NGUYỄN BĂNG THỤC
THIỀN VỚI Ý THỨC TAM GIÁO Ở TRẦN THÁI TÔNG
(tiếp theo và hết)
Ngồi thiền định để biến hóa khí chất mà phát triển trực giác siêu hình tức là đạt tới giác ngộ mà Trần Thái Tông lấy làm đồng nguyên Tam giáo: Phật Lão Khổng. Như thế là Ngài nhìn nhận ba giáo lý này đều thuộc về tư tưởng triết lý truyền thống như Aldous Huxley mới đây giới thuyết dưới danh từ “Peremial-Philosophy” hay là Philosophia Peremis = “về siêu hình học nó nhận thức một thực tại linh làm bản thể cho thế giới sự vật, chúng sinh và tinh thần; về tâm lý học nó thấy ở trong tâm hồn cái gì tương tự hay là đồng nhất tính với thực tại linh; về luân lý học nó đặt cứu cánh của nhân loại ở tại sự giác ngộ cái Bản thể nội tại siêu nhiên của tất cả tạo vật.”
(Philosophia perennis-the metaphysic that recognises a divine Reality substantial to the world of things and lives
and minds; the psychology that finds in the soul something similar to, or even identical with, divine Reality; the ethic that places manâ final end in the knowledge of the immanent and transcendent Ground of all being)
Cái thực tại đại đồng nội tại siêu nhiên ấy chính là “Vạn vật nhất thể” trong tư tưởng truyền thống Đông phương, ở Khổng Nho là“Thiên nhân hợp nhất” (A)“ Trời, Người hợp làm Một”; ở Lão Trang “Đạo sinh Nhất” (A) “Thiên, Địa dữ Ngã tinh sinh, vạn vật dữ Ngã vi nhất” (A) “Vũ trụ với tacùng hiện ra, muôn vật vởi ta làm một”, ở Phật giáo Bà la môn giáo là “Tat tvam asi”“Cái ấy là Người”, “ Phật tức tâm” (A) “Phật ấy tại Tâm”, “Tâm tức Phật” (A) “Tâm tức là Phật”.
Vì cái thực tại ấy vốn sẵn tiềm tàng nơi tâm ta, dù kẻ ngu người trí cũng đều tư bẩm cái tác dụng giác ngộ của nó cho nên đều có thể tu luyện biến hóa khí chất mà thành tựu được cả. Đạt tới cái điểm “đồng ngộ nhất tâm” (A) tức là đạt tới nguồn tâm linh chung của Ba giáo mà vượt lên trên thế giới tương đối vả lưõng nguyên cho nên cả Ba giáo đều khinh thân mà trọng Đạo vậy.
Khổng tử viết: Triều văn đạo tịch tử khả hỹ,
Lão tử viết: Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả vi ngô hữu thân, Thế tôn cầu đạo sả thân cứu hổ,
Khởi phi tam Thánh nhân khinh thân nhi trọng đạo giả tai?
(Khuyến phát tâm văn)
Nghĩa: Khổng tử viết: Sớm nghe giảng đạo, tối chết cũng được rồi vậy,
Lão tử viết: Ta sở dĩ có lo sợ lớn là vì ta có cái thân.
Thế tôn cầu tìm đạo mà bỏ thân cứu con hổ đói. Chẳng phải cả ba bậc Thánh coi rẻ cái thân mà trọng đạo đấy ư ?
Vì Thánh, Hiền là Chân lý thể hiện, là Thực tại đại đồng không còn biến đổi, không còn giới hạn vào thời gian hay không gian, Phật phương Nam hay Phật phương Bắc, Phật ngày xưa hay Phật ngày nay. Đấy là một sự thành tựu chẳng phải lý thuyết, là Một Ý thức “giác ngộ” như trên đã mô tả những thực nghiệm về Tam Muội (Samadhi). Tuy rằng đường lối, hình thức thực nghiệm của mỗi tôn giáo còn tùy theo hoàn cảnh thực tế mà khác nhau, nhưng theo Trần Thái Tông thì một khi “đồng ngộ nhất tâm”, cả ba thành tựu đều có đặc tính chung là quên thân mình đặc thù cho đạo đại đồng và đều tôn trọng sự “Sống” đạiđồngcoi như đức tính vũ trụ Thực tại tối linh vậy.
“Nho điển thi nhân bố đức,
Đạo kinh ái vật hiếu sinh,
Phật duy giới sát thị trì.” (Giới sát sinh văn).
Nghĩa: “Nho giáo trong kinh điển dạy thì hành lòng nhân đạo rộng khắp.
“Sách Thánh kinh của đạo giáo dạy điều yêu vật và hiếu sinh.
“Còn Phật thì chuyên giữ giới không giết”.
Vì không gì đại đồng hơn là sự sống “Lifeis immense” (Vedas) “sự sống thì vô biên” (A)
“Thiên địa chi đại đức viết sinh” (Dịch kinh) “Cái đức tính lớn nhất của Trời Đất là sự sống”. Sống là dịch động không ngừng (A) “Sinh sinh chi vị dịch” (Hệ từ). Và sống là vận động có chiều hướng nhất định như vũ trụ vận hành có điều lý vậy. Bởi thế nên cổ nhân Đông phương đã sớm trực giác cái thực tại tối linh vô biên đại đồng là nguồn sống, cũng như nhà khoa học Ấn J. Bose đã chứng minh. Kẻ u mê đã giới hạn sự sống vào trong biên giới cá nhân, gia đình, quốc gia, Nam hay Bắc, đến khi “đồng ngộ nhất tâm”mới sáng tỏ chỉ có Một Ý thức vũ trụ, một “Thiên địa chi tâm” (A), một“Kiền Khôn Nhất sinh Ý” (A) (Cao Bá Quát). Và Trần Thái Tôngđã “Minh sinh Tử” (A) “sángtỏ lẽ sống chết” bấtquá chỉ tại mê với ngộ.
“Mê chi tắc sinh tử thủy, ngộ chi tắc luân hồi tức hỹ”.
(Bạt hậu Khóa hư Lục)
Nghĩa: “Khi mê thì bắt đầu có sống chết, đến lúc giác ngộ thì vòng luân hồi sống chết hết vậy”.
Bởi vì sống chết chỉ là hai phương diện đối đãi tương đối của Nguồn Sống, vốn nó không hạn chế vào cá nhân đặc thù, ngã nhân hay tha nhân, nhưng trong mê nên lầm phân biệt hình thức biểu hiện khác nhau tương đối lả sống chết, kỳ thực chỉ là hình thể hợp tan mà bản thể vẫn đồng nhất. Thấy được cái đồng nhất trong các hình thái khác nhau, đấy là giác ngộ, là minh vậy. Bởi thế mà Trần Thái Tông mới “bỏ ngôi báu như trút đôi giầy rách”.
(Ngô Thời Sĩ — Việt sử tiêu án).
Với cái tâm giác ngộ ấy, Trần Thái Tông đã vượt lên
trên thế giới tương đối lưỡng nguyên cho nên không những đã dạt tới đồng nguyên của Tam giáo mà còn đạt tới quan điểm “Bất nhị pháp môn” A của tất cả giáo lý. Bởi vì tất cả giáo lý chung quy cũng chỉ là tìm giải quyết vấn đề mâu thuẫn của sinh tồn, của sự sống chừng nào sự sống chỉ giới hạn vào hình thức, lệ thuộc vào điều kiện không gian, thời gian, nhân quả, không đạt tới Nguồn sống đại đồng. Nguồn sống đại đồng ví như đại dương vô hạn mà các biểu hiện của nó ở không gian thời gian ví như các dòng sông khác nhau, mỗi nơi một vị. Một khi nước các dòng chảy vào biển thì tất cả chỉ còn một vị là vị mặn.
“Hòa chư vị thành vô thượng vị, giảo quần lưu tác bất nhị lưu. Chuyển hồi biện kế vọng tâm, tiếp nhập Như lai tạng thức. Tổng trì chúng pháp hiển thị nhất tâm”“
(Kim Cương tam muội tự)
Nghĩa: “Điều hòa các vị khác nhau thành một vị cao siêu trên hết, quấy trộn nhiều dòng làm dòng không hai. Chuyển cái tâm sai lầm tính đếm trở về, xúc tiếp vào cái nguồn thức Như lai. Tóm góp tất cả các giáo lý, tỏ rõ Một Tâm.”
Một Tâm ấy là Ý thức vũ trụ, siêu nhiên tuyệt đối, tuy biểu hiện ra thiên hình vạn trạng khác nhau của thế giới “hình danh sắc tướng” tương đối lưỡng ngnyên mà “độc tồn siêu nhiên vô ngại” (A) “một mình tồn tại, vượt lên không còn bên ngoài nữa.”
Đứng trong thế giới tương đối của chúng, dùng phương tiện hình danh sắc tướng để mô tả cái Nhất Tâm ấy thì không thể bảo Có hay Không, khẳng định (affirmation) hay
phủ định (négation) cho nên gọi là Bất Nhị Pháp, Không Hai, vì chỉ có một Trăng phản chiếu xuống muôn ngàn dòng nước thành muôn ngàn bóng. Trăng chỉ có Một, Tâm là Phật, không có Hai tướng: Phật và chúng sinh độc lập và đối lập lưỡng nguyên:
“Tâm tức thị Phật, bất giả tu thiêm, niệm tức thị trần bất dung nhất điểm. Trần niệm bản tính, cố viết như như bất động, tức thị Phật thân. Phật thân tức ngã thân thị. Vô hữu nhị tướng, tướng tương vô nhị, tịch nhiên thường tồn, tồn nhi bất tri, thi vi hoạt Phật”.
(Niệm Phật luận)
“Tâm Ý thức vũ trụ tức là Phật, không mượn thêm sửa. Ý niệm là trần tục đây không dung cho có một điểm trong Tâm Phật. Ý niệm trần tục vốn sạch hết, cho nên bảo là như thế hoài không biến động. Ấy tức là Phật hiện thân, Phật hiện thân tức là Ngã hiện thân. Không có hai hình tướng, đều Phật cả. Các hình tướng không phải hai vật khác nhau hẳn. Yên lặng mà tồn tại mãi mãi, tồn lại mà không biết thế là Phật sống”.
Trần Thái Tông như thế đã điều hòa hợp sang không những Ba giáo lý điển hình Á đông vào quan điểm Bất Nhị Pháp, vào Nhất Tâm nội tại siêu nhiên mà Ngài đã đi đến quan điểm tôn giáo đại đồng “tổng trì chủng pháp, hiểu thị nhất tâm”, “hợp giữ tất cả giáo lý, tỏ rõ chỉ có Một Tâm”. Cái Một Tâm đại đồng ấy vốn bị che lấp ở nơi cá nhân ta, tự ta mê lầm mà chấp vào “biển kế vọng tâm” (A) tưởng có nhiều tâm khác nhau, Tâm Phật và tâm chúng sinh, tinh thần và thực chất hai thực tại. Nhưng cũng nhờ
có sự đồng nhất thrrt bản lai giữa chúng sinh và Phật, một đàng đương thành, một đàng đã thành, một đàng tiềm ẩn, một đàng hiện hiện, một khi thành tựu thì Phật tính nhất như. Có kẻ nghi hoặc hỏi:
“Vi thậm ma ẩn hiện nhất như?”
(Ngữ lục vấn đáp)
Nghĩa: “Làm thế nào mà người theo mật giáo với người theo hiển giáo như nhau được?”
Nhà Vua đáp:
“Trừ thị ngã gia chân đích tử, thùy nhân cảm hướng lý đầu hành?”
(Ngữ lục vấn đáp)
Nghĩa: “Trừ phi chính thật là con nhà Ta (Phật) người ngoài ai dám hướng vào trong ấy mà đi?”.
Như thế thì người đạt đạo, thành Phật hoặc theo hiển giáo hoặc theo mật giáo, sở dĩ nhất như, như nhau là vì đều thuộc về cái Tính “Vạn vật nhất thể” gọi là Phật tính. Một khi cùng giác ngộ “Một Tâm”, như người đang mê ngủ bừng tỉnh dậy, biến cảnh giới lưỡng nguyên tương đối ra cảnh giới đại đồng siêu nhiêu, từ cáiý thức mê vọngđi sang ýthứcvũ trụ, không phải tìm đâuở bên ngoài màchínhlàphảnhồi nơi tâm mình để chuyểnmê khai ngộ, “chuyển hơibiến kế vọng tâm tiếp thập Như Lai tạng thức”.
Sự chuyển hồi ấy ở Trần Thái Tông không phải ngồi tĩnh toạ một chỗ, mà chính là hành động phụng sự đến trình độ
quên mình cho nhân dân, “dĩ thiên hạ dục vi dục, dĩ thiên hạ tâm vi tâm” như nói trong “Thiền tông chỉ nam tự”. Nghĩa là “hành động lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn động cơ của mình”. Đó là hành động vô cầu mà khai phóng ý thức cá nhân đến ý thức đại đồng qua ý thức xã hội, dân tộc vậy.
Một khi ý niệm vị kỷ hết sạch trong khi hành động, ấy là hành động với cái tâm không trụ vào đâu.
“Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” (A) Đến đấy là Trần Thái Tông đã bừng tỉnh tự ngộ, đồng thời thấu hiểu cái chữ “Tam giáo đồng nguyên” (A) “Vạn pháp nhất tâm” (A) chính là cái truyền thốngtư tưởng “đồng quy nhi thù đồ” (A) “L'Unité dans la Diversité” của khí hậu Đông nam Á châu này vậy.
NGUYỄN ĐĂNG THỤC
|
CADAO MỚI PHÁT HÀNH:
nhân sinh quan và thơ văn trung hoa
của LÂM NGỮ ĐƯỜNG - NGUYỄN HIẾN LÊ dịch
|