BÀI SỚ NÓI RỘNG VỀ ĐẠO ẢNH
CỦA TỬ BÁ LÃO NHÂN
Chuông thiền không đánh thì tiếng vang nào phát, đuốc báu chưa mồi thì ánh sáng chẳng soi. Thế nên, quy y Phật, Tổ phải nhờ vào hình nghi, bởi có hình nghi mà đạo còn lưu thế. Sự truyền bá quý ở chỗ rộng lan; nguyện thân trải khắp, ảnh rọi muôn nơi; như tiếng chuông tỉnh mộng bao người, tợ ánh đèn sáng soi đêm tối.
Và thế, có tự tâm hẳn có hư không, có hư không tất có trời đất, có trời đất ắt có núi sông, có núi sông tất có đạo tràng, có đạo tràng thì có chư Tổ, có chư Tổ thì có đạo ảnh. Do vậy, từ đạo ảnh mà biết chư Tổ, từ chư Tổ mà biết đạo tràng, từ đạo tràng mà biết trời đất, từ trời đất mà lường được hư không, từ trời đất mà lường được hư không, từ hư không mà triệt ngộ tự tâm; có thể nói, lần theo dòng mà thể tất nguồn cội! Thế thì mênh mông như trời đất, hỗn tạp như vạn vật đều là đạo ảnh của chư Tổ, đâu cần phải đợi đến bút pháp của Tăng Dao 1, Đạo Huyền 2 mới gọi là có đạo ảnh?
Tuy nhiên, tâm phàm phu kém cỏi, chưa thể gặp việc gì cũng phát tâm cầu đạo Vô thượng bồ- đề, cho nên phải nhờ vào tướng thù thắng. Chính vì thế có lần tôn giả A- Nan thưa đức Phật: “ Con thấy ba mươi hai tướng hảo thù thắng vi diệu.
__________________________
-
Tăng Dao : hoạ sỹ nổi tiếng dưới triều đại nhà Lương ( 502- 557) thuộc thời Nam triều, Ông vẽ tranh Phật giáo rất có thần đặc biệt là bức hoạ bồ- tát Địa Tạng.
-
Đạo Huyền (cg: Ngô Đạo Huyền ) hoạ sỹ nổi tiếngcủa Trung Quốc sống vào đời Đường. Lúc đầu, ông tên là Đạo Tử, về sau đổi thành Đạo Huyền, người Dương Địch Khai Phong. Những bức hoạ của ông về Phật, quỷ thần, người, cầm thú, sơn thuỷ đều đứng đầu vào thời ấy, nên được danh xưng là Bách đại hoạ thánh. Ông từng ở chùa Cảnh Công thuộc phủ Khai Phong vẽ các biến tướng địa ngục để răn dạy những người sát sinh làm ác.
Của Như Lai, tôn dung sáng trong như lưu ly mà thường suy nghĩ: Tướng này chẳng phải do ái dục sanh ra. Vì khí dục nhơ nhớp, tanh hôi trộn lẫn, máu mủ ô uế thì không thể nào phát sinh ra được thân sắc vàng tía rực rỡ, thù thắng, thanh tịnh. Thế nên, con khát ngưỡng theo Phật xuất gia”. Từ đó cho thấy, A- Nan là em của đức Phật, còn phải nhờ thấy tướng thù thắng để phát tâm, huống là hạng phàm phu kém cỏi như chúng ta! Vì vậy, đạo ảnh của Phật, Tổ không thể không lưu truyền.
Tuy Ấn- Hoa hai nước khác nhau, nhưng thiên dung chư Tổ sáng ngời ánh đạo, rực rỡ uy nghiêm, khiến người chiêm ngưỡng dứt sạch trần lao, thấy hình tướng mà tâm thầm tương hợp. Từ xưa đến nay, sớm chiều cùng chư Tổ du hí tam- muội khắp Đại Quang Minh Tạng, nếu không có đạo ảnh, thì ai có thể làm được điều này?
Vào niên hiệu Hồng Vũ (1368- 1389) Thái Tổ nhà Minh, người mộ đạo trong hàng tăng tục đã vẽ đạo ảnh Phật- Tổ của hai nước Ấn- Hoa, từ tôn giả Ca- diếp trở xuống đến các bậc kỳ túc đầu tiên của nước Trung hoa, tổng cộng 120 vị, được cất giữ ở núi Ngưu Thủ3, phía nam của Lưu Đô 4 . Đạo ảnh các ngài toát lên vẻ uy nghiêm và thánh thiện, đó là sự kết tinh của vô lượng từ bi và trí tuệ. Nếu chẳng phải là người thần trí rỗng rang trong sáng, nội tâm sâu lắng tỏ thông, thì không dễ gì có được những nét vẽ tuyệt thế như vậy.
Năm, Kỷ Sửu (1958), niên hiệu Vạn Lịch, đời thần Tông nhà Minh, thị giả Khai đến Kim Đàn thăm tôi. Nhân lúc quan sát Bắc Viên, phát hiện phía tây, mở lối đến Thanh Lương, có con đường dẫn đến Thạch Đầu 5 , tôi nói:” Đạo ảnh của chư Tổ đang ở Ngưu Thủ, trước kia từng được sáu bức dưới lớp bụi phủ mờ ở Tổ đường. Giống như mây vén trăng hiện, sáng đẹp rực rỡ” .Hỏi các bức còn lại, thì những vị tăng trong chùa đáp:” Đều cất ở Ngưu Thủ” . Sau đó, tôi bảo thị giả Khai:
_____________________________
-
Núi Ngưu Thủ: (Ngưu Thủ Sơn Cg: Ngưu Đẩu sơn): ngọn núi ở phía nam huyện Thượng Nguyên, phủ Giang Ninh, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, nay thuộc tây nam của Nam Kinh.
-
Lưu Đô : Thời xưa, sau khi dời đế đô đến nơi mới, kinh đô cũ được lưu giữ lại làm phủ quan để trị lý chính sự, gọi là Lưu Đô. Minh Thái Tổ lập đô ở Nam Kinh, về sau Minh Thành Tổ dời đô về Bắc Kinh, lấy Nam Kinh làm Lưu Đô
-
Thạch Đầu: Tên một ngọn núi, nằm về phái tây, cách Giang Ninh, tỉnh Giang Tô khoảng một dặm, dưới chân núi có chùa Thanh Lương.
- Ta để tâm vào việc này suốt sáu năm rồi không lúc nào nguôi. Ông hãy chịu khó, dãi nắng dầm mưa một phen, biết đâu có thể lo liệu được việc này.
Thị giả Khai vâng mệnh, chống tích trượng ra đi, quả nhiên có được linh tướng, và gặp Thái Tể Lục Công 6 . Khi trông thấy đạo ảnh chư Tổ, thị giả Khai đã bùi ngùi thốt lên:” Đương thời, các ngài uy nghiêm trùm thiên hạ, trí tuệ rợp quần sinh, cớ sao năm tháng phủ mờ, khiến cho điêu tàn đến vậy! Lúc Thánh nhân chưa diệt độ, bọn ta nghiệp nặng chướng sâu, chẳng có phúc phần kề cận. Nay gặp được đạo ảnh đâu dám giữ riêng, mà phải tìm danh sư, khắc hoạ lại đúng thần dung, vẽ ra mười bộ, chia khắp mười phương để cúng dường, phân rải ánh quang mình, soi khắp miền tăm tối, há chẳng phải việc lớn đó sao!”.
Thị giả khai bàn với Thái Tể việc này. Ông ta cảm khái nhận lời, và nhận vẽ bộ đầu tiên. Cư sỹ Thiện Văn ở Kim Sa cũng vẽ một bộ, phần còn lại chưa có người hứa khả.
Khi trở về, thị giả Khai thưa với tôi:
“- Mong hoà thượng viết lời sớ về nhân duyên này khiến cho các thiện tín sinh đại pháp hỷ, cùng phát tâm thù thắng, thành tựu việc hi hữu này”. Tôi đáp:” Được! Do tâm sinh ra hình, do hình sinh ra ảnh. Nhưng khéo truy nguyên thì từ ảnh mà được hình, từ hình mà được tâm, từ tâm mà đạt đạo. Nếu vậy thì một trăm hai mươi trang này, lão tăng không cần động lưỡi, cũng đã tiết lộ không ít gia phong cho người trong thiên hạ rồi.”
Thế rồi, thị giả Khai phát nguyện vẽ nhiều ảnh của chư tổ để truyền khắp trong thiên hạ, chỉ mong người xem qua, nương ảnh mà khai ngộ, cúng dường nhận từ tâm.
__________________________
6.Thái Tế Lục Công: tự là Dữ Thắng, người Bình, Hồ, đậu thiến sỹ vào niên hiệu Gia Tĩnh ( 1522- 1567) nhà Minh, nhiều lần giữ chức Lại bộ thượng thư trong niên hiệu Vạn Lịch (1573- 1620) Tên thuỵ của ông là Trang Giản, còn có hiệu là Ngũ Đài cư sỹ. Ông rất kính tin Phật Pháp.