KHẢO CHÍNH VỀ PHÁP HỆ
1.Nối pháp từ nơi Tô Đông Minh Huệ Sám thuộc pháp hệ Nam Nhạc dời thứ 60 có hai người là Hải Chu Vĩnh Từ và Hải Chu Phổ Từ. Ngài Vĩnh Từ họ Từ, trụ tại Đông Sơn, đất Kim Lăng, ngài Phổ Từ họ Tiền , trụ tại Đông Minh, đất Hàng Châu. Cả hai vị này đều có tên trong Tục chỉ nguyệt lục16 . Nhưng xét theo tổ Thiền Đồng Mật Vân Ngộ và Tiền Khiêm Ích Tông Bá, hai vị này đều cho rằng ngài Phổ Từ là người nối pháp nơi tổ Huệ Sảm. Theo Tông thống biên niên17 của Kỳ Ấm ở chùa Tường Phù lại có ghi:” Nam Tân Dậu ( 1579), niên hiệu Vạn Lịch thứ 6, Tổ Đông Minh Sám thị tịch, Hải Chu Phổ Từ nối pháp”. Căn cứ vào các tư liệu trên thiết nghĩ nên sửa lại đoạn:” Người nối pháp đời 61 của dòng Nam Nhạc là Đông Minh Hải Chu Vĩnh Từ thành Phổ Từ”
2. Pháp hệ của Thanh Nguyên đời thứ 45 là tổ Phù Dung Đạo Giai ( 1043- 1118).
Bản Tô Châu, căn cứ theo quyển Tổ đăng đại thống cuả thiền sư Vị Trung
____________________________
16. Tục chỉ nguyệt lục tác phẩm này gồm có 20 quyển, do Niếp Tiên biên soạn vào đời Thanh, nối tiếp bộ Chỉ nguyệt lục của Cù Nhữ Tắc, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 143, tr 744. Bộ sách này ghi lại pháp phái 38 đời của Thiền tông trong khoảng thời gian hơn 500 năm, bắt đầu từ năm Long Hưng thứ 2 ( 1164) đời HIếu Tông nhà Nam Tống đến niên hiệu Khang Hi thứ 18 (1689) nhà Thanh.
17. Tông thống biên niên tác phẩm này gồm có 32 quyển , do Kỳ Ẩm biên tập vào đời Thanh , được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 147, trang 1.Kỳ Ẩm dùng hình thức biên niên thể để ghi chép về sự phát triển và diễn biến của Thiền tông từ đức Thích- Ca Mâu- Ni đến niên hiệu Khang Hi thứ 28 ( 1689) đời Thanh.
18. Tổ đăng đại thống tác phẩm này gồm có 98 quyển, quyển thủ phụ “ Tổ đăng biện ngu” 2 quyển, do Tịnh Phù soạn vào đời Thanh. Tác giả chủ trương hễ là thiền tăng thì đều thuộc pháp hệ Bồ- Đề Đạt Ma, nên phế bỏ những tên gọi “ dưới Thanh Nguyên” , dưới “ Nam nhạc” mà tất cả đều quy về hệ thống Thiếu Lâm
Phù, ghi người truyền thừa kế tiếp là Lộc Môn Giác, lại bỏ mất 5 đời ở khoảng giữa, từ Đan hà Tử Thuần ( 1063- 1117) đến Thiên Đồng Như Tịnh (1163- 1228), cho rằng niên đại trong Chỉ nguyệt lục19 là sai, nên cứ vào tháp ký ở Thanh Châu, mà không biết tháp ký ở Thanh Châu cũng sai. Đại sư Vi Lâm đã từng nêu rõ sự sai lầm này, và đã được ghi lại trong bộ Tục chỉ nguyệt lục.
Theo Tông thống biên niên ghi: “ Năm Mậu Tuất (1119), niên hiệu Trọng Hoà thứ nhất, đời Tống, tổ Đạo Giai thị tịch, Đan Hà Tử thuần nối pháp, Tử Thuần là vị đứng đầu trong hai mươi sáu người nối pháp của tổ Phù Dung Đạo Giai. Năm sau, tổ Tử Thuần thị tịch, Chân Yết Thanh Liễu( 1089- 1153) nối pháp. Ba mươi bốn năm sau, nhằm năm Quý Dậu(1153) niên hiệu Thiệu Hưng thứ 23, đời Nam Tống, tổ Thanh Liễu thị tịch, Thiên Đồng Chính Giác nối pháp. Trải qua 14 năm, nhằm năm Mậu Tý( 1169),niêm hiệu Càn Đạo đời Hiếu Tông nhà Nam Tống thứ 4 , tổ Chính Giác thị tịch, Tuyết Đậu Trí Giám nối pháp. Được bốn năm, nhằm năm Tân Mão ( 1172), niên hiệu Càn Đạo thứ 7 , tổ Trí Giám thị tịch, Thiên Đồng Như Tịnh nối pháp. Lại hai năm sau, nhằm năm Quý Tỵ( 1174), niên hiệu Càn Đạo thứ 9, tổ Như Tịnh thị tịch, Lộc Môn Giác nối pháp”
Như vậy, thời gian tổ Đạo Giai thị tịch đến đây đã năm mươi lăm năm, đâu thể cho Lộc Môn Giác là Tịnh Nhân Giác; ở đây đã thể hiện rõ sự mập mờ của thể thứ truyền thừa. theo Truyền đăng và Chánh lục chỉ nguyệt ghi:” Lộc Môn Giác nối pháp từ Thiên Đồng Như Tịnh” , bổ sung thêm năm đời, từ Đan Hà Tử Thuần đến Thiên Đồng Như Tịnh, để sửa lại chỗ nhầm lẫn của Vị Trung Phù vậy.
3. Thiền sư Hán Nguyệt Pháp Tạng ( 1573- 1635) chuà Tam Phong đời Minh.
Ban đầu, ngài xuất gia ở chùa Bắc Thiền, đất Ngô Môn, nối pháp tổ Mật Vân Viên Ngộ chùa Thiên Đồng. Về sau, ngài trước tác bộ Ngũ tông nguyên20 , chủ
______________________________
19. Chỉ nguyệt lục (Cg: Thuỷ nguyệt trai chỉ nguyệt lục: tác phẩm này gồm có 32 quyển, do Cù Nhữ Tắc soạn vào đời Minh, được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 143, trang 1. Nội dung tóm lược ngôn hạnh của 650 vị kể từ 7 vị Phật thời quá khứ đến ngài Đại Huệ Tông Cảo ( 1089- 1163).
20. Ngũ tong nguyên tác phẩm lý luận về Thiền tông, do Hán Nguyệt Pháp Tạng soạn vào đời Minh, được ấn hành vào niên hiệu Sùng Trinh thứ nhất (1628) đời Minh và được xếp vào Tục Tạng Kinh tập 114, trang 201. Trong tác phẩm này Pháp Tạng phản đối tăng nhân tông Tào Động, cực lực chống đối tông chỉ 5 tông phái Thiền, chủ trương chỉ có một việc đức Thích- Ca giơ cành hoa truyền riêng thiền pháp cho Ca- Diếp, nên phê bình việc thầm trao trong thất là pháp chết( tử pháp). Ngũ tông nguyên trở thành quyển sách gây ra việc tranh luận nhiều nhất trong chốn thiền môn.
trương đường lối khác biệt, khiến tổ Viên Ngộ không hài lòng, loại khỏi hàng môn nhân. Vua Thế Tông ( Ung Chính 1723- 1736) đời Thanh trước tác quyển Giản ma biện di lục, bài xích nghiêm khắc tư tưởng của ngài, hàng môn đồ của dòng Lâm Tế cũng không chấp nhận tên tuổi Tam Phong trong tông phái, từ đó đã trở thành bản án không gì thay đổi được.
Tuy nhiên, trên phương diện pháp môn thường nhật, ngài cũng có sự cống hiến, đã soạn ra bộ Hoằng giới pháp nghi, làm khuôn phép cho đời sau. Nay liệt Tam Phong vào trong các hàng tôn túc, chứng tỏ rằng dù bị tổ Viên Ngộ đoạn tuyệt, nhưng công hộ giáo của ngài vẫn không mất.
4. Sách Thông Giám ghi:
Nhân khi binh của Yên Vương21 đánh phá Kim Xuyên, Kiến Văn Đế22 nhà Minh đã mở hòm di mệnh của Thái Tổ để lại, được bộ cà- sa và tờ độ điệp tên “ Dương Ứng Năng”. Quan Biên Tu trình Tế nói:” Là số vậy”. Nhân đó, ông mời vị tăng chủ lục tên Phổ Hiệp cạo tóc cho vua. Vua theo đường lạch nước mà thoát ra ngoài, ban đầu vào đất Thục, sau đó đến đất Điền…v..v…Người đời sau đều biết vua làm tăng, pháp hiệu là Ứng Năng.
Nay thấy trong quyền thứ 2 của bộ Vân nam tùng thư điền thích kỷ có ghi:” Đại
____________________________
21. Yên Vương (1360- 1424) : chính là Thành Tổ, vị hoàng đế thứ 3 của triều đại nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc. Ông là người con thứ 4 của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương. Trước khi lên ngôi, ông được vua cha phong làm Yên Vương trấn giữ Bắc Bình, có binh quyền và thế lực rất mạnh hơn so với các phiên vương thời đó. Về sau, để chống đối chính sách bài trừ phiên vương của Minh Huệ Đế, ông đã phát động phong trào chiến tranh tiến quân đánh phá kinh thành , soán ngôi, và lên làm vua từ năm 1402- 1424. Ông đựơc xem là một vị vua kiệt xuất của triều đại nhà Minh.
22.Kiến Văn Đế (cg: Minh Huệ Đế 1377-1403) vị hoàng đế thứ 2 của triều đại nhà Minh trong lịch sử Trung Quốc. Ông là con trai thứ của thái tử Chu Tiêu(1355- 1382) cháu nội của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương. Do cha và anh mất trước khi Thái Tổ qua đời nên Thái Tổ đã lập ông làm người kế vị. Sau khi lên ngôi, ông thay đổi rất nhiều chính sách trị nước, trong đó nổi bật nhất là thực hiện công cuộc bãi bỏ phiên vương. Vì thời Minh Thái Tổ để triều đại được ổn định lâu dài, đã phong cho con cháu hoàng thất làm phiên vương, quản lí một vùng đất rộng lớn, được nắm giữ binh quyền riêng. Chính vì điều này dẫn đến những mâu thuẫn lớn trong hoàng triều về sau và đưa đến một cuộc nội chiến đầy thảm khốc giữa ông và Yên Vương Chu Lệ chú ruột của mình. Cuối cùng ông thất bại, rồi cùng với hai cận thần bỏ trốn vào núi xuất gia.
Có lẽ, Minh Thái Tổ đã liệu trước việc này , nên trong hòm di mệnh để lại chỉ có 3 độ điệp và bộ cà- sa.
Sư Ứng Văn, thường gọi là hoà thượng Văn, là cháu đích tôn của vua Minh Thái Tổ, con trai của thái tử Ý Văn. Vào niên hiệu Kiến Văn thứ 4 ( 1403) đời Huệ Đế nhà Minh, Yên vương Chu Lệ dấy binh đánh chiến Nam Kinh ( Kim Lăng) có nội thần23 mở di mệnh của Cao Đế, được ba tờ độ điệp ghi tên: “ Ứng Văn, Ứng Năng, Ứng Hiền” và có cả tăng phục. Thế nên, Huệ Đế và ngự sử Diệp Hy Hiền lấy pháp hiệu Ứng Văn, Ứng Hiền; giáo thọ của Ngô vương là Dương Ứng Năng lấy pháp hiệu Ứng Năng; cả ba cải trang làm tăng, còn quan Biên tu Trình Tế giả làm đạo nhân, họ lần theo các ngõ ngách mà thoát thân. Họ bôn ba qua các nước Ngô, Sở, Kiềm, Việt rồi vào đất Diền, ở lại núi Bạch Long, Vĩnh Xương; khi thì kết am tranh ở Lãng Khung, Hạc Khánh, lúc lại chống tích trượng đến núi Sư tử ở Vũ Định. Di tượng và cà- sa đến nay vẫn còn. Trong thời gian mấy mươi năm ở đất Điền, vua có sớ giải kinh Pháp hoa, Lăng nghiêm, xen vào nhiều để vịnh. Về sau, vua trở về Đông Kinh, ngồi trong cung thị tịch, thọ hơn 80 tuổi, an táng ở Tây Sơn hiệu xưng là “ Lão Phật”
Về chuyện cuả Diệp Hy Hiền và Dương Ứng Năng, thì sử nhà Minh đều có ghi chép lại; Kiến Văn vì nước hy sinh, nên gọi là tuẫn nạn. Các chi tiết được ghi chép trong Điền thích ký24 , so ra tương đối trung thực hơn. Vả lại, mộ của hai vị Diệp Hy Hiền và Dương Ứng Năng vẫn còn ở lại am Tiềm Long, Nhĩ Nguyên, đất Điền, chính là nơi Kiến Văn ẩn tu lúc sanh tiền. Nay, trong quyển thứ 4” Kiến Văn” sửa lại là “Ứng Văn”. Do vậy, chép ra các sử liệu có y cứ để cải chính những sai lầm của các nhà đương thời, đồng thời lưu giữ lại tên tuổi của các vị tuỳ tùng trung nghĩa vậy.
5.Vào mùa xuân năm Quý Tỵ, Hư Vân tôi đến chùa Bán Đường Thọ Thánh ở Tô Châu, thấy được văn bia ghi lời tựa ca ngợi thiền sư Thiện Kế đời Nguyên chích máu chép kinh Hoa Nghiêm do cư sỹ Tống Liêm đời Minh viết. Nhưng khi tra cứu truyện thiền sư Thiện Kế đời Nguyên trong bộ Cao tăng truyện đời Minh25 lại hoàn toàn không có đoạn ngài chích máu chép kinh. Dù sao, công hạnh của ngài Thiện Kế và bài văn của Tống Liêm sáng chói như vầng mật trời, có y cứ rõ ràng, há lại để mai một ư! Do vậy, bổ xung thêm ảnh của thiền sư
____________________
23. Nội thần : quan hầu trong nội cung nhà vua như thệ vệ, nội giám, hoạn quan.
24. Điền thích ký: truyện ký, ( 4 quyển) do Viên Đảnh Hoà Không biên soạn, nội dung sưu tập, ghi chép lại hành trạng các vị tăng tục có liên quan đến Vân Nam. Tổng cộng 253 truyện
25. Minh cao tăng truyện: 8 quyển, Như Tính soạn.
Thiện Kế cùng truyền và bái tán; đồng thời kèm theo bản văn của Tống Liêm vào đây để sửa đổi những thiếu sót trong bộ Tục cao tăng truyện đời nhà Minh.