|
TIỀM NĂNG CỦA Ý THỨC THẦN THOẠI
|
LÊ TÔN NGHIÊM
(tiếp theo và hết)
Nhưng ngay từ đầu, triết lý ấy đã gặp những khó khăn.
Lý do đơn sơ và căn bản nhất như đã nói ở đầu là tính cách hoang đường, mông lung của những chuyện thần thoại, ở đây hình như không thểáp dụng cùng một luận lý theo hệ thống các phạm trù được. Theo lối phân biệt của Goethe, thần thoại không phải những sự kiện, mà là những lý tưởng; nếu vậy những lý tưởng phải được nghiên cứu theo luận lý của trí tưởng tượng, chứ không theo luận lý của trí năng nữa. Bergson đã gọi quan năng tưởng tượng là một quan năng bịa chuyện ( fonction fabulatrice ) và Cassirer gọi là khả năng xây dựng thần thoại (the myth-making function).”
Nhưng hình như trí tưởng tượng này không bịa những chuyện vô lý, bừa bãi, không mang mộtý nghĩa căn bản
nào cả hay không phục tòng một định luật chung nào cả. Trái lại, những ý nghĩa của chúng thường được che giấu dưới những hình ảnh hay tượng trưng. Nhiệm vụ của triết lý là phải phanh phui ra những ý nghĩa tiềm ẩn ấy.
Trong lịch sử, các triết gia Stoïciens và Néoplatoniciens đã nêu ra một giải thích thời danh gọi là “giải thích bằng biểu hiệu” (the allegorical interpretation) (E. Cassirer: An Essay on Man, trg 73). Thực ra, lối này đã manh nha từ thế kỷ thứ 5 trước TL. Với Théagène de Rhegium, vì theo ông, những thần thoại không được hiểu theo nội dung, mà phải được hiểu theo những ý nghĩa tiềm ẩn hay những ẩn ý (hyponoiai, về sau mới có danh từ allegoria)
Nhưng chính các triết gia Stoïciens và Néoplatoniciens mới khai triển giải thích ấy thành một kỹ thuật tinh vi, v.d. trong tập Quoestiones Homericoe d’Héraclite, họ giải thích câu chuyện thần thoại thần Zeus trói Hera, trong đó chuyện thần thoại chỉ mang ẩn ý là tinh khí (éther) là yếu tố hạn chế sức bành trướng của không khí thường (air), như tinh khí trói buộc không khí lại, chứ không có sự kiện Zeus trói Hera, v.v...
Lối giảng nghĩa này đã được coi là kỹ thuật duy nhất để đi vào thế giới thần thoại trong nhiều thế kỷ từ thời trung cổ và còn được truyền bá mạnh ở đầu thế kỷ mới.
Bacon cũng đã viết một sơ luận đặc biệt nhan đề là “Tinh ý của người xưa” (Wisdom of the Ancients). Ở đây ông đã để lộ tất cả bộ óc tinh vi của ông khi giải thích những thần thoại, nhưng mỗi khi đọc lại những giải thích ấy không khỏi làm ta phì cười.
Tuy nhiên theo nhận xét của Cassirer, những phương pháp tế nhị và tinh vi của chúng ta ngày nay phần lớn cũng không thoát khỏi tình trạng ấy, vì kỳ cùng, những giải thích ấy lại trở thành thái độ phủ nhận thần thoại. Thực vậy, ở đây thế giới thần thoại cũng trở thành một thế giới giả tạo, một hình bóng của một cái gì khác. Thay vì là một sự tin tưởng, những thần thoại lại trở thành một sự giả vờ tin tưởng (Instead of being a believe, it is a mere make-believe) (sd. trg 74).
Do đó, thần thoại chỉ có giá trị một biểu hiệu như lối giảng nghĩa của Stoïciens và Bacon.
Tuy nhiên giữa lối giảng nghĩa xưa và nay vẫn còn một sự khác biệt, nghĩa là theo những trường phái thời nay, tuy thần thoại có tính cách giả tạo, nhưng không phải giả tạo một cách hữu thức mà là giả tạo một cách vô thức. Nói khác, theo lối giải thích ngày nay, thì người sơ khai đã bịa đặt những chuyện thần thoại nhưng chính họ lại không ý thức được những ý nghĩa của họ bịa đặt.
Vậy nhiệm vụ của nhà khoa học hiện nay là phải khai triển ý nghĩa hay khám phá ra bộ mặt thực đàng sau muôn vàn mặt nạ của những thần thoại ấy. Phương pháp này đã được thực hiện theo hai đường hướng: một đường hướng khách quan, một đường hướng chủ quan: với phương pháp thứ nhất, nhà bác học phải xếp loại những đối tượng của tư tưởng thần thoại; với phương pháp thứ hai, nhà bác học lại phải xếp loại những lý do của những tư tưởng ấy. Khoa nhân chủng học và tâm lý học hiện đại đã theo hai khuynh hướng đó.
Về lập trường nhân chủng học Malinowski đã nhận xét: “Đối với các nhà nghiên cứu của trường phái này, mỗi chuyện thần thoại đều có hàm chửa một hiện tượng thiên nhiên nào đó, tương tự như hạt nhân hay cốt chuyện kín đáo của nó. Rồi hiện tượng này được thêu dệt vào một câu chuyện rất tinh vi.” (Myth in primitive Psychology).
Mỗi loại hiện tượng thiên nhiên được mỗi nhóm coi là đối tượng nghiên cứu của mình v.d. mặt trăng, mặt trời, các vì sao v.v... Mỗi hiện tượng là trọng tâm cho thế giới thần thoại.
Về lập trường chủ quan thì có Freud, với giải thích sau đây: tất cả những chuyện biến ngôn hay thần thoại của người xưa hay của người thời nay đều là những biến đổi và những trá hình của dục tính (libido).
Sau đó Cassirer kết luận: “Ở đây ta không cần đi vào chi tiết của tất cả những lập trường ấy, vì tuy rằng rất khác nhau về nội dung, nhưng tất cả những lập trường ấy đều để lộ cùng một thái độ phương pháp luận, nghĩa là họ có triển vọng thuyết phục ta rằng: có thể dùng lối giản lược của lý trí để hiểu được thế giới thần thoại.” (sd. trg 75).
Nhưng thần thoại không thuộc lĩnh vực lý trí, trái lại nó rất gần với những gì ngoại lý như giấc mơ hay thi ca. Trong bộ sách thời danh, nhan đề: “Triết lý về những mô thức tượng trưng” (Philosophie der symbolischen Formen) tập 2 “Tư tưởng thần thoại” (Das Mythischen Denken), Cassirer đã so sánh tư tưởng thần thoại với giấc mơ và nêu ra giải thích có tính cách Duy hồn của Taylor như sau: “Về sự khởi phát và bành trướng của ý thức thần thoại,
một cách rõ rệt nó được biểu thị qua một ý nghĩa nòng cốt của kinh nghiệm giấc mơ. Chắc rằng: lý thuyết Duy hồn cố gắng giải thích tất cả nội dung của thần thoại từ một nguồn suối, tức là thoạt kỳ thủy thần thoại là một mớ hỗn độn và xáo trộn giữa kinh nghiệm lúc mơ và kinh nghiệm lúc thức. Đó là một lý thuyết không quân bình và không hoàn toàn theo hình thức ấy, do Taylor đem lại lần đầu tiên” (Bản dịch Anh, trg 36)
Hay một lý thuyết khác giảng nghĩa thần thoại giống với thi ca: “thần thoại xưa là một “mớ” chất liệu từ đó thi ca hiện đại đã dần dà tăng trưởng được nhờ ở những quá trình khác biệt và chuyên biệt (differentiation and specialisation), như các nhà chủ trương tiến hóa gọi. Trí óc của người xây dựng thần thoại là kiểu thức mô phạm, còn trí não của người thi sĩ lại thiết yếu còn tính cách thần thoại thi ca (mythopoetic)
(F. C. Prescott: Poetry and Myth) (Cassirer : An Essay on Man, trg 75)
Nhưng theo Cassirer thì cơ cấu đặc sắc của một số những khái niệm thần thoại nền tảng chỉ dễ hiểu là khi ta quan niệm được rằng: đối với tư tưởng thần thoại cũng như “kinh nghiệm” thần thoại luôn luôn phải có một liên hệ giữa thế giới giấc mơ và thế giới thực tại khách quan. (Das Mythische Denken, 2, trg 36)
Hơn nữa, tuy phải công nhận một sự liên hệ giữa thần thoại và thi ca, nhưng ta không thể không nhận ra một sự khác biệt đặc sắc giữa thần thoại và nghệ thuật hay thi ca được. Lý do của sự khác biệt ấy đã được
Kant thiết định như sau trong quyển “Kiểm thảo phán quyết” (Kritik der Urteil): sự chiêm ngưỡng của nghệ thuật hoàn toàn không cần đến sự có hay không có của những đối tượng của nó. Đó là căn bản cho nghệ thuật, vì tựu chung, nghệ thuật bất cần đến đối tượng, trái lại, “ý thức thần thoại không thể khôngcầnđến một đối tượng,vì luôn luôn ý thức tưởngtượngcủathần thoạibao hàmmột tác động tin tưởng (an act of belief); vì néu không có sự tin tưởng vào thựctại củađốitượng nó nhằm thìthần thoại sẽ mất căn bản của nó.” (without the belief inthe reality of its object, myth would lose its ground) (Cassirer: An Essay... trg 75)
Đứng trước sự thất bại trong việc so sánh thần thoại với thi ca, nhiều nhà thần thoại học khác đã so sánh thần thoại với khoa học — một cực đoan của thi ca, nghệ thuật và giấc mơ. Theo các nhà bác học này thì tuy thần thoại và khoa học không đi cùng một con đường, nhưng cả hai đều nhằm cùng một thực tại. Sir James Frazer đã chủ trương sự liên hệ này. Theo ông, giữa thần thoại nhất là những kỹ thuật trong ma thuật (magical arl) và những lối tư tưởng khoa học không có sự phân ly rõ rệt. Tuy có tính cách tưởng tượng và hoang đường theo những phương tiện của nó dùng, nhưng ma thuật cũng có tính cách khoa học theo chủ đích. Nếu thế, theo nguyên tắc, ma thuật là khoa học, tuy rằng trong thực tế, nó bị coi là một khoa học giả tưởng hay giả tạo. Vì chính ma thuật cũng lý luận và hoạt động theo giả thiết rằng: trong thiên nhiên một hiện tượng thiết yếu đi theo một hiện tượng khác mà không thể có sự tham gia của một sức mạnh của thần thánh hay của một người nào cả.
Nói tóm, theo Frazer, trong tư tưởng thần thoại mà ma thuật là một biểu thị rõ rệt, cũng có một tin tưỏng quyết liệt như trong khoa học rằng: cuộc tuần hoàn của vũ trụ này không thể do sự điều khiển các vị thần hay những sức mạnh phi lý được, mà thiết yếu do tác động của những định luật bất di dịch hoạt dộng một cách máy móc.
Nhưng một quan điểm như vậy không thể đứng vững được, vì khoa nhân thể học ngày nay đã hoàn toàn phi bác lập trường của Frazer (ví dụ R.R. Marett: The Threshold of Religon). Hơn nữa, hầu hết ngày nay các nhà bác học đều phủ nhận ý kiến cho rằng: thần thoại và ma thuật chỉ có tính cách giảng nghĩa máy móc như vậy.
Và Cassirer kết luận:“Chúng ta không thể giản lược thần thoại vào một số yếu tố tĩnh chỉ như thế được; vậy ta phải nỗ lực đi sâu vào tận sự sống nội tại, vào tính chất biên dịch và di động, vào những nguyên tắc khích động của nó.” (An Essay... trg 76).
Bằng một khía cạnh khác, Cassirer tiến gần lại với vấn đề; đây là một con đường dài dòng và phức tạp, đòi hỏi nhiều phân tích tỉ mỉ, nhưng đã được ông trình bày trong, bộ sách thời danh của ông gồm 3 quyển. Đó là bộ “Triết học về những mô thức tượng trưng” (Philosophie der symbolischen Formen) đã trích dẫn trên kia và những tác phẩm khác của ông. Tất cả đều căn cứ trên lý thuyết về Niệm thức tiên nghiệm (le Schématisme transcendental) của Kant để giải thích toàn bộ lĩnh vực mà ông gọi là “Triết lý Văn hóa” (Philosophy of human Culture) gồm ngôn ngữ, thần thoại, tôn giáo, nghệ thuật, khoa học và lịch sử.
Sau đây, chỉ cần ghi lại một vài nét đại cương liên quan
đến vấn đề thần thoại. Theo Cassirer, thần thoại mang hai bộ mặt: một mặt theo cơ cấu khái niệm (a conceptual structure), một mặt theo cơ cấu tri giác (a perceptual structure).Ông viết: “(thần thoại) không phải một mớ ý tưởng hỗn độn, vô tổ chức; trái lại, nó phục tùng một cách thái tri giác đặc biệt. Vì nếu thần thoại không khác tri giác vũ trụ một cách đặc biệt thì có lẽ nó cũng không thể phán quyết hay giải thích vũ trụ một cách đặc biệt được. Vì vậy muốn am tường được đặc tính của tư tưởng thần thoại, chúng ta phải trở về tới địa tầng sâu nhất của tri giác.” (An Essay... trg 76)
Từ địa tầng ấy, Cassirer tự phụ sẽ phanh phui được đặc tính của tri giác ấy mà ông gọi là “những đặc tính bộ điệu” (the physiognomic characters) đối lập với “những đặc lính đối tượng khách quan” (the objective characters). Theo những điều trình bày trên kia về sự khác biệt giữa “Weltbild” (hình ảnh vũ trụ) vật lý và suy lý với “Weltanschauung” (Vũ trụ quan), chúng ta đã có thế hiểu một cách vắn tắt sự phân biệt của Cassirer như sau: những đặc tính đối tượng khách quan thuộc lối nhìn của Weltbild, còn những đặc tính bộ điệu lại thuộc lối nhìn của Weltanschauung. Trong Tập 2 quyển “Triết học về những mô thức tượng trưng”, ông đã giải thích một cách rõ rệt khi so sánh một bên là không gian tri giác cảm giác (the space of sense perceplion) và không gian theo tri thức thuần lý (the space of pure cognition) vởi mộl bên là những đặc tính tổng quát của trực giác không gian theo thần thoại (characterization of the mythical intuition of space):
“Một cách đặc biệt, ông viết, nếu so sánh không gian “sinh lý” với không gian “đo lượng” căn bản cho các lý
thuyết Euclide, ta mới thấy sự đối lập giữa hai bên theo từng chi tiết: không gian Euclide được thiết định bằng 3 chiều kích nền tảng là liên lục tính (continuity), vô hạn (infinity), và đồng loạt tính (uniformity). Nhưng tấtcả những chiều kích ấy lại đối nghịch với đặc tính của tri giác cảm giác. Vìtri giác không biết lời ý niệm vô hạn; trái lại, trước hết tri giác đã bị giới hạn trong một khuôn khổ nào đó do chính khả năng tri giác của ta hạn định ra. Rồi trong liên quan với không giantri giác ta càng không thể có đồng loạt cũngnhư không có vô hạn (...) (điều này chúng tôi đã giải thích trên quan niệm hình ảnh vũ trụ vật lý)
“Khởi sự từ so sánh trên, chúng ta có thể chắc chắn rằng: không gian thần thoại liên hệ mật thiết với không gian tri giác và gay gắt đối lập với không gian có tính cách lý luận của hình học. Vì cả hai khỏng gian thần thoại và không gian tri giác là những sản phẩm cụ thể nhất của ý thức, ở đây chưa có và không có thể có sự phân biệt vị trí với nội dung như trong lý thuyết của không gian “thuần túy” hình học được. Vì ở đây vị trí là một cái gì không thể táchrờivớinội dung hay đối nghịch với nó như một yếu tố có ý nghĩa biệt lập. Vị trí ấy chỉ hiện hữu là khi nó được phủ đầy bằng một nội dung xác định, có tính cách cảmgiác hay trực giác cá biệt. Do đó, trong không gian cảm giác như“thần thoại”, không một “chỗ này” hay “chỗ kia” nào là một chỗ này, chỗ kia thuần túy, hay một giới hạn thuần túy trong tương quan phổ biến và tương quan ấy có thể trở thành đồng tính với tất cả các giới hạn khác, trái lại, mỗi điềm, mỗi yếu tố đều bao hàm một toàn cục riêng của nó (...). Đối nghịch với đồng loạt tính trong không gian khái niệm của hình học, mỗi vị trí và
chiều hướng trong tư tưởng thần thoại đều được thấm nhuần một “sắc thái” riêng biệt và sắc thái ấy lại quy về sắc thái nền tảng của thần thoại là sự phân biệt ra một bên là linh thánh một bên là trần tục.” (trg 83, 84, 85)
Như thế, theo quan điểm thần thoại, vũ trụ là thế giới diễn xuất như một tấn kịch (a dramatic World), một thếgiới được kết dệt toàn bằng những hành động, những sứcmạnh và năng lượng chống đối nhau. Nên trực giác thần thoại luôn luôn nhuộm đầy những đặc tính cảm xúc. Bất cứ vật gì cũng đều hiện ra như mang những tính chất hiền hậu hay dữ tợn, thân mật hay thù hận, quen thuộc hay xa lạ, ghê tởm hay quyến rũ, đầy xa hay kéo lại gần. Ta có thể lập lại dễdàng hìnhthức kinh nghiệm sơ đẳng ấy, vì ngaytrong đời sống của những người văn minh, người ta vẫn chưa đánh mất hẳn tiềm năng thần thoại nguyên thủy ấy. Tất cả mọi nỗ lực của tư tưởng khoa học đều nhằm xóa nhòa vết tích của lối nhìn nguyên thủy ấy. Nhưng những lối nhìn ấy không thể bị tiêu diệt, có lẽ những giá trị đối tượng khách quan hay hình ảnh vũ trụ có thể bị tiêu diệt, nhưng những giá trị nhân thể học của chúng vẫn tồn tại. Trong vũ trụ sống theo nhân tính của ta, người ta có thể phủ nhận chúng, nhưng người ta không thể thiếu mất chúng.
Hơn nữa, xét theo diễn trình của ý thức, hình như những đặc tính bộ điệu cũng phải xuất sớm hơn những đặc tính tri giác. Một con trẻ ví dụ thoạt khi bắt đầu biết nhận thức sự vật ngoại tại thường hay chú ý tới nhũng đặc tính bộ điệu của sự vật trước hết.
Nói tóm, đối với tri giác thần thoại và trí tưởng tượng thần thoại không được đứng ở quan điểm của Kiểm thảo
lý tính thuần lý để nhận định mà phải lãnh hội những đặc tính của kinh nghiệm thần thoại bẳng chính “phẩm chất trực khởi của chúng.” (We must lake the qualities of mythical experience on their “immediate qualilativeness”.) Vì việc cần thiết phải làm ở đây không phải là giải thích những tư tưởng hay những tin tưởng suông, mà là giải thích về chính sự sống thần thoại. Thần thoại không phải là một mớ những điều tin tưởng theo tín điều võ đoán. Thần thoại cũng không phải những hình ảnh hay biểu tượng suông mà là “những hành động.” (An Essay... trg 79).
Theo nguyên tắc, kết luận của Cassirer rất phù hợp những gì đã nói trên vềVũ trụ quan và Nhân sinh quan của y thức thần thoại, vì đốivới người sơ khai hay ý thức thầnthoại nói chung, vạn vậttrongvũ trụ ngoại tại cũng như những hành vi của con người, đều không có giá trị hữu thể tự nội. Lý do là vì theo từng chi tiết trong thái độ sống ý thức của họ, người sơ khai không thể hành động một hành vi nào mà hành vi ấykhông được hànhđộng haysống trước kia do một người khác, nhưng người ấy lại không phải một người thường.
Nói tóm, hành động của họ đã được hành động trước kia rồi: những gì họ làm đã được làm trước kia rồi, nếu vậy, đời sống của họ chỉ là mộtsự lập lại (répétition) không ngừng những cử chỉ linh tượng (archétypes) của những cử chỉ do “những người khác” đã khai trương. Mircea Eliade đã nhận định như thế rằng: “Sự lập lại những cử chỉ linh tượng một cách ý thức nhưthế biểu lộ một hữu thể học độc đáo, vì những gì do thiên nhiên sản xuất, hay cả những gì do bàn taycon người làm ra đều chỉ có thực tại đồng tịnh là khi chúng tham dự vào một thực tại siêu việt. Vì vậy
mỗi cử chỉ chỉ có nghĩa, có thực tại với điều kiện duy nhất là lập lại một cử chỉ nguyên sơ.” (le Mythe de 1’ eternel retour, trg 19).
Từ đó người ta đã cố gắng đi tìm một định nghĩa thiết định ra một cơ cấu cho ý thức thần thoại. Theo Eliade, một định nghĩa tương đối ít khuyết điểm nhất vì rộng rãi nhất là định nghĩa sau đây: thần thoại kể lại một câu chuyện thánh; trình bày biến cố đã xảy ra trong thời gian nguyên sơ tức thời gian huyền sử của những “ngày sáng thế” (Aspects du Mythe trg 15).
Theo định nghĩa ấy có thể thiết định cơ cấu thần thoại bằng mấy thành tố sau đây: “I). thần thoại là câu chuyện kể về những hành động của những đấng thiêng liêng; II). câu chuyện ấy được coi là lịch sử có thực (vì căn cứ trên những thực tại) và linh thánh (vì là công việccủa những đấng thiêng liêng); III). luôn luôn thần thoại quy hướng về một “sáng thế”v.d. nó kể rằng:một việc gì xẩy ra trong cuộc đời, một thái độ, một thể chế, một công thức làm việc v.v... đều đã được thiết định do những đấng thiêng liêng, vì vậy những thần thoại mới cấu thành những linh lượng cho mọihành độngcủa con người; IV). con ngườiphải hiểu biết thần thoại vì có hiểu biết thần thoại mới hiểu biết được “nguồn gốc” vạn vật, do đó mới khống chế và sử dụng chúng theo ý muốn được; nhưng đây không phải là một kiến thức chỉ cần học hỏi để biết mà là một kiến thứcphải sống và sống bằng những nghi lễ. Nghi lễ ấy phải thực hiện bằng hai cách: hoặc là kể lại câu chuyện thần thoại theo một nghi thức, hoặc là thực hiện nghi lễ ấy bâng những cử chỉ bắt chước những cử chỉ của các đấng thiêng liêng.” (Aspects du Mythe, trg 30).
Sách mới sẽ phát hành giữa tháng 8-70
Sử ký của Tư Mã Thiên
GIẢN CHI và NGUYỄN HIẾN LÊ
Giới thiệu, trích dịch và chú thích
Tư Mã Thiên là nhà văn lớn nhất, có tâm trạng u uất nhất của Trung Hoa chịu sống nhục để hoàn thành bộ sử ký; cảnh già thật cô độc, không ai biết chét năm nào và ở đâu.
Sở học, tư tưởng, chí hướng cao cả và tâm sự bi thảm của ông gửi cả vào bộ đó mà về phương diện nghệ thuật, Lỗ Tấn khen là bộ Ly Tao không vần, về phưong diện sử học, tất cả các học giả Đông, Tây đều nhận là một công trình vĩ đại làm vẻ vang cho nhân loại, hơn hẳn các bộ sử của Hérodote, Tacite. Ảnh hưởng của nó tới văn hóa Trung Hoa chỉ đứng sau các bộ Kinh của Khổng Tử Lão Tử và Trang Tử.
Chavannes ở Pháp, Watson ở Mỹ đã dịch nhưng chưa trọn bộ vì tác phẩm lớn quá: 130 thiên 526.500 chữ.
Ở nước ta, trước thế chiến Nhượng Tống mới trích dịch được ít đoạn ngắn, nhưng giới thiệu sơ sài không chú thích, mà lại không dịch trọn một thiên nào nên độc giả không thấy được cái bi hùng cuồn cuộn trong bộ sử mênh mông đó.
Lần này hai ông Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê trích dịch nhiều hơn, giới thiệu và chú thích kỹ cũng như đã giới thiệu Chiến Quốc Sách. Nhà xuất bản Lã Bối sẽ in thành một cuốn dày. (Giấy mắc, công in tăng, nên số in phải hạn chế, bạn nên dặn trước ở hiệu sách quen; chắc chắn không thể tái bản).
Nhà xuất bản Lá Bối
120 Nguyễn Lâm Cholon