CHƠN HẠNH
|
Chúng ta chưa thể lắng nghe được tiếng kêu thống thiết của Nietzsche bao lâu chúng ta còn chưa khởi sự suy tư
HEIDEGGER
|
|
Nietzsche là trái tim đen của đức Phật, một trái tim bị sét đánh chẻ đôi trên cao sáu ngàn trượng, bên trên Thiện và Ác, giữa Trò đùa thiêng liêng của vũ trụ. Tất cả những kẻ băng đồi vượt núi đi tìm những đóa tường vi trên đỉnh cao đều bị sấm sét hành hình. Mười năm cuối cùng trong đời, Nietzsche ôm trái tim đã khô hết máu độc của loài người — ôi, người, quá người —im lặng chờ đợi giây phút hóa thân.
Đức Phật, một kẻ chết hụt giữa sấm sét và những trận động đất do Ma vương thị hiện: chỉ kẻ nào đã từng chếthụt trong lửa trời và lứa ma, đã uống đến những giọt đắng cuối cùng của kiếp làm thú, làm người, mới có được nụ cười lồng lộng bao la như thế. Đằng sau khuôn mặt bình tĩnh vô song của đức Phật là một ngàn cuộc giao tranh, một trăm
núi lửa, một triệu hỏa ngục đang cháy, hằng tỷ tỷ thế giới đang tan rã thành tro bụi trong không gian, và trên tất cả là lửa, lửa, lửa cùa một mặt trời sơ sinh thứ tám, xuất hiện mở đầu cho một đại kiếp mới. Sau khi vũ trụ đã bị bảy mặt trời lần lượt thiêu đốt tan tành đến cả tầng trời đệ tam thiền.
* *
*
Những lời lẽ ấy có nghĩa gì? Nietzsche — Zarathustra, Nietzsche-Dionysos, Nietzsche— Kẻ-Bị-Đóng-Đinh gọi dậy những gì từ phương trời Phật giáo? Tại sao trước căn nhà cô tịch ở thung lũng Pleisse, nơi Nietzsche và Erwin Rohde lui về trú ẩn năm 1865, Nietzsche lại cho khắc trên mội tảng đá câu châm ngôn Hy lạp “Hãy thành tựu nguyên tánh của mi”và lại gọi nơi trú ẩn đó là Niết bàn Nguyên tánh trong ngôn ngữ Hy Lạp là gì? Và chữ Hy lạp nầy đã xuất phát từ chữ nào của ngôn ngữ Sanskrit, ngôn ngữ của Kinh Phật? Heidegger đã nhìn thấy một huyền ẩn nào trong vấn đềấy? Nietzsche nuôi ý định bí mật nào khi đổi tên bài thơ lúc ban đầu mang tên Mittag und Ewigkeit, Ngọ thiên và Vĩnh cửu, thành Also sprach Zarathustra, Zarathustra đã nói như thế? Lời mở đầu ấy vang vọng những gì từ lời mở đầu của tất cả các Kinh điển Phật giáo: evam me sutam, “như thị ngã văn”, “tôi từng nghe như vầy”? Zarathustra là ai?
“ Ta, Zarathustra, kẻ phát ngôn của đời sống, kẻ phát ngôn của thống khổ, kẻ phát ngôn của Vòng Trầm luân vĩnh cửu”.
Ai đã từng ôm ghì trọn vẹn đời sống trong đôi tay hốt hoảng mê cuồng, kẻ đó hiểu được Zarathustra. Ai đã cười cợt bỉ báng trái tim lỡ lói của mình, kẻ đó nghe hiểu được nhịp tim của Zarathustra. Ai đã cắn đầu thời gian phun nhổ ra xa như tên mục đồng cắn đầu rắn đen và đứng thẳng dậy như một lưỡi gươm tuốt trần, cất cao tiếng cười bạt gió, tiếng cười không phải của một con người, kẻ đó hiểu được Zarathustra, Zarathustra đã nói thế. Nhưng Zarathustra là ai? Là một kẻ phá hoại lẫm liệt thênh thang trong thiện và ác? một kẻ nuôi dưỡng nỗi nguy hiểm lớn lao nhẩt, cơn đau bệnh tàn tạ triền miên trong tâm hồn? một tảng đá ném vỡ sao? một kẻ bĩ báng vô luân, sẵn sàng bắt tay với quỷ? Đức Phật là ai? Có ai chịu sống đồng thời với đức Phật hay chỉ có những người quỳ lạy tôn thờ đức Phật lại phản bội đức Phật tàn nhẫn nhất? Sống “đồng thời” trong ý nghĩ thê thiết như khi Kierkegaard kêu gào người Ky tô giáo hãy sống đồng thời với Chúa Giê su nghĩa là phải lên đường, bước đi, đập nát sanh tử, thiện ác, cười cợt chế nhạo sự đau khổ, khinh bỉ hạnh phúc; ghê tởm loài người — ôi, người, quá người — vì quá yêu thương loài người? có ai nhớ đến những tiếng tru tréo đau đớn của đức Phật khi trốn vào rừng sâu tu khổ hạnh? Kinh A hàm chép: “thời gian đó, ở trong rừng mà bất ngờ chạm mặt một người nào, đức Phật cũng la rống lên vì sợ hãi và bỏ chạy.” Như thế có nghĩa là gì? Kẻ yêu thương loài người nhất, kẻ đã cảm xúc run rẩy trước những trầm luân vô hạn của con người: sanh, lão, bệnh, tử và đã phát đại thệ nguyện cứu độ tất cả chúng sinh, lại là kẻ khinh bỉ, sợ hãi loài người một cách dữ
đội nhất: kẻ đã khổ hạnh triền miên để mở con đường máu cho loài người thoát ra khỏi căn nhà lửa tam giới thoát ra khỏi trò đùa vô mục đích, kẻ đã đói khát liên miên không có gì ăn đến độ phải ăn lại phân của mình đã phóng uế? (1), kẻ đó lại là kẻ khinh bỉ và sợ hãi con người nhất. Đức Phật là ai? Khi viết về đức Phật, Karl Jaspers đã nhận định “muốn tham dự vào chân lý của đức Phật, (người Tây phương) chúng ta phải từ bỏ hiện thể mình. Sự dị biệt đó không nằm trong những lập trường thuần lý mà là nằm trong toàn bộ quan niệm về đời sống và cách thức suy tưởng” (2) Câu đó chỉ đúng cho riêng người Tây phuơng, hay còn đúng cả cho chúng ta, nhưng người Đông phương tệ mạt hơn cả Tây phương nữa? Chúng ta đã đánh mất những gì từ đời sống? nhân cách cùng giáo pháp của đức Phật? Đám đông ồn ào tụ tập ở công trường đã chế nhạo bỡn cợt Zarathustra như thế nào trong lần xuống núi đầu tiên? Năm anh em ông Kiều Trần Như đã khinh bỉ đức Phật như thế nào khi Phật bỏ đời sống khổ hạnh và khi thấy lại Phật lừ xa? Những đau đớn nào khiến đức Phật muốn giữ mãi thái độ im lặng không chuyển pháp luân sau khi thành tựu đại trí, và sau bốn mươi năm lang thang thuyết pháp,lại nhất thiết chối bỏ tất cả:“Ta chưa từng nói một lời nào”? Điều gì xui khiến Zarathustra tự hỏi: “Những lời ta nói có phải là những lời ta muốn nói?” Loài người còn biết nghe chăng? Hay phải “đâm thủng tai để họ nghe bằng mắt”? “Bọn họ
(1) Xin đọc trong Kinh A Hàm
(2) K. Jaspers, Die Grossen Philosophen, München, 1959, t. 153.
bàn tán ồn ào về ta, nhưng thử hỏi mấy ai chịu vì ta mà tư tưởng?” Những lời lẽ phũ phàng tàn bạo của Zarathustra là những lời lẽ đau đớn của một thiền sư. Có ai nghe Zarathustra, kẻ la hét cô đơn trong một cuốn sách dành cho tất cả mọi người và không dành cho một ai?
* *
*
Zarathustra là kẻ bước đi trên con đường dẫn tới đức Phật. Zarathustra kêu gọi sự tàn tạ của con người để vưọt lên con người, Zarathustra không phải là một nhà nhân bản bảo vệ và duy trì nhân tính của nhân loại: “con người là cái cần phải được vượt qua”. Zarathustra đã say sưa yêu mến loài người như đức Phật đã say sưa thương xót loài người, nhưng đó là lòng yêu mến và thương xót đầy phẫn nộ, loài người bao giờ cũng vẫn tầm thường ti tiện, nhỏ nhoi, sa đọa, yếu đuối như thế; càng yêu mến thương xót họ ta càng đau đớn bàng hoàng, họ chưa bao giờ sáng tạo ra một ngôi sao, chưa bao giờ đạp lên đầu mình để sáng lạo bên trên mình. Zarathustra bảo các môn đồ: “Các ngươi đang còn chán nản đau đớn vì chính bản thân mình. Các ngươi hãy còn chưa đau đớn chán ngán vì loài người... Chẳng một ai trong các ngươi đau khổ vì điều đang làm ta thống khổ.” Bằng một tiếng nói khác, đức Phật đã kêu gọi sự tàn tạ của nhân tính để kiến tính, tựu thành Phật tính. Chỉ có con người đã tự vượt mình, tự biến thành trẻ thơ sau khi đã làm lạc đà và rống lên tiếng thét bạt núi của sư tử, chỉ có con người kiến tính, mới chịu đựng nổi sự tàn phai của thế giới.
Tất cả vấn đề, quan trọng nhất trong tư tưởng Nietzsche đều quy về vấn đề biến dịch, trôi chảy; Nietzsche là kẻ suốt đời đánh giặc với dòng sông của Héraclite (1) để cuối cùng thấy rằng Tính thể là Dịch thể, Dịch thể là Vô thể và Tính thể là Trò đùa. Thế giới là Trò đùa: Well, Weltspiel (2). Đức Phật là người đánh giặc với dòng sông vô thường mang tên là Hư vô, để rồi cuối cùng cất cao tiếng cười bước đi trên vô (asat) và hữu (sat) vì vô và hữu chỉ là trận giặc tưởng tượng trong tâm trí đau bệnh vô minh của con người (3). Zarathustra phải đương đầu với sự hoang liêu đồi phế đang lan tràn của chủ nghĩa hư vô mà gã bốc sư tiên tri đã loan báo trong phần II cuốn Also spach Zarathustra (Der Wahrsager). “Sa mạc lớn dần: Khốn thay cho kẻ nào ôm giữ sa mạc!” (Unter Töchtern der Wüste, Giữa những nàng gái thơ sa mạc) Đức Phật phải đương đầu với sự tàn phá của thời gian và sự gặm nhấm lỡ lói của khổ đau. “Thế gian như căn nhà lửa dậy” (kinh Saddharmapundarĩka), “Toàn thế giới bốc lửa ngùn ngụt, toàn thế giới đắm chìm trong mây khói, toàn thế giới bị ngọn lửa thiêu đốt...” (kinh Samyutta Nikâya). Kẻ nào nuôi lửa và ôm giữ sa mạc trong lòng, kẻ đó muốn phá hủy trần gian. Phá hủy không phải theo nghĩa sa đọa là đạp đổ và khinh bỉ dưới gót chân mình, hay theo nghĩa
(1) Xem Heidegger, Nietzsche, t-I, Pfullingen, Gunther Neske, 1961 trang 548.
(2) Xem Nietzsche, Tri Thức Hoan Say (Die frõhliche Wissenschafs) và cuốn của Engen Fink, Triết học Nietzsche (Nietzsche Philosophie), Stuttgart, 1960.
(3) Xem T. R. V. Murti, The central Philosophy of Buddhism, George Allen and Unwin Ltd, 1960
chối bỏ trần thế để hướng vọng đến một cõi nào diễm tuyệt bên trên trần thế. Zarathustra và đức Phật phá hủy thế gian theo một nghĩa linh thiêng: phá hủy thế gian để thành tựu thế gian, phá hủy con người để thànhtựu conngười. Muốn thành tựu thế gian và con người, phải họcchocạný nghĩacái chết của Thượng đế, phải đập tan ảo tưởng về một thế giới siêu nhiên, siêu khả giác, treo lơ lửng bên trên trần gian. Zarathustra là kẻ tín mộ vô song trong lòng vô tín. Đức Phật là kẻ thấy rằng các vị Trời cũng chỉ là những kẻ được triển hạn trầm luân. Trong tinh thần đó, Nietzsche ca tụng “Phật giáo là tôn giáo mang chất thực nghiệm nhất từ trước đến nay trong lịch sử” (1) Đạp đổ những thần tượng giả tạo, những thiên kiến của trí ỏc con người, Zarathustra đứng trần truồng giữa những đền điện đồ nát của những giá trị cũ để thét lên tiếng kêu giải phóng. Tuyệt đối trần truồng về tâm linh,xấu hổ vớibất cứ thứ y phục tinh thần nào, và quan trọng nhất là biết cahát, nhảy múa, biết cười ầm lên cho vỡ tung óc trì trệ (Geist der schwere). Đức Phật là một kẻ trần truồng tuyệt đối, đức Phật là một kẻ đã quăng lưới tóm thâu tất cả các học thuyết đương thời để vứt bỏ vào vùng trời kiến chấp (2) Để thực hiện sự trần truồng tâm linh, Zarathustra — Nietzsche vứt ra hai câu hỏi khủng khiếp, xô tâm thức vào một cơn lốc tê dại: 1/ Tại sao lại nuôi dưỡng ý chí hướng thiện? 2/ tại sao lại nuôi dưỡng ý chí hướng về chân lý, trong khi mà trọn vẹn cả đời người đều bị chìm đắm sâu thẳm trong phi-chân-lý? Tại sao không thích sự bất xác, sự ngu dốt? Chỉ có đứng trong chân trời vô niệm của Phật giáo
(1) xem Nietzsche, Kẻ chống Chúa (Der Antichrist).
(2) xem Kinh.
mới hiểu nổi hai câu hỏi dữ dội trên của Nietzsche, bằng không thì ta chỉ có thể nói như Jaspers là Nietzsche đã đẩy sự phủ định đến tuyệt lộ và là nạn nhân bi tráng của chính sự phủ định đó (1). Tinh thần Âu châu còn phải mất một thời gian lâu nữa mới thấu nhập được lối đặt câu hỏi sấm sét của Nietzsche để mở dường vào chân trời vô niệm Phật giáo. Nietzsche đã thấy rất rõ điều đó khi nhận định rằng Phật giáo đi trước Âu châu của thời đại ông quá xa, đó là “tôn giáo dành cho những người hậu kỳ, những dân tộc thanh nhã, quý phái, thông minh tuyệt vời và cực kỳ nhạy cảm với sự thống khổ” (2)
Sau khi đã làm lạc đà gánh tất cả gánh nặng trần gian băng qua sa mạc, sau khi đã hóa thân thành sư tử hủy hoại những giá trị cổ truyền, đập vỡ đạo đức học, xóa sạch lý trí, Nietzsche sống trong niềm chờ đợi linh thánh, vô mục đích. Khi trực giác Quy hồi Vĩnh cửu đến với Nietzsche thì Nietzsche hóa thân thành trẻ thơ: chỉ trẻ thơ mới đủ vẻ hồn nhiên thăm thẳm để mở mắt nhìn thẳng vào vòng Trầm luân khủng khiếp.
“Đời sống này, y như ngươi đang sống và đã sống đến nay, ngươi phải bắt đầu sống trở lại nó và cứ bắt đầu trở lại y như thế mãi mãi không thôi; cứbắt đầu lại như thế mà chẳng có thêm điều gì mới mẻ. Sự đau khổ nhỏ bẻ nhất, nỗi khoái lạc nhỏ bé nhất, tư tưởng nhỏ nhặt nhất, tiếng thở dài mây khói nhất, tất cả mọi sự trong cuộc đời mi đều sẽ quay về lại với mi, tất cả những gì tuyệt vời cao
(1) Jaspers, Nietzsche trang 445. (bản pháp dịch, Gallimard)
(2) xem Kẻ chống Chúa (Der Antichrist).
đại và tất cả những gì nhỏ bẻ vô song, tất cả, tất cả đêu sẽ quay về trong cùng một thứ tự, theo cùng một diễn tiến tàn nhẫn khắc khe...” (1) chỉ Trẻ thơ mới chuyển sự khủng khiếp nặng nề kia thành Tình yêu. Không phải im lặng nhẫn nhục chấp nhận những gì xảy đến cho mình, mà còn phải biết yêu thương những gì xảy đến cho mình, yêu thương Định mệnh của mình, amor fati, yêu tất cả những bất hạnh, tất cả những thống khổ, tất cả những niềm vui, tất cả những hạnh phúc. TẤT CẢ ĐỀU CẦN THIẾT. Nói lên tiếng “Vâng” với một là nói lên tiếng chấp thuận với tất cả, vì thật ra một là Tất cả và Tất cả chỉ là Một thoáng thiên thu. Kẻ nào sống với trực kiến đó, là kẻ đang mang một gánh nặng không người chia sẻ. Zarathustra cô đơn nhất là khi Zarathustra nhìn thấy mọi sự đều trở về, trở về vĩnh cửu; đức Phật cô đơn nhất là khi vừa phá vỡ Vòng Trầm luân của chính mình. Vị thánh trong rừng đã khuyên Zarathustra đừng yêu loài người, muốn yêu loài người thì phải lẻn núi cao mà sống chứ đừng tìm đến với họ. Đức Phật đã không muốn chuyển pháp luân vì biết rằng tri kiến của Rhật sẽ làm chúng sinh khủng khiếp hoài nghi. Nhưng rồi cuối cùng, tình yêu thương và lòng từ bi đã xô đức Phật và Zarathustra xuống núi: Zarathustra chạy đi tìm kẻ phát ra tiếng kêu thống khổ, đức Phật đi tìm những người khinh thị mình thuở trước, giảng bài thuyết pháp đầu tiên.
* *
*
Trong một ghi chú vào năm 1884-1885, Nietzsche đã
(1) Nietzsche Die frõhliche Wissenchaft (Tri Thức Hoan Say) đoạn 341.
phác họa một kết cuộc cho Zarathustra. Zarathustra băng núi hái những đóa hoa hồng kết thành tràng và khi đến đỉnh cao thì Zarathustra thuyết giảng bài thuyết pháp cuối cùng tên là: Bài thuyết pháp hoa hồng. Tung hoa hồng lên thế giói, Zarathustra dạy những cọn người thượng đẳng cách chúc phúc cho thế gian, chúc phúc cả cho sự chết: những người thượng đẳng (hai ông vua, viên hốc sư tiên tri, vị giáo hoàng cuối cùng, kẻ xấu xí nhất đã giết chết Thượng đế, vân vân) không ai hiểu Zarathustra. Cả đến con ó và con rắn cũng im lặng.
Trên núi Linh thứu, đức Phật cầm đóa hoa sen đưa lên trước mặt đại chúng và im lặng. Tất cả đại chúng đều không hiểu ý chỉ của Phật, chỉ trừ tôn giả Ca Diếp mỉm cười im lặng.
Đức Phật là kẻ sung sướng hơnZarathustra củaNietzsche.
Hình ảnh cuối cùng còn rớt lại là sự xua đuổi của Zarathustra đối với đám môn đệ, Zarathustra tự phủ nhận mình để các môn đệ bước đi một mình trên con đường tìm ra chính mình:
“Hỡi những môn đệcủa ta,giờđây ta đi một mình, và chính các ngươi phải đimột mình vậy, và tavẫn muốn thế. Hãy đi xa, tránh xa ta và hãy chống lạiZarathustra! Hãy xấu hổ vì hắn. Có lẽ hắn đã lường gạt các ngươi.
Kẻ thiện tri thức chẳng những phải yêu kẻ thù mà còn phải có khả năng thù ghét bạn bè thân hữu.
Mình chỉ trả ơn thầy mình một cách bội bạc mỗi khi mình vẫn luôn luôn là họctròthôi. Tạisaocácngươi không muốn đưa tay giật lấy vòng hoa nguyệt quế của ta.
Các ngươi sùng bái kính trọng ta, nhưng các ngươi nghĩ sao nếu sự sùng bái trọng vọng kia sẽ sụp đổ một ngày gần đây? Hãy thận trọng coi chừng thần tượng đè bẹp các ngươi.
Các ngươi tin tưởng Zarathustra ư? Thế nhưng Zarathustra là cái quái gì chứ? Các ngươi là những tín đồ của ta — thế nhưng tín đồ là cái quái gì hữ?
Các ngươi vẫn chưa tìm ra các ngươi, thế mà các ngươi đã tìm ra ta. Tất cả lũ tínđồđều giống như thế, đó là lý do tại sao mọi đức tin đềuchẳngcó nghĩa lýgì ráo.
Giờ đây ta ra lệnh cho các ngươi hãy đánh mất ta và hãy tìm ra chính các ngươi, và chỉ khi nào các ngươi đều từ bỏta trọn vẹn, thì ta mới trở vềlại các ngươi.”
Hình ảnh đó là hình ảnh các đệ tửcủa đức Phật.Các vị tỳ kheo phải sống đơnđộc hùng dũng “như contê giác trong rừng” ăn một mình, ngủ một mình, đi đứng một mình, trầm tư một mình:
“Này, Ananda, mỗi vị Tỳ kheo hãy là ngọn đuốc cho chính mình, một nơi trú ẩn cho chính mình, ngoài ra không còn nơi trú ẩn nào khác; hãy xem Pháp (Dhamma) như một ngọn đèn, Pháp như một nơi trú ẩn độcnhất còn ngoài ra không còn nơi trú ẩn nào khác.”
(Kinh Mahã parinibbãna-Sutta II, Kinh Dĩgha-Nikãya 16.)
Và đây là những lời nhắc nhở cuối cùng của đứcPhật trước khi từ giã cõi đời, về việc phải từ bỏ đệ tử:
“Các thầy Tỳ kheo, nếu muốn tìm thấy thế giới an lạc của sự vô vi thanh tịnh, thì các thầy hãy thoát ly sự náo nhiệt, một mình ở chỗ thanh vắng — ở chỗ thanh vắng thì chúa trời Đế thích và tất cả thiên nhân cùng nhau tôn kính. Vì thế mà các thầy hãy thoát ly đồ đệ của mình và đồ đệ kẻ khác, đơn độc ở chỗ thanh vắng, dùng “tư duy tu”) mà chặt đứt gốc rễ đau khổ. Thích đồđệ thì sẽbị đồđệ làm khổ,tựa nhưchim chóc tập trung cả bầy thì cây đại thọ đi nữa cũng vẫn bị cái họa khô gãy. Thế gian vì những mối ràng buộc mà phảichìm ngập thống khổ, tựa như voi giàmà xuống bùn lầy thì hết mong thoát khỏi. Đólà hạnhthoát ly” (Kinh Di giáo, bản dịch Thích Trí Quang, 1970)
* *
*
Nietzsche tự xem mình như kẻ đã sáng tạo nên một tôn giáo mới mang tên là“Phật giáo Âu châu”, một hòa hợp tuyệt vời giữa những học thuyết của hư vô chủ nghĩa và sự Quy hồi vĩnh cửu. Phật giáo Âu châu của Nietzsche sẽ là “làn sóng ào tới tương lai”, ôm ấp tất cả cuộc đời trong vòng tay trào bọt của mình (1). Hiện thân của “Phật giáo Âu châu” là Zarathustra, kẻ tiên tri đi bước đi trong sự đi xuống tàn tạ của con người để đánh thức những bình minh còn ngây
(1) Xin đọc Des Will zur Macht, Ý chí cường lực, những đoạn về Phật giáo.
ngủ, những bìnhminh mang tên là Siêu nhân hay Việt nhân (Uebermensch). Siêu nhân hay Việt nhân là những đứa con tương lai thống ngự vũ trụ, những kẻ đủ sức mạnh, tàn bạo, sâu thẳm và sự hồn nhiên của trẻ thơ để chịu đựng nỗi chân lý khủng khiếp: sự Quy hồi vĩnh cửu. Việt nhân là kẻ đập nát những ngôi sao cũ để khai sinh ra những tinh vân mới trong một cuộc chuyển hoán toàn triệt các giá trị cổ truyền (Umwertung aller Werl).
Trong luận án nhan đề Niết bàn Phật giáo dưới mắt các nhà Luận giả Tây phương (1), Guy Richard Welbon đã nêu ra ba sự tương đồng sau đây trong tư tưởng Nietzsche song trùng với tư tưởng Phật giáo:
1). Chân lý khủng khiếp về Quy hồi vĩnh cửu (ewigen Wieder Kunft) song trùng với sự luân hồi (Samsãra) trôi lăn trong vòng sinh tử trải qua hằng hà sa số kiếp.
2). Nhân vật Zarathustra trong tác phẩm Zarathustra đã nói thế (Also sprach Zarathustra) biểu trưng cho lý tưởng Bồ tát (Bodhisattva) của Phật giáo, kẻ làm khiếp đảm sự sợ hãi và ma quỷ, kẻ đứng hiên ngang siêu thoát bên trên Thiện và Ác (jenseits von Gut und Bose).
3). Quan niệm về cuộc “đảo ngược triệt để các giá trị” cùng các khả tính do cuộc đảo ngược ấy đem lại, liên hệ chặt chẽ với kiến giải Nietzsche về niết bàn Phật giáo.
Ở phần kết đoạn “Nietzche — Buddha als Uebermensch ?”,
(1) The Buddhist Nirvàna and Its Western Interpreters; Chicago,1968, tr. 187.
Welbon cho rằng tác phẩm Nietzsche nhắc ta nhớ đến những lời lẽ sét đánh và tàn bạo trong kinh Bát nhã ba la mật đa (prajñãparãmitã).
* *
*
Cuối cùng chỉ còn lại sự im lặng của Zarathustra, khi những kẻ thân yêu nhất, con ó và con rắn cũng phản bội hắn. Trong một bầu trời bình lặng xanh lơ, Zarathustra như một quả tim lửa băng vút lên đỉnh cao và cái chết cuối cùng, của Zarathustra là cái chết kiêu hãnh lạnh lùng của Empédocle khi nhảy xuống ghì ôm lòng núi lửa Etna. Nietzsche đã phác họa cái chết của Zarathustra cho phần thứ V của cuốn Also sprach Zarathustra, nhưng phần thứ V này không bao giờ chào đời, và sau đó vài năm, Nietzsche đi vào sự im lặng huyền dị cuối cùng. Zarathustra bị dân chúng xua đuổi, bị cả hai con vật thân yêu phản bội chỉ vì hắn rao giảng chân lý khủng khiếp nhất, hắn dạy cách nói lên tiếng VÂNG thiêng liêng với tất cả mọi sự cả với cái chết, vì mọi sự đều vô cùng cần thiết, những gì sẽ xảy ra thật sự là đã xảy ra trong vòng Trầm luân vô tận của sự Quy hồi vĩnh cửu. Zarathustra dạy con người chúc phúc cho cuộc sống “biến nỗi khổ đau quẳn quại thành niềm kiêu hãnh”, “biến một điều nhỏ nhặt tầmthường nhất thành một giá trị tuyệt vời cao nhã”, trong bầu trời thuần khiết và giàu sang, con người yêu lấy định mệnh của mình, amor fati, vì định mệnh cũng là một hiện thể của ý chí mình; Con người là bất tử, điều quan trọng tối thượng là dám gánh chịu sự bất tử ấy. Một bàn tay đã chúc phúc cho sự sống thì cũng biết chúc phúc cho sự chết,
một kẻ bước đi phiêu lãng trên sự sống và sự chết như một hơi thở tràn trề là một kẻ biết nhảy múacuồng vuitrênthiện ác,một kẻ đã được giải phóng khỏi lý trí; ngâythơ,mới mẻ, tươi tắn trong cuộc đời như một đứa trẻ té lăn theo dòng biến dịch hồn nhiên vô tộicủavũ trụ vômục đích, “một bánh xe tựvận chuyển, một khởi đầu luônluôn mới mẻ”.
* *
*
Zarathustra là ai?
Hãy chống lại Zarathustra!
Đức Phật là ai?
Hãy giết chết đức Phật !
Chống lại Zarathustra bằng trái tỉm thuần khiết và giết chết đức Phật bằng bàn tay bốc lửa tam muội thì sẽ thấy rằng Zarathustra và đức Phật thật ra chỉ là những bóng ma. Trong Đêm tối bao la quằn quại của của vô minh, đức Phật là một bóng ma:
“Đức Phật giống như một bóng ma
Hiện hữu như trong một giấc mộng”
(Prajñâpâramitâpindârthah)
Trong Đêm tối điêu linh của thế giới vây phủ trong hư vô chủ nghĩa, Nietzsche — Zarathustra là trái tim đen của đức Phật, là bóng ma của bóng ma, Zarathustra “bước đi như bóng ma của những gì sẽ xảy đến”.
Zarathustra và đức Phật đều là những bóng ma thì vô minh cũng là bóng ma và Đêm tối điêu linh cũng là bóng ma.
Chúng ta cũng là những bóng ma và không có giải thoát.
CHƠN HẠNH
|
Đã phát hành:
TRƯỚC SỰ NÔ LỆ
CỦA CON NGƯỜI
CON ĐƯỜNG THỬ THÁCH CỦA VĂN HÓA VIỆT NAM
(tái bản lần thứ nhất, thêm nhiều bài)
T.T. THÍCH MINH CHÂU
|