Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Tư Tưởng Số 5 (Năm 1970)

Tư Tưởng Số 5 (Năm 1970)

Tác giả: Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh. Năm xuất bản: 1970. Số trang: 127.

Chương 3: NIETZSCHE và Mật Tông (Trang 27 - 46)


NIETZSCHE và MẬT TÔNG

NGÔ TRỌNG ANH
 
 
Nietzsche không phải là một triết gia nhà trường. Mặc dầu ông có đi dạy học mười năm nhưng cho đó là bất đắc dĩ vìông không bao giờ thích dạy cho đám đông. Ông đồng ý với Guyau khi ông này viết: “Nếu một nghệ sĩ có thiên tài mà bị trói vào một công việc lam lũ thì đương sự sẽ có cảm giác luôn luôn bị ám ảnh rằng mình sống một cuộc đời vô ích, không thành tựu nổi một công việc, không thực hiện được một lý tưởng thật không khác gì một tội nhân đang bị lương tâm cắn rứt” (Esquisse d’une morale sans obligation ni sanction). Nietzsche vào dạy đại học lúc hai mươi bốn tuổi với một cấp bằng tiến sĩ không luận án. Ritschl đã tiến cử Nietzsche và bảo rằng: Đó là một thiên tài. Thật tình Nietzsche được miễn trình bày luận án tiến sĩ vì không ai nỡ bắt buộc một thi sĩ phải thảo công văn hành chánh hay bắt họa sĩ đi sơn cửa quét nhà. Luận án của ông với đề “Những

 
 
 
 
niệm tưởng căn bản của bíểu tượng” (Les Schèmes fondamentaux de la Représentation) bị loại một cách thê thảm vì họa sĩ mà sơn cửa tất không đều hay nhạc sĩ ru con tất không ai ngủ...
Toàn bộ sự nghiệp lạ lùng của Nietzsche không có chủ đề thông thường nên không tạo ra ý thức hệ nào để giám khảo chấm và phê điểm. Nói một cách khác tư tưởng Nietzsche quá cao vượt ra khỏi thành kiến thế gian cho nên không ai hiểu thấu. Triết gia theo Nietzsche là những người đã sống một cái gì phi thường (Notes et Aphorismes) và tư tưởng của ông không cốt để phổ biến cho đám đông vì vương giả chi đạo chỉ cần một số ít theo là đủ. Phẩm là đáng trọng hơn lượng trong thế giới tư tưởng. Ông viết: “Trong thế kỷ của những ấn phẩm mau chóng và nông cạn, tác phẩm nguy hiểm nhất lại không nguy hại vì nó chỉ in vừa đủ dùng cho năm hoặc sáu bộ óc khá sâu sắc. Hơn nữa... khỏi lo, vì chính nó giúp cho ta hủy diệt cái thời này. (N.E.A). Trong một bức thư khác ông viết “Khi một người như tôi đã sống trọn vẹn một cuộc đời thăm trầm và ẩn dật, tôí cần sang nó lại cho những người mà tôi lựa chọn.” Mật giáo bí truyền không thể phổ biến cho đám đông vì theo lời của Lama Govinda trong “Căn nguyên huyền học Tây tạng” (Les fondements de la mystique Tibétaine) thì“vào tay người ích kỷ thuốc hồi sinh sẽ biến thành thuốc độc cũng như vào miệng người ngu lời thánh hiền sẽ biến thành lời bịp bợm và vào bụng dạ hẹp hòi đạo đức sẽ biến thành mê tín” (trang 86)
Đoạn chót của Ainsi parlait Zarathoustra nghĩa là chương tư được Nietzsche in thành bốn chục bản và chỉ tặng có bảy bản, không bán.

 
 
 
 
Người bạn đầu tiên mà Nietzsche tôn làm sư là Schopenhauer, nói cho đúng hơn là “hồn ma” của Schopenhauer vì có tiếng gọi thì thào bên tai sinh viên Nietzsche bảo phải cầm quyển “Le monde comme Représentation et comme Volonté” về mà đọc, khi chàng ta tình cờ vào tiệm sách nhìn chơi. Ảnh hưởng nặng nề của Phật giáo bắt đầu với sự nghiệp vô hình vô tướng, vô thủy vô chung của Nietzsche kể từ giờ phút này. Đó là giờ Ngọ (Midi) trong Ainsi parlait Zarathoustra hay trong Ngàn cao đỉnh núi (Du haut des cimes) đoạn kết của Vượt qua Thiện ác (Far delà le Bien et le Mal). Giờ Ngọ đặc biệt này đến với sự im lặng của Vô ngôn, với giấc ngủ của Vô phân biệt trí, với sự bí mật của cây cỏ và sựtế nhị của sợi tơ nhện cột chặt con thuyền Bát nhã vào Tịnh thổ (Bảo Sanh Như Lai là vị Phật thiền của giờ Ngọ, của Tình thương không đối tượng, của chủng sanh bình đẳng, của mặt đất, của thế gian) :
(Xem bài Mật tông trong Tư Tưởng bộ cũ số 1)
“Như con thuyền mệt lả trong bến nước êm đềm: Chính là tôi hiện tại đangnằmsátđất, chung thủy, tintưởng và chờ đợi, ràng buộc với đất bằng những đường tơ mong manh nhất. Ôi hạnh phúc, sao ngươi không hát hỡi hồn ta?. Nhưng giờ phút linh thiêng và bí mật đã đến, tiếng sáomục đồng cũng im bặt ? Coi chừng. Giờ Ngọ sôi nóng yênnghỉ trên cánh đồng. Đừng hát nữa, im lặng và thế giới thành tựu”. (Ainsi parlait Zarathoustra).
Giờ Ngọ của Nietzsche là giờ Ngọ của Schopenhauer trong Le monde comme Représentation et comme Volonté :
“Hiện tại: điểm giữa thời gian vô hạn, đứng yên, bất động như một giờ Ngọ vĩnh cửu không hẹn một chiều mát dịu.”
 
 
 
Không có giây phút Thiền của Phật giáo thì không thể nào thấu triệt được tư tưởng lạ lùng của thi sĩ Nietzsche. Phật giáo đã đem lại cho Nietzsche hai món quà qua trung gian Schopenhauer đó là Tham thiền nhập định và Sáng tác nghệ thuật. Phật giáo không bao giờ đem lại cho ai tự do xem như một ân huệ trên trời rơi xuống, Phật giáo chỉ là một con đường để ai muốn lên đường thì lên. Và Nietzsche đã tự giải thoát bằng cách theo con đường Thiền kèm sự sáng tác nghệ thuật.
Trong thế giới nghệ thuật Nietzsche được nhạc sĩ Wagner kết bạn để cùng nhau nghiên cứu Schopenhauer. Đối với Nietzsche thì tuy không có gì quí bằng tình bạn trong đời sống xã hội (Opinions et sentences mêlées) nhưng sau một thời gian sống cô đơn lúc trở về với loài người thì tôi muốn kết bạn với những bậc siêu nhân (Surhommes). Và nếu siêu nhân bị những con người tầmthường,cằn cỗi, giànua tư tưởng (le vieil homme), những  con người của đámđông, của bầy kiến, suy tôn vì ngộ nhận thìNietzsche cũng khước từ luôn tình bạn kể cả Schopenhauer và Wagner trong tinh thần Phùng Phật, sát Phật của Thiền tông. Những Siêu nhân của Nietzsche là những triết gia ngày mai, bạn truyền kiếp, bạn kết nghĩa, bạn khôngrời củasự cô đơn thâm sâu của giờ Ngọ đứng bóng và giờTý canh khuya,(Pardelà le Bien et le Mal)
Sau khi đi nghe bản nhạc Anneau des Nibelungen của Wagner tại Bayreuth, Nietzsche viết thơ cho chị “Tất cả ở đây đều làm tôi đau đớn”; ông đau đớn trước cảnh lượng đám đông ô hợp suy tton thần tượng vì xu thời và nhất là thấy sự sung sướng của siêu nhân Wagner sa đọa. Nếu Nietzsche mà còn sống thì Hitler và hàng triệu tín đồ suy

 
 
 
 
tôn ông sẽ vỡ mộng vì mọi ngộ nhận xuyên tạc đều bị phá hủy với câu “Những con người toàn diện (hommes synthétiques) không thể xuất thân từ đàn kiến mà ra được”. Nhờ những công trinh dịch thuật của Henri Albert, Alexandre Vialatte và những khảo cứu công phu của các triết gia thượng thặng như Karl Jaspers, Camus, Heidegger, Deleuze và Engen Fink, nên đám đông đàn kiến không thể xuyên tạc đương sự được nữa. Sở dĩ còn một số cố tình hiểu sai Nietzsche xem như tượng trưngcủa Đức quốc xã là vì ngu xuẩn hoặc vì đương sự đang theomột đànkiến khác chonên sợ “D. D. T.”Nietzsche tàn sát. ỞViệt Nam đàn kiến này cắn mất ngót nghìn chữ của quyển “Nietzsche cuộc đời và triết lý” của Félicien Challaye do Cadao xuất bản. Ở Âu Mỹ thì kiến bị xua đuổi vào bóng tối và đang nấp bóng ý thức hệ khoa học để hoạt động âm thầm. Đó là những đàn mối nguy hiểm hơn kiến bội phần. Nếu Nietzsche có dịp để tàn phá các tôn giáo hình thức sống vào sự dọa nạt tín đồ và sự dối trá của một sốtu sĩ thì Nietzsche chưa có cơ hộiđể đập phá thành trì củakhoa họcvới những tínđồ củachúng một cách mãnh liệt. Thời ấy chưa có những ỷ thức hệ chính trị và kinh tế dựa trên luận lý toán học và luận lý biện chứng để biến nhân loại ra làm hai “đàn mối đánh nhau tới chết như ngày nay. (Và vì sợ hết chiến tranh nên chúng kéo nhau đi tố khổ siêu nhân gồm những thi sĩ, nghệ sĩ, hiền triết, thánh nhân, thiền sư và lang thang sĩ). Sở dĩ chúng là mối chứ không phải kiến vì đôi khi chúng đội lốt Nietzsche, thế mới chết. Nếu Nietzsche hướng về chân ngôn thì họ hướng về ngôn ngữ học với Chomsky, nếu Nietzsche hướng về sự đả phá thần tượng thìhọ cũng đã phá để xây những thần tượng mới. Trong quyển Contradictionnaire của Georges Elgosy, danh từ Cộng sản được

 
 
 
 
định nghĩa là lý tưởng Thiên chúa nhất. (Le communisme est le plus Chrétien des idéaux). Nếu Chúa đã chết theo danh từ Nietzsche thì Foucault trong Les Mois et les Choses cho rằng Người cũng chết theo. ỞViệt Nam thì Thánh kinh được thay thế bằng di chúc của cha già để con cháu được chôn tập thể trong gò mối bên chân cầu. Vật chất được suy tôn thay thế Chúa tại đây.
            Sở dĩ Nietzsche bị ngộ nhận là vì ông bị bắt buộc phải dùng ngôn ngữ thế gian. Và những danh từ ông dùng rất tàn bạo, kinh khủng, rùng rợn đầy sát khí để phá đổ thần tượng:
“Hãy sống với nguy hiểm, phóng thuyền ra khơi tìm nơi hoang vắng, hãy trở nên hải tặc và xâm lăng, hỡi những ai đi kiếm trí huệ! Nếu các anh không thể thành thánh nhân của trí huệ thì hãy làm chiến sĩ của chúng! Hãy gây một nội chiến cho tư tưởng các anh!”
Trong các mạn đà la Mật tông siêu nhân thường được tượng trưng bằng những vị Diêm vương (Yama), Hộ pháp, Tứ thiên vương, Kiên lao địa thần v.v. hình thù cực kỳ hung tợn đứng cạnh những Phật thiền hiền hòa bất động. Những chiến trận tư tưởng của siêu nhân Nietzsche gây nên tuy vậy không đem lại một chiến lợi phẩm nào hết, đó là những cuộc chiến nội tâm không có sự tranh dành, chiến mà không tranh. “Khi nào hòa bình ngự trị, con người hiếu chiến khai chiến với nội tâm mình. (Par delà le Bien et le Mal)
Một lý do khác giúp đàn mối diệt trừ siêu nhân là đạo đức nhà trường thường hay chủ trương bênh vực kẻ hèn yếu một cách vô ý thức đến nỗi tạo ra một thời đại vàng

 
 
 
 
son cho những kẻ hèn yếu tư tưởng, hay nói một cách khác đề cao ngu dốt để diệt trừ trí huệ. Trí thức Việt Nam hiện nay không còn đất đứng để mà suy tư vì phải mắc lo chạy gạo, tất cả chính sách giáo dục văn hóa tại Việt Nam từ Bắc chí Nam là đi đến chỗ giết chết tư tưởng để nâng cao ngôn ngữ con vẹt của đồng chí cán bộ và bồi bếp thông ngôn. Chận đứng Pascal, Bergson, Rousseau để phát triển các trường cán bộ, thông dịch viên với chiêu bài chống thực dân là một trò đùa hy hữu. Giáo sư chết đói, trường ốc tồi tàn, ngân sách hạt bụi sẽ biến thanh niên Việt Nam ra những đàn mối, cắn nhau ở đồng bằng, ở cao nguyên, dắt nhau sang Lào sangMên đểtiếp tục cắn nhau dưới sựngơ ngáccủalính MênLào,họ nhát gan nghe súng là chạy.
Những đàn mối gốc Việt này rất ghét siêu nhân. Nietzsche bảo rằng: “Người ta không ghét vì khinh địch thua mình nhưng ghét vì địch mạnh ngang ta hay hơn ta”. Hiện nay ởViệt Nam đang có phong trào bôi nhọ cá nhân, những tập đoàn ẩn danh, ném đá dấu tay vì khiếp nhược. Siêu nhân là cá thể cô đơn chống tập đoàn. Lũ kiến là đoàn thể liên kết chống cá nhân. Nietzsche khinh khi người Anh, chê bai người Đức, nhạo báng người Pháp là vìông chống tinh thần tập đoàn quốc gia hẹp hòi, lạc hậu. Nietzsche hướng siêu nhân vào chốn vô sở trú với câu: “Chúng ta từ nguyên thuỷ không có tổ quốc, nên chúng ta khỏi cần do dự, chúng taphải là nhữngkẻkhai phóng, vạch đường mở lối”.
Nietzsche chống đối những tập đoàn tôn giáo hình thức nhưng lại mến Đức Jêsus, một siêu nhân bênh vực Marie Madeleine chống quan tòa dư luận của đám đông thích ném đá, Jêsus là một siêu nhân bị đám đông đóng đinh xét xử. Nietzsche là nhân vật sau đức Jêsus đã chống đối những

 
 
 
 
tòa án nhân dân một cách triệt để. Tuy nhiên đức Jêsus chắc chắn sẽ đau lòng khi thấy giáo sư trung học Long Khánh vì dạy khoa học trái với giáo điều mà bị một tập đoàn nhân danh ngài hành hung đánh đập.
Đối với Nietzsche đức Jêsus đem lại một đức lý mới căn cứ trong tình thương thể nhập, dẹp bỏ mọi tội lỗi ngăn cách giữa Chúa và tôi. “Jêsus nói với dân Do thái luật Chúa là để cho đám nô lệ. Hãy mến Chúa như ta mến. Luân lý còn có nghĩa lý gì đối với chúng ta vì tất cả đều là con Chúa? (Par delà le Bien et le Mal). Nietzsche bảo rằng đức Jêsus là mộtđấng diệt trừ đức lý của đàn kiến đàn cừu. Luận lý của đàn kiến đã bao phen làm đổ vỡ Việt Nam quốc tự, làm điêu tàn Phật giáo Việt Nam. Tuy nhiên, tư tưởng của siêu nhân quá cao không thể nào mà phổ biến cho thế gian nên xưa Phật thường bảo phải mật truyền.
Tư tưởng ấy rheo Nietzsche, muốn lên cao cần phải luôn luôn vượt bậc không bao giờ được ngừng. Trong Aurora có một đoạn như sau :
“Chúng ta muốn đi đâu? Muốn vượt trùng dương chăng? Sự say mê mãnh liệt này hơn tất cả mọi say mê khác sẽ đem chúng ta đi về đâu? Tại sao mải miết bay về hướng ấy về chốn mà tất cả mọi mặt trời từ trước đến nay đều rụng và tắt ? Biết đâu một ngày kia người ta sẽ bảo rằng chúng ta cũng đã từng trực chỉ Tây phương với niềm hy vọng ghé vào một -xứ Ấn Độ nào đó, nhưng cũng bảo rằng nghiệp chúng la là sự thất bại trước vô biên. Hoặc rằng, các bạn ơi, hoặc rằng?...
Tư tưởng phải vượt qua tất cả, vượt qua thiện và ác,
 
 
 
đúng và sai, vượt qua bộ óc phân hai, vượt qua ngay cả tư tưởng mình. Siêu nhân đập phá thần tượng của chính mình nên phải sống cô đơn. Sự kiện vượt qua bằng cách đập phá này thường được gọi là hủy diệt. Và chỉ có những siêu nhân mới hủy diệt lẫn nhau trong tinh thần kính trọng nhau. Đàn kiến đàn ruồi không bao giờ hiểu rõ sự hủy diệt của tư tưởng vượt qua tư tưởng này. Hủy diệt đối với họ là giết nhau đểtranh dành kiếm ăn trong vòng danh rướng của bộ óc phân hai ngàn đời không biết nghệ thuật. Ngày xưa Phật giáo tiến mạnh là nhờ sự hủy diệt tư tưởng và Phật giáo đã nhảy vào miền núi cô đơn, sang Tây tạng với tuyết lạnh sương mù của kinh Sấm chẻ (Kim cang). Phải có sự cô đọng của mây mù mới tạo ra sấm chớp của trí huệ :
Tôi mến những ai như những hạt mưa rơi lớn từng hạt một từ đám mây mù lơ lửng trên loài người. Họ báo hiệu cho sấm chớp sắp đến và họ hủy diệt thân họ để báo tin.
Và tôi đây cũng là một tiên tri của sấm sét, là một hạt mưa nặng hột rơi từ ngàn cao: nhưng sấm sét ấy chính là siêu nhân (Ainsi parlait Zarathoustra).
Nietzsche đã hủy diệt Schopenhauer và Wagner, Heidegger lại hủy diệt Nietzsche, Marcuse lại hủy diệt Heidegger, Henri Miller lại hủy diệt Heidegger, cũng như Krishnamurti đã hủy diệt Phật, Chúa cùng với mọi tôn giáo kể cả đạo Krishna-murti và ý thức hệ chính trị. Phật giáo mà đi vào con đường Giáo hội Tân tăng để suy tôn giáo chủ là hạ sơn để dấn mình vào chốn tranh dành địa vị, sanh sự đánh lộn. Họ không phải siêu nhân mà lại là dã nhân. Đừng lầm dã nhân của đàn kiến dưới chân núi với siêu nhân hạ sơn:
 
 
 
Hạt mưa nặng hột phải tan với loài người vì cái nghiệp tu hành cũng như cái nghiệp nghệ sĩ là cái kiếp con tằm nhả tơ: Bá Nha phải đi kiếm Tử Kỳ. Siêu nhân sống với cô đơn để mà sáng tác, nhưng một khi sáng tác xong họ lại thấy khó lòng mà ích kỷ giữ lấy cho mình. Họ mon men xuống núi để thực thi Bồ tát hạnh nghĩa là chọn bạn mà gửi vàng. Vì Chân để mà trở về tục đế cho nên đành phải ráng chịu duyên kiếp gian nan nếu rủi ro gặp phải đàn mối đàn cừu.
Nietzsche bảo: “Không thể nào sống riêng với một tư tưởng lớn. Tôi đi tìm và kêu gọi những ai có thể chia sẻ dùm tôi tư tưởng ấy mà không bị nó tiêu diệt”
Nietzsche cũng như các Nho sĩ xưa rất thích chọn tri âm. Sự kén chọn khó khăn lắm: Rượu ngon không có bạn hiền, không mua không phải không tiền không mua. Siêu nhân có thể thương từng chúng sanh một nhưng không thể kết bạn với tập đoàn chúng sanh. Nietzsche ôm con ngựa bị hành hạ mà khóc đến chết nhưng vẫn sống cô đơn với loài người.
Vấn đề cá nhân và xã hội đối với Nietzsche do đó làmột vấn đề thường bị ngộnhận rấtnhiều. Nietzsche không đặt vấn đề cá nhân ưu tiên hay xã hội ưu tiên. Đối với Nietzsche cá nhân hay xã hội đều như nhau, kiến và đàn kiến tuy khác nhau về lượng nhưng in nhau về phẩm. Mà đã cùng phẩm chất thì chống đối nhau làm chi. Cá nhân và xã hội không quan trọng bằng siêu nhân. Cá nhân của xã hội không phải là cô đơncủa siêu nhân.Những tưtưởng của xã hội học quên siêu nhân để lo cho hạnh phúcnhânloại là những cái rơm cái rác xây tổ cho đàn kiến. Ông viết:
“Những lý tưởng hạnh phúc xã hội (idéaux eudémonistes-

 
 
 
 
sociaux) kéo đàn người trở lùi: chúng có thể bảo đảm một loài lao công rất hữu ích! chúng sáng chế ra hạng nô lệ lý tưởng trong tương lai và hạ tầng nhân loại được bổ sung đầy đủ.”(Notes et aphorismes).
Những triết gia đi theo con đường cá nhân gồm có Descartes, Leibnitz, Feuebach rồi tiếp theo với những phái lãng mạn và hiện sinh còn những triết gia đi theo con đường xã hội gồm có Hégel, Husserl, Marx rồi tiếp đến những chủ nghĩa xã hội và cơ cấu.
Với Descartes cá nhân được đề cao với câu:Tôi tư duy tức tôi hiện hữu (Cogito ergo sum), ở đây cá nhân được cô đơn với lý trí mà suy tư.
Vởi thuyết hiện sinh cá nhân được đề cao với câu: Tôi hiện hữu tức tôi tư duy (Sum ergo cogito). Ở đây cá nhân được cô đơn mà sống động…
Với Hégel xã-hội được đề cao với câu: Cá nhân với cá nhân. Ở đây cá nhân không còn cô đơn để hiện hữu hay tư duy. Tư tưởng va chạm với tư tưởng và sức sống va chạm với sức sống.
Với Husserl xã hội được nuôi dưỡng với câu: Ý thức là ý thức về cái gì. Ở đây lý trí cá nhân công nhận sự hiện hữu của những lý trí cá nhân khác. Đó là sự hiện hữu của những ý thức khác nhau trong cảm giác liên khởi của sự hiện hữu chung.
Hàng trăm hàng ngàn cuộc đấu tranh tư tưởng trong phạm vi cá nhân và xã hội đều phát xuất từ những tư tưởng vĩ đại trên làm ngao ngán sinh viên xã hội học. Nhất là có

 
 
 
 
những môn phái lương ương ghép tư tưởng của hai tổ sư lại làm một. Marx thì nắm Descarles với Hégel hướng về tương quan kinh tế. Freud thì nắm Hiện sinh với Husserl hướng về tương quan tâm lý. Levi Strauss thì tham lam hơn, nắm cả bộ ba Descartes, Hégel và Husserl nhưng đành chống đối hiện sinh kịch liệt.
Trong trận chiến tranh giữa các tư tưởng nói trên Nietzsche đứng ra ngoài vòng tranh chấp trên con đường của Long Thọ với Nhân minh học.Đối với Nietzsche, sở dĩ có tranh chấp là vì tất cả chịu chấp nhận một số tiền đề (présuppositions) luận lý mà chưa xét giá trị của chúng: Tất cả đều chạy theo chủ thể và đối tượng, quên mất giá trị đáng nghi ngờ của chữ tức (ergo), chữ với, chữ về. Không đặt vấn đề của những từ ngữ luận lý ấy là tin tưởng vào luận lý, là say mê văn phạm. Những công thức luận lý là những trùng phức vô biên, gồm những “dây chuyền lý trí đẹp mắt, đơn giản và dễ hiểu” (Descartes, Discours de la méthode). Vì dễ hiểu nên đàn kiến thích bám vào để tự đắc tự cao xem thiên hạ bằng con tép. Trí thức chưa phải là siêu nhân cũng vẫn là kiến tuy mọc thêm cánh. Cánh đây là luận lý,dùng để bay vòng quanh lý sựđể chứng minh “sự ưu thế của những cá thể mù lòa mắt kém trước những nhân vật nhìn thấy những biến chuyển của mọi sự vật”Nietzsche — Volonté de puissance). Xưa nay đàn kiến thường gán cho Nietzsche là theo Hư vôchủ nghĩaphá hoại luận lý đạo đức.Thật khôngcógì sai lầmbằng. Phá hoại không phải là duy vô, cắt vảy cá trong con mắt đâu phải là duy vô. Nietzsche đập tan tinh thần suy tôn luận lý chết khô để đem lại sức sống cho cuộc đời vì theo Nietzsche “chính triết lý mới là duy vô vì y là thành trì cho sự chối

 
 
 
 
từ cuộc đời.” (Antéchrist). Triết lý dựa trên nền tảng luận lý là triết lý của sự chết, của hư vô, củanhữngcái xác không hồn, của những máy tính điệncơ,của tờdi chúc, của cán bộ xung phong tuyên truyền,củachiếntranh không giới tuyến, không trách nhiệm cá nhân, không chỉ huy, không đầu não. Luân lý là cái tổ của đàn kiến không thể nào chế ngự được siêu nhân. Chúng là những “tín đồ cuồng tín của lương tri, những Thanh giáo đồ (Puritains) thích chết nằm trong mội cái hư vô chắc chắn hơn là đi vào một thực tại khả nghi, hư vô chủ nghĩa là như vậy đó”... (Par delà le Bien et le Mal)
Hư vô chắc chắn là cái tổ kiến luận lý giết chết đời sống. Thực tại khả nghi là nghệ thuật thi ca làm sống cõi chết. Siêu nhân không bao giờ sợ chết hay trốn tránh sự vô thường, nhưng lại say sưa với bất cứ cái gì khả nghi trong trời đất, luôn luôn đi tìm nơi xa lạ như “những cánh chim dũng cảm vượt ngàn cao xa, luôn luôn xa nữa...” (Aurore). Chỉ có “sự chối từ cái vô thường, cái biến dịch, cái chết, cái cố gắng, cái ước muốn mới là một ý chí diệt vong chống đối sự sống và khước từ những điều kiện căn bản cho cuộc đời.” (Généalogie de la Morale).
Chấp nhận cái khả nghi tức là khả nghi giá trị của luận lý. Và nếu luận lý có mục đích đi tìm chân lý thì phải khả nghi luôn cả chân lý. Đến đây Nietzsche đặt một câu hỏi then chốt, một câu hỏi “Bát nhã ba la mật” (Trí tuệ vượt sang bên kia bờ): Nếu chân lý là một ước muốn thì “chúng ta phải đặt câu hỏi về giá trị của ước muốn ấy. Nếu cho rằng chúng ta ước muốn chân lý thì tại sao lại không muốn phản lý ? hoặc khả

 
 
 
 
nghi? hoặc cả vô học?Vấn đề giá trị của chân lý tự nó chạy đến chúng ta hay trái lại chính chúng ta chạy đến nó? Ai hỏi? Oedipe hay nhân sư? Có lẽ ở đây là nơi hội họp của các câu hỏi và các vấn đề. Nhưng có ai tin không? Có lẽ vấn đề này chưa bao giờ được đem ra cả và chúng ta là những kẻ thấy nó đầu tiên và dám nhìn nó. Vì đó là cả một sự liều lĩnh và biết đâu, một liều lĩnh tối hậu (Par delà le Bien et le Mal).
Sự liều lĩnh tối hậu chỉ đến với siêu nhân đầy dũng tính, đó là tinh thần vô úy của Bồ tát hạnh. Ý chí vượt bậc (Volonté de puissance) của siêu nhân không phải lòng ham muốn quyền hành nhỏ nhen của thế giun, đó là oai lực tâm linh để thành tựu đại nguyện (siddhi). Trong Mật tông giai đoạn chót của siêu nhân là giai đoạn của Phật thiền Bất không thành tựu Như lai. Đó là vị Phật của nghệ thuật nghĩa là những pháp thuật nhiệm mầu mà chỉ riêng những ai có tâm hồn nghệ sĩ mới họa may đạt được. Nghệ sĩ cũng như Thiền sư là nhũng kẻ liều mình vượt bậc, sống trong thế gian mà xuất thế gian lúc nào không ai hay biết gì cả. Đó là những con người chim hay mệnh mệnh điểu vương (garuda) của ngài Bất Không, vị Phật của Phong đại với gió núi xanh thẳm ngàn cao, với hơi thở siêu nhân quá hải.
Chân lý duy nhất mà Nietzsche công nhận là chân lý được thành tựu trong công trình nghệ thuật” (A. Kremer Marieti. Dictionnaire des idées contemporaines trang 524). Nghệ thuật đem lại một chân trời luôn luôn vượt bậc cho siêu nhân, vì không thể nào có nghệ thuật chết khô cũng như không thể có ngọn gió đứng yên. Nếu

 
 
 
 
chúng ta công nhận rằng đời sống là chuyển động thì chính-nghệ thuật giúp ta sức sống. Nếu nghệ sĩ chưa phải là siêu nhân thì siêu nhân lại là một nghệ sĩ, điều kiện bắt buộc! Sáng tạo nghệ thuật là nắm được duyên sinh giải thoát khỏi vòng nhân quả.
“Những kẻ khước từ cuộc đời và tìm thấy sự yên vui tâm hồn là những người đã sáng tạo ra cuộc đời ấy với tư cách đấng tạo hóa. Chính nhờ sự sáng tạo mà các người diệt được khổ. Và cũng do đó mà các người mến đời sống” (Notes et aphorismes).
Chỉ có siêu nhân mới có thể từ khước cuộc đời rồi lại yêu đời bằng sáng tạo nghệ thuật. Nghệ sĩ chân chính sống bên lề cuộc đời nhưng lại yêu đời hơn ai hết. Nghệ sĩ cũng như siêu nhân lànhững đấng tạo hóa. DânViệtxưa không phải là đànkiến, hay nói chođúnghơn,rất ít tâm hồn kiến thành thử chú trọng mạnh về nghệ thuật. Gian hàng Việt Nam ở Osaka sở dĩ được dòng người hiếu kỳ đến xem là nhờ ở những bức sơn mài và những bức họa đầy nghệ thuật và nhất là chiếc độc lư ở Huế. Chữ Việt có nghĩa là siêu. Những nhà nhiếp ảnhViệt Nam là những tay vô địch trên thế giới.Tiếc thaynghệ thuật nước nhà chỉ được đề cập khi cần phải che đậy tổ kiến mà thôi thành thử chữ Việt hiểu nghĩa Hán là Siêu phải phiên âm La mã và đọc sai thành Vẹt. Do đó giá trị của nghệ sĩ tại Việt Nam phải lu mờ và Siêu nhân phải nhường chỗ cho thông ngôn tốc ký bồi bếp. Phong trào diệt Việt-siêu đã lan dần trong Văn khoa để nhường bước cho đoàn Vẹt-kiêu. Sẽ có những Đại học khác được thành lập nay mai với tài nguyên vô tận trên đường hướng kiến đỏ, kiến đen xây tổ và đắp pháo

 
 
 
 
đài. Kiến bao giờ cũng bôi nhọ nghệ sĩ bằng những vu cáo hình thức chứ không dám đả động đến nội dung tư tưởng: Nietzsche bị đàn kiến gán cho biết bao nhiêu là lời thô bỉ vì kiến chỉ biết chửi thề đánh lộn chứ đâu biết bút chiến suy tư. Chúng gán cho Nietzsche là mắc chứng điên, chứng khùng, đau tiêm la ghẻ hờm, đau kiết lỵ, đau yết hầu cho nên gây ra phong trào hư vô, tạo ra Đức quốc xã v.v... Nếu vì đau bệnh mà viết được những tư tưởng cao tận trời xanh thì trên thế gian này đã có biết bao nhiêu là tác phẩm! Tại sao chỉ có duy nhất Nietzsche viết mà thôi? Đàn kiến chỉ thấy có hình thức cho nên tránh né tư tưởng bằng những xuyên tạc nhỏ nhen. Nhưng kiến có biết đâu rằng chúng đã giúp phương tiện cho siêu nhân giải thoát. Nhiên liệu đau khổ là cần thiết cho thiên tài sáng tác, sáng tác nghệ thuật là một khổ hạnh đem lại thanh bình và an lạc tâm linh. Sáng tác nghệ thuật không phải là tìm thú vui tiêu khiển, thú vui tiêu khiển là giây phút khoái lạc hình thức đem đến luyến tiếc nhớ nhung. Thú vui là chướng ngại chặn đứng sự vượt bậc của siêu nhân trên con đường chuyển y (paravrtti).
Đến đây, cần phải hiểu danh từ chuyển y mới thấu triệt được tư tưởng “Trở về vĩnh cửu” của Nietzsche. Chuyển y nằm trong tinh thần câu: Nam mô A di đà Phật (Namo Amitabha) có nghĩa là Trở về với Ánh sáng vô lượng. Đạo Phật là đạo của sự trở về, của qui y, của hồi hướng. Thiện tài đồng tử sau khi đi chu du suốt tất cả hàng tỷ thế giới đã trở về với nội tâm: Siêunhân vượt núi để trở về với lòng mình. Câu nói của Nietzsche “Hãy trở về với nguyên tánh anh” chính là câu
 
 
 
Bản lai diện mục. của nhà Phật. Sự trở về vĩnh cửu này chỉ xuất hiện với những sự khổ đau cùng độ, những giây phút linh thiêng của thiên tài xuất chúng:
“Ý chí muốn đau khổ: Nếu anh là đấng tạo hóa anh phải sốngở trần gian một ít lâu. Anh phải ngất ngư suýt chết để mà sau đó cảm tạ sự mê lầm lạc lối của anh. Nếu không, anh sẽ không sáng tạo mà chỉ chết khô. Anh phải trải qua những sáng sớm và chiều hôm của cuộc đời. Anh phải đau khổ đi đau khổ lại một thời gian. Anh là người đã trở về vĩnh cửu vậy anh phải tự mình tạo ra một sự trở về”. (Notes et- aphorismes)
Không làm sao mà lý trí loài kiến hiểu nổi tư tưởng Trở về vĩnh cửu vì lý trí không chấp nhận nghịch kiến, luôn luôn bị kẹt trong cáithếphânhaicủa sự đúng sai. Lý trí không làm sao mà Vượt ra khỏi vòng Thiện ác với Nietzsche. Trở về vĩnh cửu nghĩa là siêu nhân nhảy về tục đế để chọn bạn gửi vàng cho từng chúng sanh một đến bao giờ hết chúng sanh mới thôi. Cái nghiệp của siêu nhân là đau khổ lại nhiều lần, nhiều vô số kể. Không ai bắt buộc cả, Trở về là tự mình đại nguyện bồ tát hạnh. Đại nguyện càng lớn nếu lũ kiến quá đông. Nếu làm ơn mà rủimắcoán thì càng hay, tuyệt nhiên siêu nhân không bao giờ thối chí. Cái công dã tràng của Trở về vĩnh cửu này được ông Daisetz T. Suzuki trình bày một cách nên thơ trong Essence du Bouddhisme với công án sau đây:
“Phật A di đà không khác gì ông lãobênbờ giếng.Ôngmúc tuyết đổ vào giếng cho hết tuyết trênmặtđất.Ônglàmmột công tác hoàn toàn vô ích vì không bao giờ xong, Nhưng

 
 
 
 
có điểm lạ lùng là ông biết sự vô ích này. Tuy biết nhưng không ngừng múc vì không phân biệt mình với hành động”.
Kiếp nghệ sĩ là cái kiếp ông già bên bờ giếng, lang thang đây đó để nhả tơ vì đã trở về với kiếp con tầm trên tục đế.
Trở về vĩnh cửu là chọn con đường vô thủy vô chung của đại nguyện bồ tát:
“Tôi kéo dài lời than thở bên mồ nhân loại và không thể rời chân. Ngày đêm tôi khóc than, tôi tự hỏi không ngừng, tôi điếc tai, tôi nghẹn thở:
“Than ôi! Con người sẽ trở lại vĩnh cửu! Con người đê tiện sẽ trở lại vĩnh cửu! Con người lớn nhất và con người bé nhất quá như nhau! Con người lớn nhất lại còn chúng sanh hơn” (Ainsi parlait Zarathustra).
Con người lớn lại là con người “chúng sanh” quá sức, đê tiện vượt bậc. Nietzsche đã tiên đoán được giá trị của các cấp lãnh đạo thế giới ngày hôm nay, đó là những dã nhân đội lốt siêu nhân để cầm đầu thiên hạ. Nietzsche gọi chúng là con khỉ, thằng hề, chú lùn hay yêu quái (Singe, bouffon, nain, démon). Chúng chống siêu nhân với sức mạnh của số đông chạy theo ý thức hệ, ý thức hệ do chúng đặt ra bằng cách rút ở tư tưởng của siêu nhân một cách xuyên tạc. Nếu Phật cho phép Thiền sư nói câu: Phùng Phật sát Phật để chặn đứng đường đi của đàn kiến thì câu “Thượng đế đã chết” lại bị chống đối một cách mãnh liệt tại trời Âu. Theo Nietzsche thì chính “Thần học đã giết Chúa cũng như đạo đức học đã giết chết đạo đức vậy” (Notes et aphorismes). Thần học là dùng luận lý học để mà hiểu Chúa tức là dùng

 
 
 
 
cái Giả để mà hiểu cái Chân hay nói mội cách khác giết chết cái Chân một cách đẹp mắt. Thần học dùng luận lý chết khô nên đành phải đốt cháy sức sống của cuộc đời luôn luôn đổimới.Thầnhọcđemlại nhưng ýniệm luận lý về Chúa thành thử “Ý niệm về Chúa từ trước đến nay là dẫn chứng mạnh nhất để chống đối sự sống. Chúng ta khước từ Chúađó là cách duy nhất để cứu thếgian” Tôn giáotheo Nietszche khôngở với đám đông, tôngiáo chân chínhphải là mật giáo, phải âm thầm, phải yên lặng. Vị Thần linh mà Nietzsche yêu mến là vị thần của Tản Đà, Bạch cư Dị và Tam nguyên Yên Đổ: đó là Dionysos vị thần của rượu nho. Dionysos là:
“Vị thần của tình thương, vị đại thánh sống ẩn dật, vị tiên đầy cám dỗ hiện ra để thâu hút lòng người, tiếng nói âm thầm của ông đi tận đáy lòng của tâm hồn. Không một lời nói, không một cái nhìn nào của ông mà không đầy quyến rũ.”
Tư tưởng của Nietzsche về tôn giáo là tư tưởng của Diệu pháp Liên hoa kinh và hạt vàng nhỏ xíu trong bùn là hạt châu vô giá trong áo gã say nói ở phẩmNgũ bá đệ tử thọ ký.
“...Vị thần của tình thương làm im tiếng bọn ồn ào khoe khoang, dạy chúng biết lắng tai nghe, xoa dịu tâm hồn sắt đá và giúp chúng tận hưởng một thích thú mới: sự an lạc trong việc ngồi tự tại phẳng lặng như hồ gương phản chiếutrời sâu.....Vịthần của tình thương có chiếc đũa thần biếttìm hạt bụi vàng nhỏ xíu từ lâu chôn chặt trong đám bùn trong đống cát...” (Par delà le Bien et le Mal).
Lần đầu tiên tác giả bài này thấy lúng túng khi muốn

 
 
 
 
trình bày tư tưởng Nietzsche, lúng túng vì thấy mình bất lực và bất tài. Những tác phẩm của Nietzsche không phải để học và phê bình vì theo Nietzsche bảo trong Zarathoustra: “Nó đen hơn mực xạ” hay trong Par delà le Bien et le Mal: “Tôi chỉ tặng cho buổi hoàng hôn của đời anh một bức họa bằng tư tưởng với rất nhiều màu sắc, với rất nhiều âu yếm ngũ sắc, nâu có, lục có, đỏ có, hàng trăm màu, những tia lửa bất ngờ, những huyền diệu của cô đơn, ôi đó là những tư tưởng xấu của tôi. — một bức họa mà không ai đoán được sự sáng ngời của buổi sớm đời anh.” (Par delà le Bien et le Mal)
Và Nietzsche chấm dứt tác phẩm trên bằng một bài thơ với nhan đề là Ngàn cao đỉnh núi (Du haut des cĩmes). Bài thơ này chỉ có ngài Không Lộ mới tri âm nổi:
Hữu thời trực thượng cô phong đỉnh.
Trường khứa nhất thanh hàn thái hư.
Nếu Nietzsche vẽ bức tranh làm cháy thời gian thì Ngài Không lộ cũng hét một tiếng làm lạnh không gian vậy.

 
NGÔ TRỌNG ANH

 
cadao đã phát hành
gió bấc trẻ nhỏ đóa hồng và dế
thơ Hoài Khanh

 
 
 
 
/12
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »