Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Phật học phổ thông 3

Phật học phổ thông 3

Tác giả: Hòa thượng Thích Thiện Hoa. Năm xuất bản: 2012. Số trang: 670.

Chương 13: Khóa IX :Tập Nhứt: Luân Đại Thừa Trăm Pháp & Bát Thức Qui Cũ Tụng. Bài Thứ Mười: IV. Tâm Bất Tương Ưng Hành Pháp (Trang 63 - 66)

BÀI THỨ MƯỜI
TÂM BẤT TƯƠNG ƯNG HÀNH PHÁP
(CÓ 24 MÓN)

Tâm bất tương ưng hành pháp, gọi tắt là "Bất tương ưng hành". Chữ "Hành pháp" là những pháp thuộc về "Hành uẩn". Hành uẩn là một trong năm uẩn. 
Chữ "Hành" là sanh diệt dời đổi; chữ "Uẩn" là chứa nhóm. Hành uẩn có 2 loại: 
1. Tương ưng hành uẩn, tức là các tâm sở (51 món). Chữ "Tương ưng" là ưng thuận với Tâm Vương. 
2. Bất Tương ưng hành uẩn, tức là 24 món "Bất tương ưng hành" sau đây; 24 món này không tương ưng với tâm, chúng chỉ y ba phần: Tâm Vương, tâm sở và sắc pháp mà giả thành lập.(Tam, phần vị sai biệt cố). 
1. Đắc: Được, trái với mất. Thí như "Tôi được đồng xu", cố nhiên phải có đồng xu là "sắc pháp", và nhãn thức để thấy, ý thức để phân biệt là tâm pháp, cùng với các tâm sở chung khởilà tâm sở pháp; phải đủ cả ba phần như thế, mới thành nghĩa "được". 
2. Mạng căn: Thân mạng. Do nghiệp đời trước kéo dẫn, làm cho thần thức thọ thân, sống trong một thời gian hoặc lâu hay mau, gọi là "mạng căn". 
3. Chúng đồng phận: Cũng như chữ "đồng loại". Các loại chúng sanh hoặc hữu tình hay vô tình, loài 

nào đồng với loài nấy. Như loài người đồng với người; loài vật đồng với vật. 
4. Di sanh tánh: Những loài sanh ra khác với Thánh nhơn, tức là phàm phu; chỗ khác gọi "Phi đắc": Chúng phàm phu không được Thánh quả. Bởi thế nên gọi "Di sanh tánh" hay "Phi đắc" đều được cả. 
5. Vô tưởng định: Định này diệt hết các Tâm vương và Tâm sở của 6 thức trước. Song đây chỉ gọi "Vô tưởng" là vì "tưởng" làm chủ động vậy. 
6. Diệt tận định: Định này không những diệt hết các Tâm vương và Tâm sở của 6 thức trước, mà diệt luôn cả phần tạp nhiễm của Tâm vương Tâm sở về thức thứ Bảy. 
Vô tưởng định là định của phàm phu; còn Diệt tận định là định của Thánh nhơn. 
7. Vô tưởng báo: Người ở cõi Dục tu Vô tưởng định, sau khi mạng chung, đặng báo thân ở cõi trời Vô tưởng. 
8. Danh thân: Tên hay danh từ. Có danh từ đơn và danh từ kép. 
9. Cú thân: Câu. Do ráp nhiều tiếng thành câu; câu có ngắn và dài. 
10. Văn thân: Chữ. Chữ là chỗ y chỉ của danh từ và câu. 
11. Sanh: Sanh ra. Nghĩa là từ hồi nào đến giờ không có, nay mới có. 
12. Trụ: Ở. Những vật đã sanh ra rồi, còn lưu lại trong một thời gian , chưa diệt. 
13. Lão: Già, suy yếu gần chết. 
14. Vô thường: Không thường, biệt danh của chết. 
15. Lưu chuyển: Xoay vần, nhơn quả trước sau nối nhau không dứt. 
16. Định vị: Nhơn quả lành, dữ kkhác nhau, không lộn lạo. 
17. Tương ưng: Ưng thuận với nhau. Như nhơn nào quả nấy, cân xứng với nhau. 
(Hỏi: Cả 24 món, đều gọi là "Bất tương ưng hành" tại sao món thứ 17 này lại gọi là "Tương ưng"? Đáp: - Nói "Bất tương ưng" là để phân biệt 24 món này, không phải là tương ưng Tâm sở. Còn về món thứ 17 này mà gọi là "Tương ưng", là do Sắc, Tâm và Tâm sở hoà hợp mà nói, nên không đồng với "Tương ưng Tâm sở" trước). 
18. Thế tốc: Các pháp hữu vi xoay vần mau lẹ như chong chóng. 
19. Thứ đệ: Thứ lớp, trật tự không có lộn lạo. 
20. Thời: Thời gian: quá khứ, hiện tại và vị lai. 
21. Phương: Không gian: Đông, tây, Nam, Bắc, tứ duy, thượng hạ. 
22. Số: Số lượng. Như: một, hai, ba, bốn cho đến trăm, ngàn v.v... 
23. Hoà hợp tánh: Các duyên hoà hợp không có trái nhau. 
24. Bất hoà hợp tánh: Những pháp chống trái, không hoà hợp với nhau. 
Nói tóm lại, từ trước đến đây đã kể 94 pháp: 8 món Tâm vương, 51 món Tâm sở, 11 món Sắc pháp, 24 món Bất tương ưng hành, đều thuộc về pháp hữu vi có sanh diệt biến đổi. Sáu pháp sau đây thuộc về vô vi. 
Chữ "Hữu vi" là những gì có tạo tác, có sanh diệt, không thường còn. "Vô vi" là những gì không tạo tác, không sanh diệt, không tăng giảm, vắng lặng thường còn. 
/78
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »