỖI VỀ NHƠN 
Phàm lập cái "Nhơn", phải tránh 14 lỗi sau này, thì cái "Nhơn" ấy mới hoàn toàn đúng đắn, chia làm 3 loại: 
1. BỐN LỖI BẤT THÀNH: 
1. Lưỡng câu bất thành. - Lập cái Nhơn mà cả chủ và khách đều không nhìn nhận. 
 
Như lập:                     - Tôn: con rắn Hổ mây chạy mau. 
                                  - Nhơn: Vì nó có chân vậy (nguyên nhơn) 
Cả chủ và khách đều không nhìn nhận "rắn hổ có chân". Nay lại lập cái Nhơn "vì có chân",  nên cái Nhơn này chẳng thành. 
2. Tuỳ nhứt bất thành. - Phàm lập cái Nhơn, phải chủ và khách hai bên đều công nhận, ít nhứt  là một bên khách phải có công nhận, thì cái nhơn ấy mới thành. Nay cái Nhơn này bên khách  không công nhận nên bị lỗi "Tuỳ nhứt bất thành". Như đối với nhà Khoa học mà lập như vầy: 
Như lập:         - Tôn: Vò vò không sanh con (trứng) 
                      - Nhơn: Vì nó bắt sâu làm con vậy. 
Theo Khoa học nói con Vò vò đẻ trứng trong tổ, rồi bắt sâu nhét vào làm mồi, để cho con nó khi nở ra có mồi ăn. Nay lập cái Nhơn "bắt sâu làm con" thì bên khách (Khoa học) không công nhận, nên bị lỗi. 
3. Dự dự bất thành. - cái Nhơn dụ dự chẳng nhứt định, nên không thành. Như ở xa thấy mù mù,  không rõ đó là sương mù hay khói mù, lại lập như vầy: 
Như lập:         - Tôn: Chỗ kia có lửa 
                       - Nhơn: Vì có mù (mây mù).

Nếu vì “khói mù” thì cái Tôn này có lửa (đúng); còn nếu vì “mây mù” thì cái Tôn này không lửa (không đúng).
Cái Nhơn này người ta có thể lập ngược lại như vậy:

Như lập:         - Tôn: Chỗ kia không lữa 
                      - Nhơn: Vì có mù (mây mù).

Bởi cái Nhơn này có thể lập được cả hai Tôn, vừa "có lửa" và vừa "không có lửa",  
dụ dự không nhứt định, nên bị lỗi "bất thành". 
4. Sở y bất thành. - Chỗ y cứ của mình, bên khách không công nhận. Như tín đồ Nhứt  thần giáo đối với Khoa học hoặc Phật giáo mà lập như vầy: 

Như lập:         - Tôn: Thần sanh ra mọi vật 
                       - Nhơn: Vì trong kinh của Đạo tôi nói vậy. 

Phải là tín đồ của Tôn giáo họ, mới nhìn nhận kinh của Đạo họ là đúng. Còn đối với khoa học hay Phật giáo, không nhìn nhận kinh sách của họ, mà y cứ nơi kinh sách đó để lập luận với người ngoài Đạo mình, nên bị lỗi "sở y bất thành". 
Một tỷ dụ thứ hai: Theo trong Nhơn minh có lập cái lượng như vầy: 

Như lập:        - Tôn: Hư không có thật. 
                     - Nhơn: Vì muôn vật đều y hư không vậy. 
Phái "vô không luận", họ chẳng công nhận "thật có hư không". Nếu với phái này, mà lập cái Nhơn như vậy thì bị lỗi "sở y bất thành". 
Bốn lỗi "bất thành" đã nói rồi, bây giờ sẽ nói đến sáu lỗi "bất định" 
II. SÁU LỖI BẤT ĐỊNH: 
1. Cọng bất định. - Cái Nhơn này liên quan cả Đồng dụ và Dị dụ, nên bị lỗi "không nhứt định" 
BIỂU 
Phật học phổ thông 3
Nếu nói anh A "vì ăn xoài sống" mà đau như anh B, thì tại sao anh D cũng "ăn xoài sống"  mà lại không đau? Bởi thế nên người ta có thể lập cái Tôn ngược lại rằng: 
Phật học phổ thông 3
Người ta có thể nói rằng: Vậy thì "vì ăn xoài sống" mà bị đau như anh A, hay "vì ăn xoài sống" mà không đau như anh D? 
Bởi lập cái Nhơn bất định như vậy nên có lỗi


2. Bất cộng bất định. - Cái nhơn này không có liên quan với Đồng dụ. 
BIỂU 
Phật học phổ thông 3
Cái Nhơn "vì tai nghe" này, đối với "Đồng dụ" và Dị dụ đều không có liên quan chút nào cả, nên cũng bị lỗi "bất định". Bởi cái nhơn này người ta có thể lập ngược lại như vầy: 
Phật học phổ thông 3
Vậy, "vì tai nghe" mà tiếng nói thường còn như hư không? Hay "vì tai nghe" mà tiếng nói  vô thường như cỏ cây? Bởi thế nên cái Nhơn này bị lỗi "bất định". 
3. Đồng phẩm nhứt phần chuyển, Dị phẩm biến chuyển bất định: 
              Cái nhơn đối với Đồng dụ thì có dính líu một phần, còn Dị dụ thì hoàn toàn dính líu.
 
Phật học phổ thông 3
Nếu cái Nhơn "vì có lửa", dụ như lửa ở nhà bếp, thì Tôn này có "khói"; còn "vì có lửa", dụ như lửa rượu, thì cái Tôn này "không khói". Vì cái Nhơn này, đối với Tôn "có khói" hay "không khói" đều không nhứt định, nên cái Nhơn này có lỗi bất định. Bởi người ta có thể lập ngược lại như vầy:
 Phật học phổ thông 3
4. Dị phẩm nhứt phần chuyển, Đồng phẩm biến chuyển bất định: 

Cái Nhơn này đối với Dị dụ có dính líu một phần, còn đối với Đồng dụ thì phải hoàn toàn  dính líu, nên cái Nhơn này cũng bị lỗi "bất định". 
Phật học phổ thông 3
Phàm Đồng dụ thì phải hoàn toàn liên quan cả Tôn và Nhơn; còn Dị dụ thì hoàn toàn không  dính líu gì đến Tôn và Nhơn, như thế mới đúng. 
Nay cái Nhơn này, đối với Dị dụ bị dính líu hết mốt phần. Bởi thế cái tánh chất thứ ba của  Nhơn là "Dị phẩm biến vô tánh", nên bị lỗi; vì khách có thể hỏi lại rằng: "Vì không tay,  
nên leo cây giỏi như con rắn"; hay vì không tay, nên "chẳng biết lao cây như con bò?".  
Bởi thế nên cái Nhơn này bị lỗi "bất định". 
5. Câu phẩm nhứt phần chuyển bất định: 
Cái Nhơn này, đối với Đồng dụ và Dị dụ đều chỉ có dính líu một phần, nên cũng bị lỗi "bất định". 
BIỂU
Phật học phổ thông 3
Cái thí dụ thứ hai: 
Phật học phổ thông 3
Nếu cái Nhơn "vì hữu hình" này, mà dụ như cần thú, thì cái Tôn này “có chết", còn cái Nhơn  "vì hữu hình" mà thí dụ như nước, thì cái Tôn này "không chết". 
Phàm Dị dụ là dụ bề trái của Tôn và Nhơn, nên phải dùng những vật "không chết".  (trái với Tôn) và "vô hình" (trái với Nhơn) để làm thí dụ. - Nay cái Dị dụ này chỉ trái  với Nhơn được phân nữa. Vì ngoại nhơn có thể hỏi lại rằng: vậy "hư không, không chết"  vì vô hình vậy? Hay "tượng gỗ không chết" vì hữu hình vậy? Bởi hữu hình (tượng gỗ)  vô hình (hư không) đều không chết, nên cái Nhơn này bị lỗi "bất định". 
6. Tương vi quyết định bất định: 
Chủ và khách lập lượng trái nhau; song cả hai đều không có lỗi, và đều quyết định thành lập được.  Nhưng không bên nào phá được bên nào. 

Hai cái lượng này rất mâu thuẫn nhau, song đều quyết định thành lập được. Bên khách vẫn  công nhận "sóng có chuyển động", bên chủ cũng nhận "sóng tức là nước". Nhưng không bên  nào phá được bên nào, nên Nhơn này bị lỗi "bất định". Đây cũng là vì thiếu lời lẽ khôn khéo,  để làm cho người ta phục mình. Thưở xưa có người nói: “Ai lập trước thì hơn". 

6 lỗi "Bất định" đã giải thích rồi, bây giờ sẽ nói đến 4 lỗi tương vi. 
III. BỐN LỖI TƯƠNG VI 
1. Pháp tự tướng tương vi.:- Cái Nhơn trái (mâu thuẩn) với tự tướng (lời nói trắng)  của danh từ sau. 
Đã có động thì làm sao lại thường còn; nên cái Nhơn "có động" này, rất trái với tiếng  "thường còn" là lời nói trắng về danh từ sau của Tôn. 
2. Pháp sai biệt tương vi Nhơn.:- Cái Nhơn trái (mâu thuẫn) với ý hứa (ẩn ý) của danh từ sau. 
 
                            - Tôn: Loài người quyết định có người tạo ra (ý hứa là một vị thần).
         Như lập:     - Nhơn : Vì có trí khôn và mắt, tai v.v... 
                            - Đồng dụ : Như con do cha mẹ sanh ra 

Trong cái Tôn này, về chữ "quyết định có người tạo ra" là do người lập Tôn, ẩn ý của họ  muốn nói: Người tạo ấy là một vị Thần. Và ẩn ý của họ cho vị Thần ấy có ba đức tánh sau này: 1. Toàn trí toàn năng, 2. Thường còn, 3. Độc tôn. Nhưng cái Nhơn này nó lại trái ngược (mâu thuẩn) với ẩn ý của họ: 
1. Nếu vị thần ấy tạo ra loài người có trí khôn và mắt tai v.v...như cha mẹ sanh con; vậy cha mẹ "không toàn trí toàn năng", vì sanh ra có những đứa con ngỗ nghịch với cha mẹ, thì vị thần ấy cũng "không toàn trí toàn năng" vì tạo ra loài người mà có những kẻ oán trách lại vị Thần ấy, và giữa loài người, không biết bao nhiêu những điều bất bình đẳng. 
2. Cha mẹ sanh ra con, đến khi già phải chết "không phải thường còn"; vậy vị Thần ấy đã sanh ra loài người, thì vị thần ấy cũng phải chết, "không thường còn". 
3. Cha mẹ sanh ra con, tất nhiên phải có Ông, Bà sanh lại cha mẹ, nên cha mẹ không phải "độc tôn". Vậy thì vị Thần ấy đã tạo ra loài người, thì vị thần ấy cũng phải có một vị thần  lớn hơn sanh ra, nên vị thần ấy cũng không "độc tôn". 
Bởi thế nên cái Nhơn này bị lỗi mâu thuẫn với ý hứa (ẩn ý) của danh từ sau là "người tạo ra". 
3. Hữu pháp tự tưởng tương vi Nhơn. - Cái Nhơn mâu thuẫn với lời nói trắng (tự tướng)  về danh từ trước của Tôn. 
               
                       - Tôn : Phải có một ông Vô hình tạo ra Vũ trụ 
Như lập:         - Nhơn :Vì Vũ trụ có trật tự vậy 
                      - Đồng dụ: Như ông Kiến trúc sư làm nhà. 

Cái Nhơn "Vì vũ trụ có trật tự" này, rất trái ngược với danh từ trước của Tôn là "Ông Vô hình". Đã Vô hình thì làm sao tạo ra Vũ trụ là vật hữu hình và có trật tự được? Phải vật hữu hình mới tạo ra vật hữu hình. Như ông kiến trúc sư, vì hữu hình mới tạo ra cái nhà hữu hình được. 
4. Hữu pháp sai biệt tương vi nhơn. - Cái Nhơn trái ngược với ý hứa (ẩn ý) về danh từ  trước của Tôn. 
                       
                      - Tôn : Phải có một đấng sanh ra vũ trụ 
Như lập:        - Nhơn : Vì vũ trụ có thứ tự vậy. 
                      -  Đồng dụ: Như ông thợ làm nhà. 
Người lập lượng này, nếu nói trắng ra "Có một ông Thần", thì sợ bên đối phương không  công nhận, mà phải bị lỗi "Sở biệt bất thành", nên họ chỉ nói một cách hồn hàm là "Có một Đấng". Song ẩn ý của họ  muốn nói  "Đấng ấy là một vị Thần"; và họ cho vị Thần này có 3 đức tánh: 1. Thường còn, 2. Cao cả, 3. Sanh vạn vật. 
Nhưng Đấng ấy đã sanh ra được vạn vật, thì Đấng ấy tất nhiên cũng phải bị người khác  lớn hơn sanh ra và chết; không phải cao cả và thường còn. Cũng như ông thợ làm nhà. 
Vì cái Nhơn này, trái ngược với ẩn ý của danh từ trước, nên bị lỗi "tương vi". Ngoại nhơn có thể lập lượng bác lại rằng: 

                      - Tôn: Đấng ấy phải bị người khác sanh ra và phải chết. 
Như lập :        - Nhơn : Vì Đấng ấy sanh ra vũ trụ vậy. 
                      - Đồng dụ: Như ông thợ làm nhà. 

14 lỗi về Tợ Nhơn, chúng tôi đã giải thích rồi, sau đây sẽ nói 10 lỗi về Tợ dụ. 
 
PHỤ BÀI HỌC ÔN
(ÔN LẠI 14 LỖI VỀ TỢ NHƠN)
Quí vị nên xét kỹ các lượng sau này, rồi chỉ ra: lỗi của Tôn, lỗi của Nhơn, và nói rõ tại sao 

 Lượng thứ I:      - Tôn: Nhơn loại quyết định có người tạo
                           - Nhơn : Vì có trí khôn và đủ cả mắt, tai v.v...
                           - Đồng dụ : Như con, phài có cha mẹ sanh ra. 
 

Lượng thứ II:     - Tôn: Gió thường còn
                          - Nhơn : Vì có động vậy
                          - Đồng dụ: Như hư không
                          - Dị dụ: Như sóng 

Lượng thứ III:    - Tôn: Phải có một Đấng sanh ra vũ trụ 
                          - Nhơn : Vì vũ trụ có trật tự vậy
                          - Đồng dụ : Như ông Kiến trúc sư làm nhà 

Lượng thứ IV:    - Tôn: Phải có một ông vô hình tạo ra vũ trụ
                          - Nhơn : Vì vũ trụ có trật tự vậy
                          - Đồng dụ : Như ông thợ làm nhà. 

***
/78
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »