|
TRIẾT LÝ GIỜ NGỌ của NIETZSCHE
TRONG VIỄN ẢNH
MỘT VŨ TRỤ TUẦN HOÀN
|
LÊ TÔN NGHIÊM
Giờ Ngọ là giờ của ánh sáng triền miên.
Trong quá trình triết lý của Nietzsche, giờ ánh sángấy chính là khoảnh khắc độc nhất vônhị khikhainguyên ra trong đầu óc của ông một trực giác kỳ diệu.
Đó là trực giác sự Phục diễn bất tận (le Retour éternel).
Trước giờ Ngọ, tư tưởng của Nietzsche cũng đã linh cảm được trực giác ấy dưới một khía cạnh khác tức trực giác Bi kịch. Tuy trực giác này làánh sáng dẫn dạo cho tất cả quá trình đi sau, nhưng ánh sáng ấy mới là ánh sáng của ban mai tinh sương, của hừng đông tuy rực rỡ nhưng chưa quyết liệt. Nhất khi hừng đông ấy còn phải chiếu qua một thời kỳ thứ hai do dự mà nhiều học giả cho giai đoạn tác giả tự mâu thuẫn với chính mình hay ít ra với giai đoạn hừng đông trong ánh sáng thẩm mỹ bi kịch. Eugen Fink thì
gọi thời kỳ thứ hai này là triết lýÁnh sáng (Aufklaerung) của Nietzsche. Vậy trực giác giờ Ngọ mới là ánh sáng quyết liệt giúp ta hiểu được toàn bộ tư tưởng của Nietzsche.
Qua hồi ký của chính Nietzsche hay những thiên tiêu sử hậu thế viết về Nietzsche, ta còn ghi nhận được những biến cố và cảm nghĩ sau đây chung quanh trực giác ấy; trong quyển “Đây là con người ấy.” (Ecce Homo), chính Nietzsche đã ghi lại kỷ niệm giờ phút ông được khải thị về chân lý Phục diễn bất tập ấy trên một đỉnh núi như sau:
“Ý tưởng nền tảng trong sáng tác ấy (tức Zarathoustra đã tuyên ngôn như thế). Là ý tưởng về sự Phục diễn bất tận. Đó là một khẳng định chấp nhận cao cả nhất chưa một ai đã đạt tới. Ý tưởng ấy đã khai nguyên từ tháng 8 dương lịch năm 1881: nó đã được ghi cấp tốc trên một mảnh giấy với nhãn hiệu sau đây: “Từ 6.000 dặm trên cao xa loài người và thời gian. Ngày đó tôi đi qua cánh rừng bên bờ hồ Slivaplana ; không xa Surlei bao nhiêu, tôi vội vã đi tới chân tảng đá lớn đứng sững như một kim tự tháp. Chính lúc ấy ý tưởng này đã vụt đến với tôi.” (Ecce Homo, Gallimard, xb lần thứ 16, trg 120).
Từ giờ phút đó, Nietzsche như bị điên loạn, say sưa với ý tưởng kỳ diệu ấy, trong thơ viết cho Peter Gast, ông tâm sự rằng: “Những tư tưởng chưa bao giờ tôi từng thấy đã xuất hiện ra ở chân trời. Tôi không thể nào nói gì về những tư tưởng ấy, chỉ cố gắng sống điềm nhiên, dù không thể điềm nhiên, có lẽ tôi còn phải sống nhiều năm nữa. Hỡi ông bạn thân của tôi! thỉnh thoảng tôi có cảm tưởng như đang sống một cuộc đời vô cùng nguy hiểm, nghĩa là hình như tôi là một trong những bộ máy khổng lồ đôi khi
gây ra bom nổ. Sức cảm xúc của tôi tăng đến cực độ làm tôi kinh hoàng và cười nằng nặc. Nhiều khi tôi không bước chân ra khỏi căn phòng, chỉ vì một lý do rất buồn cười là hai con mắt tôi đỏ ngầu — và tại sao vậy? Tại vì, hằng đêm, mỗi lần tôi đi lại và khóc quá nhiều, nhưng không phải khóc bằng những giọt lệ tình mà là bằng những giọt lệ đầy hoan lạc. Tôi hát, tôi nói toàn những chuyện điên cuồng, vì tôi đã được thấm nhuần tràn đầy một khải thị mới; từ đây khải thị ấy sẽ là đặc ân riêng tôi mà không một ai trong thiên hạ có.” (Charles Andler: Nietzsche, sa vie et sa pensée, tập II, trg 402).
Nhưng trực giác kỳ diệu kia chỉ có thể hiểu được qua định nghĩa của chính Nietzsche về sựlinh cảm.
“Con người nàoở cuối thế kỷ 19 đã có được mộtý niệm chính xác về điều mà những thi sĩ ở các thế kỷ oai hùng đã gọi là linh cảm?”
Bằng thắc mắc ấy, Nietzsche muốn giải thích tình trạng khi ông được linh cảm chân lý Phục diễn bất tận; ông viết:
“Nếu trong ta còn rơi rớt một chút mê tín nào đó thì cũng đủ làm ta không thể từ bỏ được ý nghĩ rằng: ta chính là một sự đầu thai, một phát ngôn viên, một huyền cơ của những thần lực cao siêu.” (EH. trg 126)
Đó là một khải thị huyền bí nghĩa là: “sự xuất hiện bất ngờ của một cái gì phát biểu thành tiếng nói, và xuất hiện thành hình ảnh với một sự chính xác và minh bạch không thể tả. Nó đến đảo lộn tất cả nơi một con người, làm rung động thấu xương tủy họ. Khải thị ấy lại là một sự kiện
chính xác (…), tưtưởng lóe sáng lên như một luồng chớp.Nóáp đảo ta như một định mệnh, dưới một hình thức quyết liệt tôi không còn quyền lưa chọn. Phải nói đây là một sự thâm nhập vào tâm hồn gây ra sự giằng co, nhưng đôi khi lại xoa dịu tâm hồn trong dòng suối nước mắt; đến nỗi chân ta ngập ngừng, tiến đi nhưng bỗng nhiên lùi lại như một cái máy.” (sđ.)
Vậy Nietzsche đã nhìn thấy gì trong giờ phút khải thị ấy? Ông đã ghi lại những gì trên mảnh giấy kia? và ông đã bập bẹ nói lên những gì qua dòng suối nước mắt?
Trước giờ phút uy linh ấy mọi thái độ phê binh theo nhãn quan của người trần và biện chứng pháp khái niệm đều phải tự thú rằng: bất lực; vì trong khải thị huyền bí hầu như phi lý và khoảnh khắc kia, Nietzsche cảm thấy tâm hồn ông phấn khởi vô song, như đã khám phá ra được lẽ huyền vi của tạo hóa.
Không bao giờ Nietzsche cảm thấy mình cao cả hơn khoảnh khắc ấy: “khoảnh khắc tôi khai sanh ra ý niệm Phục diễn bất tận là một khoảnh khắc bất hủ.”
“Này đây, người là nhà tiên tri giảng thuyết về sự Phục diễn bất tận của vạn vật — bây giờ việc đó là định mệnh của người rồi!
Người là người đầu tiên phải giảng thuyết ý niệm đó nên số mệnh cao cả ấy có lẽ lại chính là nguy cơ, là căn bệnh lớn nhất của người. “ (Zarathoustra, Gallimard, trg 204)
(xem tiếp trang 101)