Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Phật học phổ thông 3

Phật học phổ thông 3

Tác giả: Hòa thượng Thích Thiện Hoa. Năm xuất bản: 2012. Số trang: 670.

Chương 33: Khóa IX .Nhơn Minh Luận. Nhơn Minh Luận Cương Yếu. C. Dụ (Trang 207 - 212)

C. DỤ

Phàm lấy một vật gì mà bên đối phương đã biết và đã công nhận, để so sánh chúng minh  với một vật khá mà bên đối phương kia chưa biết, hoặc chưa công nhận thì gọi là "Dụ". 
Thí dụ khi lập cái "Tôn thường còn", thì phải lấy tất cả những vật "thường còn" làm Đồng dụ;  trái lại, phải lấy tất cả những vật "vô thường" làm Dị dụ. 
Về Tợ dụ có 10, chia làm 2 loại: 
I. TỢ ĐỔNG DỤ CÓ 5: 
1. Năng lập pháp bất thành. - Phàm cái Nhơn là để thành lập cái Tôn, nên cái Nhơn là  "Năng lập pháp" còn cái Tôn là "Sở lập pháp". Cái Dụ này trái ngược Nhơn, nên bị lỗi "bất thành" 


Như lập:          - Tôn: Con ngựa chạy hay
                                  - Nhơn : Vì có bốn vó
                                  - Đồng dụ : Như con rắn hổ ngựa 

Cái Dụ này hiệp với Tôn (chạy hay), trái với Nhơn (thiếu chân) 
2. Sở lập pháp bất thành. - Nhơn là Năng lập mà Tôn là Sở lập (bị lập). Cái dụ này trái ngược  với Tôn, nên cũng bị lỗi "bất thành". 


Như lập:         - Tôn: Người ta không bay được.
                      - Nhơn : Vì thiếu hai cánh
                      - Đồng dụ : Như mây (không cánh, bay được) 
Cái Dụ này hiệp với Nhơn (thiếu cánh) và trái với Tôn (không bay).
3. Câu bất thành.– Cái Dụ này trái ngược với Tôn và Nhơn. Bởi lấy Dị dụ làm Đồng dụ, nên bị lỗi "bất thành". 

Như lập:             - Tôn : Tiếng thường còn
                           - Nhơn : Vì tai nghe vậy
                           - Đồng dụ : Như bàn, ghế. 
Bàn, ghế "vô thường" nên trái với Tôn, và "tai không nghe được", nên trái với Nhơn. 
4. Vô hiệp. - Cái Dụ này không có lời phối hiệp để kết thúc lại cho dễ hiểu. 

Như lập:             - Tôn : Người ta phải chết 
                           - Nhơn : Vì có sanh vậy
                           - Đồng dụ : Như chim v.v... 

Đáng lẽ phải nói lời phối hiệp để kết thúc lại như vầy: "Người ta có sanh (Nhơn) phải có chết  (Tôn). Phàm vật gì có sanh (Nhơn) phải có chết (Tôn), như chim v.v..."thời người ta mới dễ hiểu. Cái này chỉ nói tắt rằng "như chim"; làm cho người ta không hiểu: Như chim có hai cánh, hay là như chim có mỏ? nên bị lỗi "vô hiệp". 
5. Đảo hiệp. - Lời thí dụ, kết thúc phối hiệp lại trái ngược. Phàm kết thúc phối hiệp thì phải nói cái Nhơn trước rồi nói cái Tôn sau. 
Như lập:             - Tôn : Người ta phải chết 
                           - Nhơn : Vì có sanh vậy 
                           - Đồng dụ : Phàm vật gì có sanh (Nhơn) thì phải có chết (Tôn) như chim v.v ... 


Nay kết thúc lại trái ngược, nghĩa là: Phối hiệp Tôn trước rồi Nhơn sau.


Như lập:             - Tôn : Người ta phải chết 
                           - Nhơn : Vì có sanh vậy
                           - Đồng dụ : Phàm có chết (Tôn) phải có sanh (Nhơn) như chim v.v ... 


Bởi vì nói "có sanh phải có chết" thì ai cũng thấy; còn nói "có chết phải có sanh", người ta khó nhận. 
II. TỢ DỊ DỤ CÓ 5: 
Phàm Dị dụ là dụ bề trái của Tôn và Nhơn, nên phải hoàn toàn trái ngược với Tôn và Nhơn. 
1. Sở lập pháp bất khiển. - Cái Dị dụ này không trái với Tôn 


Như lập:             - Tôn : Tiếng nói thường còn

                                      - Nhơn : Vì vô hình vậy
                                      - Đồng dụ : Như hư không
                                      - Dị dụ: như vi trần (vi trần hữu hình và thường còn) 

Vi trần có hình chất mà lại thường còn. Nếu lấy vi trần làm Dị dụ, thì chỉ trái với  
Nhơn (vô hình) mà không trái với Tôn (thường) nên bị lỗi. 

2. Năng lập pháp bất khiển. - Cái Dị dụ này không trái với Nhơn 

Như lập:             - Tôn : Tiếng nói thường còn
                           - Nhơn : Vì vô hình vậy
                           - Đồng dụ : Như hư không 
                           - Dị dụ: như điện chớp (vô hình, không thường). 

Lấy điện chớp làm Dị dụ, thì chỉ trái với "Tôn thường còn", mà không trái với  "Nhơn vô hình", nên bị lỗi. 
3. Câu bất khiển. - Cái Dị dụ không trái với Tôn và Nhơn. Lỗi này vì lấy Đồng dụ làm Dị dụ. 

Như lập:             - Tôn : Người phải chết
                          - Nhơn: Vì có sanh vậy
                          - Đồng dụ : Như cỏ cây
                          - Dị dụ: như loài vật 

Phàm Dị dụ là phải trái với Tôn và Nhơn. Nay dùng cái Dị dụ này không trái với Tôn và Nhơn nên bị lỗi. 
4. Bất ly. - Dị dụ không có lời kết thúc để ly biệt Tôn và Nhơn 

Như lập:              - Tôn : Tiếng nói thường còn
                           - Nhơn : Vì không hình chất 
                           - Đồng dụ : Những gì vô hình đều thường còn, như hư không 
                           - Dị dụ: như bàn ghế 
Về Dị dụ, đáng lẽ cũng phải có lời phối hiệp kết thúc để ly biệt Tôn và Nhơn như vậy: 
"Phàm những gì vô thường, thì đều có hình chất, như bàn ghế". Nay chỉ nói tắt rằng:  
"Như bàn ghế" Làm cho người ta không hiểu: Như bàn ghế có bốn chân? Hay như bàn ghế có mặt? 
Phải lưu ý: Về Đồng dụ, nếu thiếu lời phối hiệp để kết thúc, thì gọi là "Vô hiệp";  
còn bên Dị dụ, nếu thiếu lời phối hiệp để kết thúc, thì gọi là "bất ly". 
5. Đảo ly. - Lời kết thúc của Dị dụ, để ly biệt Tôn và Nhơn, lại phối hiệp một cách trái ngược. 

Như lập:             - Tôn : Tiếng thường còn
                             - Nhơn : Vì vô chất ngại
                            - Đồng dụ : Như hư không 
                            - Dị dụ: những gì có chất ngại (Nhơn) đều vô thường (Tôn) như bình, bàn v.v... 

Phàm lời phối hiệp để kết thúc của Dị dụ là phải nói Tôn trước rồi Nhơn sau, mới thuận. Như nói: "Những gì vô thường (Tôn) thì đều có chất ngại (Nhơn) như bình, bàn v.v... "Nay phối hiệp ngược lại Nhơn trước Tôn sau, nên bị lỗi "Đảo ly". 
Lưu ý: - về Đồng dụ, khi kết thúc, phải nói Nhơn trước rồi nói Tôn sau. Nếu trái lại thì bị lỗi  "Đảo hiệp". Về Dị dụ, khi kết thúc, phải nói Tôn trước rồi nói Nhơn sau. Nếu trái lại thì bị lỗi "Đảo ly". 10 lỗi về Tợ Dụ đã giải thích rồi. 
PHỤ BÀI HỌC ÔN
Quý vị nên xét kỹ các lượng sau này: Tôn thuộc về lỗi gì? Nhơn thuộc về lỗi gì? Và Dụ thuộc về  lỗi gì? 
 
Lượng thứ I:              - Tôn : Người ta phải chết 
                                     - Nhơn : Vì có sanh vậy 
                                     - Đồng dụ : Phàm có chết phải có sanh, như chim 
                                     - Dị dụ: Phàm không sanh thì không chết, như hư không 
 
 
 
Lượng thứ II:         - Tôn : Tiếng nói thường còn 
                                  - Nhơn : Vì vô hình vậy 
                                  - Đồng dụ : Như hư không 
                                 - Dị dụ: Như vi trần 

Lượng thứ III:        - Tôn : Tiếng nói thường còn 
                                   - Đồng dụ : Như hư không 
                                   - Dị dụ: Như điện chớp 
 
Lượng thứ IV:       - Tôn : Người ta phải chết 
                                 - Nhơn : Vì có sanh vậy 
                                 - Đồng dụ : Như cỏ cây 
                                 - Dị dụ: Như loài vật. Hoặc lập nhiều lượng khác 
/78
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »