LUẬN ĐẠI THỪA KHỞI TÍN
MỤC LỤC TOÀN BỘ
Chương thứ nhứt: PHẦN NHÂN DUYÊN
Chương thứ hai: ĐỊNH DANH NGHĨA
Chương thứ ba: PHẦN GIẢI THÍCH
Chương thứ tư: TÍN TÂM, TU HÀNH
Chương thứ năm: LỢI ÍCH, KHUYÊN TU
P.C muốn dễ nhớ, quý vị nên xem kỹ dàn bài ở cuối bộ luận
DÀN BÀI
BÀI THỨ NHỨT
Nguyên nhân tạo Luận
Giải thích tên Luận Đại Thừa Khởi
Nội dung của Luận này.
Ngài Mã Minh Bồ tát tạo luận
1.Lý lịch và tên
2.Nguyên nhân ngộ đạo
Ngài Chơn Đế dịch luận
Lời nguyện cầu
CHƯƠNG THỨ NHỨT
PHẦN NHƠN DUYÊN
(Vì 8 nhơn duyên nên tạo luận này)
CHƯƠNG THỨ HAI
ĐỊNH DANH VÀ GIẢI NGHĨA
A. Pháp Đại thừa:
I. Tướng chơn như
II. Tướng sanh diệt
B. Nghĩa Đại thừa
I. Thể lơn
II. Tướng lớn
III. Dụng lớn
LUẬN ĐẠI THỪA KHỞI TÍN
______________
Ngài Mã Minh Bồ tát tạo luận
Ngài CHƠN ĐẾ TAM TẠNG dịch chữ Phạn ra chữ Hán
Sa môn THÍCH THIỆN HOA lược dịch và lược giải
BÀI THỨ NHẤT
NGUYÊN NHÂN TẠO LUẬN NÀY
Trong khoảng 600 năm, sau khi Phật nhập diệt, tại Ấn độ, phần thì phái Tiểu thừa nổi lên tranh chấp, không tin lý Đại thừa, phần thì ngoại đạo lập các tà thuyết phá hoại chánh pháp; tình trạng Phật giáo rất đen tối.
Ngài Mã Minh Bồ Tát, trông thấy tình trạng ấy rất đau lòng, nên tạo ra luận này, để xô tà đỡ chánh: trừ những nghi ngờ của Tiểu thừa, phá các tà thuyết của ngoại đạo, làm cho người phát khởi lòng tin Đại thừa.
GIẢI THÍCH TÊN LUẬN ĐẠI THỪA KHỞI TÍN
- Luận. Luận là luận bàn lẽ tà chánh, quyết đoán điều nghi ngờ và lựa chọn những việc phải quấy.
- Đại thừa. Chữ "Đại" là lớn, chữ "Thừa" là cởi. Đọc chữ "Thặng" nghĩa là cái xe. Theo đây phải đọc là "Thặng" mới đúng, song vì theo thói quen nên đọc là "Thừa".
Đại thừa có 5 nghĩa:
1. Vì đối với Tiểu nên gọi là Đại.
2. Quả Phật rộng lớn, thừa này sẽ đi đến quả Phật, nên gọi là Đại Thừa.
3. Chư Phật là bực Đại nhơn, song chẳng rời thừa này, nên gọi là Đại Thừa.
4. Các Bồ Tát là bực Đại sĩ, đều y theo thừa này mà tu tập, nên gọi là Đại Thừa.
5. Vì thừa này rất rộng lớn, cứu độ chúng sanh đông nhiều nên gọi là Đại Thừa.
LUẬN NÀY LẤY GÌ LÀM ĐẠI THỪA?
Luận này lấy tâm chúng sanh làm Đại thừa. Bởi tâm chúng sanh: Thể nó lớn, Tướng nó to, Dụng nó đại, bao trùm tất cả các pháp thế gian, và xuất thế gian, nên gọi là Đại Thừa.
Trọng tâm của luận này là nói: Thể, Tướng và Dụng của tâm chúng sanh. Vì tâm này là "Tổng tướng" (Tướng chung) của tất cả thánh phàm, mê ngộ, nhơn quả ...cho nên trong luận này cũng gọi là "Đại Tổng tướng pháp môn thể".
Tâm này có nghĩa "vận tải": Các Đức Phật đều nương tâm này mà chứng Bồ Đề, Niết bàn. Bồ Tát nương tâm này mà rộng tu muôn hạnh: trên cầu quả Phật, dưới hoá độ chúng sanh. Chúng sanh cũng do tâm này mà trôi lặn trong dòng sanh tử luân hồi. Vì thế nên gọi tâm này là Đại thừa.
Do ngộ lý này, nên cổ nhơn có làm bài kệ:
Dịch âm:
Tam điểm như tinh tượng
Hoành câu tợ nguyệt tà
Phi mao tùng thử đắc
Tổ Phật giả do tha.
Dịch nghĩa
Ba chấm như ngôi sao
Uốn cong tợ trăng tà
Chúng sanh từ đâu có
Chư Phật cũng do đây.
- Khởi tín. Luận này làm cho người phát khởi lòng tin Đại thừa, nên gọi là "Đại thừa khởi tín". Đáng lẽ phải nói: "Khởi Đại thừa tín"; nghĩa là khởi lòng tin Đại thừa; song vì chúng sanh sau khi thấu rõ Đại thừa rồi, mới phát khởi lòng khởi tin, nên gọi "Đại thừa khởi tín".
Ngài Mã Minh Bồ Tát căn cứ theo kinh Lăng Già, kinh Tư Ích và các kinh Đại thừa mà tạo ra luận này. Nội dung của luận này là Phát minh lý Duy tâm hay Duy thức đem về nhứt tâm, vạch rõ nguồn gốc mê ngộ, chỉ bày đường tắt tu hành, tóm các nghĩa lý sâu rộng của Phật nói, làm cho người phát khởi lòng tin Đại thừa.
Ngài Mã Minh Bồ Tát, người xứ Ba la nại, phía tây Thiên trúc (Ấn Độ). Ngài là Tổ thứ 12 ở Thiên trúc, nối ngôi của Tổ thứ 11 là Phú Na Dạ Xa Tôn giả.
Vì có 3 nguyên nhơn, nên gọi Ngài là Mã Minh:
1. Khi Ngài vừa sanh ra, thì các con ngựa trong xứ ấy đều buồn mà kêu to lên.
2. Ngài đờn rất hay, mỗi khi Ngài đờn thì những con ngựa được nghe tiếng đờn đều buồn mà kêu lên.
3. Khi thuyết pháp, các con ngựa nghe đến tiếng Ngài, đều rơi nước mắt kêu to lên và không ăn. Mặc dù người ta thử bỏ đói chúng vài ba ngày, rồi đến lúc Ngài thuyết pháp mới bỏ cỏ cho ăn, nhưng chúng cũng không ăn. Bởi thế nên gọi là Mã Minh (ngựa kêu).
Khi gặp Tổ Phú Na Dạ Xa Tôn giả,
Ngài hỏi: Làm sao biết Phật?
Tổ đáp: Không biết là biết Phật.
Ngài hỏi: Không biết làm sao biết là Phật?
Tổ đáp: Không biết làm sao biết không phải là Phật.
Ngài nói: Nghĩa của Tổ là nghĩa cưa.
Tổ nói: Nghĩa của ông là nghĩa cây.
Tổ hỏi tiếp: Thế nào, ông nói nghĩa của tôi là nghĩa cưa?
Ngài đáp: Vì Tổ nói qua nói lại như cưa vậy.
Ngài hỏi tiếp: Thế nào Tổ nói nghĩa của tôi là nghĩa cây.
Tổ đáp: Vì cây bị cưa vậy. Thế nghĩa của ông bị tôi phá rồi. Ngài nghe rồi liền ngộ đạo.
Trong kinh Ma ha ma da, Phật có huyền ký (ghi trước) rằng: "Sau khi Như Lai diệt độ 600 năm, các ngoại đạo tà thuyết thạnh hành, huỷ diệt Phật pháp. Lúc bấy giờ có vị Bồ Tát ra đời tên là Mã Minh, nói pháp rất hay, phá trừ tà thuyết, hàng phục ngoại đạo".
Bởi thế nên biết Ngài Mã Minh, cũng là một vị Bồ Tát tái lai. Chúng ta nên học luận này, phải lấy làm hy hữu, gia tâm nghiên cứu, chớ nên xem thường.
Luận này có hai nhà dịch: Ngài Chơn dế và Ngài Thật xoa Nan đà. Bản dịch này là của Ngài Chơn đế. Nguyên tiếng Phạn gọi là "Ba La Mạc Đà"; Tàu dịch là "Chơn đế". Ngài ở nước Ưu thiền ni, phía Tây Ấn Độ.
Ngài qua Trung Hoa nhằm đời vua Nguyên Đế nhà Lương, niên hiệu Thừa Thánh, năm thứ ba (Mậu thìn). Ngài ở chùa Kiến Hưng, đất Hoàng Châu, dịch bộ Luận này.
LỜI CẦU NGUYỆN
CHÁNH VĂN
Kính lạy Phật, Pháp và Tăng, vì muốn cho chúng sanh bỏ chấp tà, trừ các nghi ngờ, khởi lòng tin Đại thừa, để cho giống Phật chẳng mất, nên con tạo ra luận Đại thừa Khởi tín này.
LƯỢC GIẢI
Các vị Bồ Tát khi làm việc gì, trước nhứt là để tâm qui kính Tam bảo; cũng như con hướng về cha, trò hướng về thầy, dân chúng hướng về vị lãnh tụ của nước; và nguyện cầu Tam bảo gia hộ cho việc làm của mình hợp với chánh pháp và kết quả viên mãn.
Đoạn này là Ngài Mã Minh Bồ Tát trước khi tạo luận, nói bài kệ quy kính Tam bảo và nguyện cầu Tam bảo gia hộ.
***