Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 1 - Bộ A- Hàm I - Kinh Trường A- Hàm Số 1

Đại Tập 1 - Bộ A- Hàm I - Kinh Trường A- Hàm Số 1

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 1030.

Chương 19: 17. Kinh Thanh Tịnh (Trang 343 - 360)

17. KINH THANH TỊNH1
Tôi nghe như vầy:
Một thời, Phật ở tại nước Ca-duy-la-vệ2, trong khu rừng của Ưu-bà-tắc Miến-kỳ3, cùng với chúng Đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người.
Bấy giờ, có Sa-di Châu-na4, ở tại nước Ba-ba, sau an cư mùa hạ, cầm y bát, đi lần đến nước Ca-duy-la-vệ, trong vườn Miến-kỳ; đến chỗ A-nan, cúi đầu lễ dưới chân, rồi đứng sang một bên, bạch A-nan rằng:
“Có Ni-kiền Tử5 trong thành Ba-ba6, chết chưa bao lâu, mà các đệ tử của ông đã chia làm hai phe. Họ tranh chấp nhau, trực diện mắng chửi nhau,  không còn phân biệt trên dưới; tìm tịi khuyết điểm của nhau, ganh đua kiến thức với nhau rằng: ‘Ta có thể biết điều này;
_____________________________
1. Bản Hán, Phật Thuyết Trường A-hàm kinh, Q.12, “Đệ nhị phần Thanh Tịnh kinh Đệ thập tam”. Tương đương Pāli: D. 29, Dig iii. 6. Pāsādika-suttanta.
2.Ca-duy-la-vệ迦維羅衛, cũng âm là Ca-tỳ-la-vệ迦毗羅衛; Pāli: Kapilavatthu (Skt.: Kapilavastu), tên thành, cũng là tên nước. Quê hương của Đức Thích Tôn.
3. Hán: Miến-kỳ Ưu-Bà-tắc lâm trung綿祇優婆塞林中. Phiên âm Miến-kỳ không tìm thấy Pāli tương đương chính xác. So sánh, D. 29, sđd.: sakkesu viharati vadhaññā nāma sakyā tesam ambavane pāsāde: trú giữa những người Thích-ca, trong ngôi nhà lầu  trong khu vườn xoài của một người họ Thích có tên là Vadhaññā.
4. Châu-na周那, cũng âm là Thuần-đà純陀, nhưng không phải người thợ sắt trong kinh “Đại Bát-niết-Bàn”; Pāli: Cunda.
5. Ni-kiền Tử尼乾子, hay Ni-kiền Thân Tử尼乾親子(Pāli: Nigaṇṭha-Nāṭa-putta, Skt.: Nirgrantha-Jñātiputra), giáo chủ một giáo phái nổi tiếng đồng thời với Phật, được Tôn xưng là Mahāvira (Đại Hùng). Phái này sau trở thành Kỳ-na giáo.
6. Ba-ba quốc波波國(Pāli: Pāva), tên một thị trấn gần Vương xá (Pāli: Rājagaha), thủ phủ của bộ tộc Malla.

 
 ngươi  không thể biết điều này. Hành động của ta chân chính, còn ngươi là tà kiến. Ngươi đặt cái trước ra sau; để cái sau ra trước; điên đảo, thác loạn,  không có phép tắc. Những điều ta làm thật là vi diệu. Những điều ngươi nói thì sai lầm. Ngươi có điều gì nghi ngờ, cứ hỏi ta.’ Bạch Đại đức A-nan, bấy giờ, những người thờ Ni-kiền Tử trong nước này nghe những tranh tụng như vậy sinh lòng chán ghét.”
 A-nan nói với Sa-di Châu-na:
“Ta có điều muốn bạch Thế Tôn. Ngươi hãy đi với ta, trình bày Thế Tôn về sự việc này. Nếu Thế Tôn có răn dạy điều gì, chúng ta hãy cùng phụng hành.”
Rồi thì, Sa-di Châu-na sau khi nghe A-nan nói bèn cùng đi theo đến chỗ Thế Tôn. Sau khi cúi lạy dưới chân Thế Tôn, bèn đứng sang một bên. Lúc bấy giờ, A-nan bạch Thế Tôn rằng:
“Sa-di Châu-na này, sau an cư mùa hạ ở nước Ba-ba, cầm y bát, đi lần đến đây. Sau khi đảnh lễ dưới chân con, nói với con rằng: ‘Có Ni-kiền Tử trong thành Ba-ba, chết chưa bao lâu, mà các đệ tử của ông đã chia làm hai phe. Họ tranh chấp nhau, trực diện mắng chửi nhau,  không còn phân biệt trên dưới; tìm tòi khuyết điểm của nhau, ganh đua kiến thức với nhau rằng: ‘Ta có thể biết điều này; ngươi  không thể biết điều này. Hành động của ta chân chính, còn ngươi là tà kiến. Ngươi đặt cái trước ra sau; để cái sau ra trước; điên đảo, thác loạn,  không có phép tắc. Những điều ta làm thật là vi diệu. Những điều ngươi nói thì sai lầm. Ngươi có điều gì nghi ngờ, cứ hỏi ta.’ Bấy giờ, những người thờ Ni-kiền Tử trong nước này nghe những tranh tụng như vậy sinh lòng chán ghét.’.”
Thế Tôn nói với Châu-na:
“Quả vậy, Châu-na, trong phi pháp ấy  không có gì đáng để nghe. Đó  không phải là những điều được nói bởi Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác7. Cũng như ngôi tháp đổ nát, khó có thể bôi màu8. Kia tuy có thầy, nhưng thảy đều ôm giữ tà kiến. Tuy có pháp, nhưng thảy đều  không
________________________________
7. Hán: Tam-da-tam-phật-đà三耶三佛陀, cũng âm là Tam-miệu-tam-phật-đà三藐三佛陀, dịch là Đẳng Chánh Giác等正覺, Chánh Đẳng Chánh Giác正等正覺, Chánh Biến Tri正編知; Pāli: Sammà-sambuddha, Skt.: Samyaksambuddha.
8. Hán: do như hủ tháp nan khả ô sắc猶如朽塔難可污色. So sánh Pāli: bhinnathūpe appaṭisaraṇe, như ngôi tháp đổ không thể nương tựa.

 
chân chánh9,  không đáng để nghe theo,  không có khả năng xuất ly10,  không phải là những điều được nói bởi Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Cũng như ngôi tháp đổ nát  không thể bôi màu vậy.
       “Trong số các đệ tử của vị ấy có người  không thuận theo pháp ấy, dứt bỏ tà kiến ấy, đi theo chánh kiến. Châu-na, nếu có người đến nói với các đệ tử ấy rằng: ‘Này chư Hiền, pháp của thầy ông là chân chánh, nên tu hành trong pháp ấy, sao lại bỏ đi?’ Nếu người đệ tử này mà tin lời ấy, thì cả hai đều thất đạo, mắc tội vô lượng. Vì sao vậy? Kia tuy có pháp, nhưng  không chân chánh.
        “Châu-na, nếu thầy  không tà kiến và pháp ấy chân chánh, có thể khéo léo nghe theo, có khả năng xuất yếu, là pháp được nói bởi Đấng Chánh Biến Tri11. Cũng như ngôi tháp mới có thể dễ dàng bôi màu. Nhưng nếu các đệ tử,  ở trong pháp ấy, không tinh cần tu tập,  không thể thành tựu, bỏ con đường bình đẳng, đi vào tà kiến. Nếu có người đến nói với các đệ tử ấy rằng: ‘Này chư Hiền, pháp của thầy các người là chân chánh, nên ở trong đó mà tu hành, sao lại bỏ đi mà đi vào tà kiến?’ Các đệ tử ấy nếu tin lời ấy, thì cả hai đều thấy chân chánh, được phước vô lượng. Vì sao vậy? Vì pháp ấy chân chánh.”
         Phật bảo Châu-na:
        “Kia tuy có thầy, nhưng ôm giữ tà kiến. Tuy cũng có pháp, nhưng thảy đều  không chân chánh,  không có khả năng xuất yếu,  không phải là pháp được thuyết bởi Đấng Chánh Biến Tri. Cũng như ngơi tháp đổ nát  không thể bơi màu. Các đệ tử kia thành tựu pháp và tùy pháp12, tùy thuận theo mà tu hành, nhưng lại khởi tà kiến. Châu-na, nếu có người đến nói đệ tử ấy rằng: ‘Pháp của thầy ngươi là chân chánh. Điều ngươi làm là đúng. Nay ngươi tu hành cần khổ như vậy, có thể ở trong đời này ngươi sẽ thành tựu đạo quả.’ Các đệ tử kia tin lời ấy, thì cả hai đều thất đạo, mắc tội vô lượng. Vì sao vậy? Vì pháp  không chân chánh vậy.
____________________________
9. Pāli: satthā ca hoti asammāsambuddho dhammo ca durakkhàto, thầy không phải là vị Đẳng chánh giác, pháp thì được công bố vụng về.
10. Hán: bất năng xuất yếu不能出要, không có khả năng dẫn đến giải thoát; Pāli: aniyyānike.
11. Xem cht.7.
12. Hán: pháp pháp thành tựu法法成就. So sánh Pāli: dhammànudhammappaṭi-panno viharati, sống thực hành pháp và tùy pháp.

 
       “Này Châu-na, nếu bậc thầy  không tà kiến; Pháp của vị ấy chân chánh, có thể khéo léo nghe theo, có khả năng xuất ly, là pháp được thuyết bởi Đấng Chánh Biến Tri. Cũng như ngơi tháp mới thì dễ bơi màu. Nay đệ tử của vị ấy thành tựu pháp và tùy pháp, tùy thuận tu hành mà sanh chánh kiến. Nếu có người đến nói với các đệ tử ấy rằng: ‘Pháp của thầy ngươi là chân chánh. Sở hành của ngươi là đúng. Nay cần khổ tu hành như vậy, có thể ở trong đời này mà thành tựu đạo quả.’ Các đệ tử kia tin lời ấy, cả hai đều chánh kiến, được phước vô lượng. Vì sao vậy? Vì pháp ấy chân chánh.
        “Này Châu-na, hoặc có bậc Đạo sư xuất thế khiến cho các đệ tử buồn rầu. Hoặc có Đạo sư xuất thế khiến các đệ tử  không buồn rầu.
        “Thế nào là Đạo sư xuất thế khiến các đệ tử sinh buồn rầu?
        “Này Châu-na! Đạo sư mới xuất hiện thế gian, thành đạo chưa lâu, pháp của vị ấy đầy đủ phạm hạnh thanh tịnh, như thật chơn yếu nhưng  không được phân bố rộng khắp, rồi vị Đạo sư ấy lại chóng diệt độ. Các đệ tử vì thế  không được tu hành, thảy đều buồn rầu mà nói rằng: ‘Thầy vừa mới xuất thế, thành đạo chưa lâu, pháp của Thầy đầy đủ phạm hạnh thanh tịnh, như thật chôn yếu, nhưng rốt cùng lại  không được phân bố rộng khắp, mà nay Đạo sư lại nhanh chóng diệt độ, khiến cho đệ tử chúng ta  không được tu hành.’ Đấy là có vị Đạo sư xuất thế nhưng đệ tử lại ưu sầu.
         “Thế nào là Đạo sư xuất thế, đệ tử  không ưu sầu?
         “Có vị Đạo sư xuất thế, Pháp của vị ấy thanh tịnh, đầy đủ phạm hạnh, như thật chôn yếu, lại được lưu bố rộng rãi, rồi sau đó mới vào diệt độ. Các đệ tử vì thế mà được tu hành,  không ưu sầu, mà nói rằng: ‘Thầy mới xuất hiện thế gian, thành đạo chưa lâu, pháp của Thầy thanh tịnh, đầy đủ phạm hạnh, như thật chôn yếu lại được lưu bố rộng rãi, rồi sau đó mới vào diệt độ, khiến cho đệ tử chúng ta thảy đều được tu hành.’ Này Châu-na, như vậy, Đạo sư xuất thế, đệ tử  không ưu sầu.”
         Phật lại bảo Châu-na:
        “Với chi13 này mà phạm hạnh thành tựu. Đó là, Đạo sư xuất thế,
____________________________
13. Hán: chi trì支持; Pāli: aṅga: thành phần, bộ phận, điều kiện, trạng thái. D. 29: etehi aṅgehi samannāgatam brahmacariyam hoti: phạm hạnh thành tựu bởi những chi này.

 
 xuất gia chưa bao lâu, danh tiếng chưa rộng, đó gọi là phạm hạnh chi chưa đầy đủ14. Này Châu-na! Đạo sư xuất thế, xuất gia đã lâu, danh tiếng đã rộng rãi, đó gọi là chi phạm hạnh đầy đủ.
      “Này Châu-na, Đạo sư xuất thế, xuất gia đã lâu, danh tiếng đã rộng, nhưng các đệ tử chưa nhận được sự dạy dỗ, chưa đầy đủ phạm hạnh, chưa đến nơi an ổn15, chưa đạt được mục đích của mình, chưa thể phân bố diễn thuyết pháp đã được thọ lãnh; nếu có dị luận nổi lên thì  không thể như pháp mà diệt, chưa chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa16. Đó gọi là chi phạm hạnh chưa đầy đủ.
       “Này Châu-na! Đạo sư xuất thế, xuất gia đã lâu, danh tiếng đã rộng, mà các đệ tử thảy đều chịu giáo huấn, phạm hạnh đầy đủ, đã đến nơi an ổn, đã đạt được mục đích của mình, lại có thể phân biệt diễn thuyết pháp được lãnh thọ; nếu có dị luận khởi thì có thể như pháp mà diệt, đã chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa đầy đủ. Đó là chi phạm hạnh đầy đủ.
        “Này Châu-na! Đạo sư xuất thế, xuất gia chưa lâu, danh tiếng chưa rộng, các Tỳ-kheo-ni chưa nhận được sự dạy dỗ, chưa đến chỗ an ổn, chưa đạt được mục đích của mình, chưa thể phân bố diễn thuyết pháp đã được lãnh thọ; nếu có dị luận khởi lên chưa thể như thật diệt trừ bằng chánh pháp, chưa chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa. Đó là chi phạm hạnh chưa đầy đủ.
          “Này Châu-na! Đạo sư xuất thế, xuất gia đã lâu, danh tiếng đã rộng, các Tỳ-kheo-ni thảy đều nhận được giáo huấn, phạm hạnh đầy đủ, đã đến nơi an ổn, có thể phân biệt diễn thuyết pháp đã lãnh thọ;
______________________________
14. Pāli: tam brahmacariyam aparipūram hoti ten’aṅgena: phạm hạnh ấy không đầy đủ (trọn vẹn) do bởi điều kiện (chi) này.
15. Hán: an xứ tại安處在; Pāli: yogakkhema: du già an ổn, chỗ an ổn; chỉ cho Niết-Bàn.
16. Hán: vị năng biến hóa thành thần thông chứng未能變化成神通證; Pāli: sappaṭihāriyam dhammam desetum: có khả năng thuyết pháp thần biến (pháp có tính cách thần kỳ). Hán: biến hóa, cũng dịch là thị đạo (Xem Câu Xá q.27, Đại XXIX tr.143c11); có ba thị đạo: thần biến神變hay thần thông biến hóa, ký tâm記心hay biết được ý nghĩ của người khác và giáo giới thị đạo教誡示導, sựï thần kỳ của giáo dục; Pāli: sappāṭihāriyam dhammam: pháp có khả năng thị đạo, hay có khả năng thần kỳ của sự giáo dục.

 
nếu có dị luận khởi lên thì như pháp mà trừ diệt, đã chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa. Đó là chi phạm hạnh đầy đủ.
      “Này Châu-na! Các Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di rộng tu phạm hạnh… cho đến đã chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa, cũng vậy.
      “Này Châu-na, nếu Đạo sư  không còn ở đời,  không có danh tiếng, sự lợi dưỡng tổn giảm. Đó là chi phạm hạnh  không đầy đủ. Nếu Đạo sư tại thế, danh tiếng và lợi dưỡng đều có đủ,  không có tổn giảm; đó là chi phạm hạnh đầy đủ.
       “Nếu Đạo sư còn ở đời, danh tiếng và lợi dưỡng thảy đều đầy đủ, nhưng các Tỳ-kheo  không thể đầy đủ danh tiếng và lợi dưỡng. Đó là chi phạm hạnh  không đầy đủ.
        “Nếu Đạo sư tại thế, danh tiếng và lợi dưỡng đầy đủ  không tổn giảm, chúng các Tỳ-kheo cũng đầy đủ như vậy. Đó là chi phạm hạnh đầy đủ. Chúng Tỳ-kheo-ni cũng vậy.
        “Châu-na, Ta xuất gia đã lâu, danh tiếng rộng xa, các Tỳ-kheo của Ta đã nhận lãnh giáo huấn, đã đến chỗ an ổn, đã tự mình đạt được mục đích, lại có thể nói cho người khác pháp đã lãnh thọ; nếu có dị luận khởi lên có thể như pháp mà diệt, đã chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa. Các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, cũng vậy.
          “Châu-na, Ta đã lưu bố rộng rãi phạm hạnh … cho đến, đã chứng đắc thần thông có khả năng biến hóa.
           “Này Châu-na! Hết thảy Đạo sư trong thế gian,  không thấy có ai có danh tiếng và lợi dưỡng như Ta, Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác.
            Này Châu-na, hết thảy đồ chúng có trong thế gian,  không thấy ai có danh tiếng và lợi dưỡng như chúng của Như Lai.
           “Châu-na, nếu muốn nói cho chân chánh, thì nên nói ‘thấy mà  không thấy’17. Thế nào là thấy mà  không thấy? Hết thảy phạm hạnh thanh tịnh cụ túc, đã được tuyên thuyết, được lưu bố hiển thị18. Đó gọi là thấy mà  không thấy.”
______________________________
17. Hán: kiến bất khả kiến見不可見; Pāli: passan na passati.
18. Pāli: sabbākārasampannam sabbākāraparipũram anūnam anadhikam svākha- tam kevalam paripūram brahmacariyam suppakāsan: phạm hạnh được mô tả là thành tựu hết thảy tướng (hình thái), tròn đầy hết thảy tướng, không thiếu sĩ, không dư thừa, được khéo tuyên thuyết, thuần túy viên mãn.

 
Rồi thì, Đức Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
“Uất-đầu-lam Tử19, ở giữa đại chúng, nói như vậy: ‘Thấy mà  không thấy. Thế nào là thấy mà  không thấy? Như có thể thấy con dao nhưng  không thể thấy sự bén nhọn’20. Này các Tỳ-kheo, vị ấy chỉ dẫn lời nói  không nhận thức của phàm phu mà ví dụ. Như vậy, này Châu-na, nếu muốn nói một cách chân chánh, nên nói: ‘Thấy mà  không thấy.’ Thế nào là thấy mà  không thấy? Ngươi cần phải nói một cách chân chánh rằng: ‘Hết thảy phạm hạnh thanh tịnh đầy đủ, được tuyên thị, lưu bố.21 Đó là thấy mà  không thấy.’
“Này Châu-na, pháp tương tục kia  không đầy đủ nhưng có thể đạt được. Pháp  không tương tục kia tuy đầy đủ nhưng  không thể đạt được22. Này Châu-na, phạm hạnh trong các pháp, là đề hồ23
______________________________
19. Uất-đầu-lam Tử鬱頭藍子, hay Uất-đầu-lam-phất鬱頭藍弗(Pāli: Uddaka-Rāmaputta, Skt.: Udraka-Rāmaputra), vị đạo sỹ mà Đức Thích Tôn học được định Phi tưởng phi phi tưởng xứ (Pāli. nevasaññā-nāsañña-āyatana)
20. Hán: đao khả kiến nhi nhẫn bất khả kiến刀可見而刃不可見; Pāli: khurassa sādhu-nisitassa talam assa passati, dhāran ca kho tassa na passati: thấy bề mặt được mài kỹ của con dao mà không thấy sự sắc bén của nó.
21. Xem cht.18.
22. Hán dịch tối nghĩa: bỉ tương tục pháp bất cụ túc nhi khả đắc, bất tương tục pháp cụ túc nhi bất khả đắc彼相續法不具足而可得不相續法具足而不可得. Tham chiếu Pāli: idam ettha apakaḍḍheyya evam tam parisuddhataram assāti iti hetam na passati, idam ettha upakaḍḍheyya evam tam parisuddhataram assāti iti hetam na passati: nếu vị ấy nghĩ rằng ở đây nên bớt đi cái này thì nó sẽ thanh tịnh hơn, thế thì vị ấy không thấy cái ấy; nếu vị ấy nghĩ rằng ở đây nên thêm cái này thì nó sẽ thanh tịnh hơn, thế thì vị ấy không thấy cái ấy. (Trường 2, tr.456: Nếu vị ấy trừ bớt một phương diện nào tại một chỗ nào, nghĩ rằng làm vậy sẽ được rõ rāng hơn, vị ấy sẽ không thấy gì. Nếu vị ấy thêm vào một phương diện nào tại một chỗ nào, nghĩ rằng như vậy sẽ được rõ rāng hơn, vị ấy sẽ không thấy gì). Có lẽ ý muốn nói, vì không thấy rõ mục đích của đời sống phạm hạnh cho nên nghĩ rằng nên thêm hay bớt điều gì đó để cho phạm hạnh ấy thanh tịnh hơn, kỳ thực không thấy gì cả. Hán: tương tục相續, có lẽ Skt.: prākarwi: sự kéo dāi ra (Xem, Huyền Tráng, Câu Xá q.2, Đại XXIX tr.119c12; Chân Đế, ibid. 205c14, 271c21: đa thời多時, trường thời長時), gần với Pāli: apakaḍḍhati (Skt.: apakarwati): lược bỏ bớt; upakaḍḍhati: lôi hay kéo lên, thêm vào.
23. Đề hồ醍醐; Pāli: sappi-maṇḍa (Skt.: sarpimaṇḍa) hạng nhất trong năm chế phẩm từ sữa (Pāli: khīra, dadhi, takka, navanīta, sappi).

 
trong các thứ tô lạc24.”
       Rồi Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:
      “Ta đối với pháp này tự thân tác chứng25. Đó là bốn niệm xứ, bốn thần túc, bốn ý đoạn, bốn thiền, năm căn, năm lực, bảy giác ý, tám đạo Hiền thánh. Các ngươi tất cả hãy cùng Hòa hợp chớ sanh tranh chấp. Cùng theo học một Thầy, cũng như nước và sữa hòa một; ở trong Chánh pháp của Như Lai, hãy tự thắp sáng cho mình, nhanh chóng được an lạc. Sau khi đã được an lạc, nếu có Tỳ-kheo nào, trong lúc có Tỳ-kheo đang thuyết pháp, mà nói rằng: ‘Điều được nói của vị kia, văn cú  không chánh; nghĩa lý  không chánh.’ Tỳ-kheo nghe như thế  không nên nói đấy là đúng, cũng  không nên nói đấy là sai, mà hãy nói với Tỳ-kheo ấy rằng: ‘Thế nào, chư Hiền? Câu của tôi như vậy. Câu của các ngài như vậy. Nghĩa của tôi như vậy. Nghĩa của các ngài như vậy. Cái nào hơn? Cái nào thua?’ Nếu Tỳ-kheo kia nói rằng: ‘Câu của tôi như vậy. Câu của ngài như vậy. Nghĩa của tôi như vậy. Nghĩa của ngài như vậy. Câu của ngài hơn. Nghĩa của ngài cũng hơn.’ Tỳ-kheo kia nói vậy, nhưng cũng chớ cho là đúng, cũng chớ cho là sai, mà nên can gián Tỳ-kheo ấy, nên khuyến cáo hãy từ bỏ, hãy cùng suy cầu. Như vậy, cùng nhau hòa hợp, chớ sanh tranh chấp. Cùng một Thầy học, như sữa và nước hợp nhất; ở trong Chánh pháp của Như Lai, hãy tự mình thắp sáng, chóng được an lạc.
      “Sau khi đã an lạc, nếu có Tỳ-kheo nào trong khi có Tỳ-kheo đang thuyết pháp mà nói như vậy: ‘Điều mà vị ấy nói, văn cú  không chánh, nhưng nghĩa thì chánh.’ Tỳ-kheo nghe như vậy,  không nên nói đấy là đúng, cũng  không nên nói đấy là sai, mà nên nói với Tỳ-kheo ấy rằng: ‘Thế nào, Tỳ-kheo? Câu của tôi như vậy. Câu của ngài như vậy. Câu nào đúng? Câu nào sai?’ Nếu Tỳ-kheo ấy nói: ‘Câu của tôi như vậy. Câu của ngài như vậy. Câu của ngài hơn.’ Tỳ-kheo kia nói như vậy, nhưng cũng  không nên nói đấy là đúng, cũng  không nên nói thế là sai, mà nên can gián Tỳ-kheo ấy, nên khuyến cáo hãy dứt bỏ, hãy cùng suy cầu. Như vậy tất cả cùng hòa hợp, chớ sanh tranh chấp, đồng
______________________________
24. Tô và lạc. Lạc酪; Pāli: dadhi: sữa đông, sữa để chua. Tô酥, gồm có sanh tô (Pāli. navanīta: sữa tươi), thục tô (Pāli: sappi) tức đề hồ.
25. Hán: cung tự tác chứng躬自作證.

 
một Thầy học, như nước sữa hợp nhất, ở trong Chánh pháp của Như Lai, hãy tự mình thắp sáng, nhanh chóng được an lạc.
         “Sau khi đã an lạc, nếu có Tỳ-kheo nào trong khi có Tỳ-kheo đang thuyết pháp mà nói như vậy: ‘Điều mà vị kia nói, văn cú chánh, nhưng nghĩa  không chánh.’ Tỳ-kheo nghe như vậy,  không nên nói đấy là đúng, cũng  không nên nói đấy là sai, mà nên nói với Tỳ-kheo ấy rằng: ‘Thế nào, Tỳ-kheo? Câu của tôi như vậy. Câu của ngài như vậy. Câu nào đúng? Câu nào sai?’ Nếu Tỳ-kheo ấy nói: ‘Câu của tôi như vậy. Câu của ngài như vậy. Câu của ngài hơn.’  Tỳ-kheo kia nói như vậy, nhưng cũng  không nên nói đấy là đúng, cũng  không nên nói thế là sai, mà nên can gián Tỳ-kheo ấy, nên khuyến cáo hãy dứt bỏ, hãy cùng suy cầu. Như vậy tất cả cùng hòa hợp, chớ sanh tranh chấp, đồng một Thầy học, cùng hòa hợp như nước với sữa, ở trong Chánh pháp của Như Lai, hãy tự mình thắp sáng, chóng được an lạc.
          “Sau khi được an lạc, nếu có Tỳ-kheo trong khi có Tỳ-kheo đang thuyết pháp mà nói như vậy ‘Điều được thuyết kia, văn cú chánh, nghĩa chánh.’ Tỳ-kheo nghe như vậy,  không nên nói là sai, mà hãy nên khen ngợi Tỳ-kheo ấy rằng: ‘Điều ngài nói là đúng. Điều ngài nói là đúng.’ Vì vậy, này Tỳ-kheo, trong mười hai bộ kinh26 hãy tự mình
________________________________________
26. Mười hai bộ kinh, mười hai bộ phận của Thánh điển: 1. Quán kinh貫經(Pāli: sutta, Skt.: sutra: sợi chỉ, sợi dây), âm tu-đa-la修多羅, dịch khế kinh契經; 2. Kỳ dạ祇夜(Pāli. geyya, Skt.: geya), dịch trùng tụng重頌, ứng tụng應頌, phần văn vần lặp lại đoạn văn xuôi; 3. Thọ ký授記(Pāli. veyyekāraṇa, Skt.: vyakāraṇa: giải thích, diễn giải), giải thích sự tái sinh, sự việc sẽ xảy ra trong đời sau của các đệ tử; hoặc dự báo sự sẽ thành Phật của đệ tử; 4. Kệ (Pāli., Skt.: gāthà), kệ tụng, thể thô để ngâm vịnh; 5. Pháp  cú法句(udāna),  dịch âm ôn-đà-nam溫陀喃; cảm hứng kệ感興偈, tự thuyết自說, vô vấn tự thuyết無問自說; 6. Tương ưng相應(Pāli. itivuttaka, Skt.: ityuktaka, itivfttaka), y-đế-mục-đa-già伊帝目多伽, như thị ngữ如是語, bản sự本事; chuyện cổ hay chuyện đời trước của đệ tử; 7. Bản duyên本緣(Pāli, Skt.: jataka), bản sanh本生, chuyện tiền thân của Phật; 8. Thiên bổn天本(Pāli, Skt.: nidāna), nhân duyên因緣, nguyên do giáo hóa thuyết pháp của Phật; 9. Quảng kinh廣經(Pāli. vedalla), phương quảng方廣, quảng giải廣解; nói về Bồ-tát đạo; 10. Vị tằng hữu未曾有(Pāli. abbhutadhamma, Skt.: adbhutadharma), pháp hy hữu chưa từng có, nói về những sự kỳ diệu của Phật; 11. Thí dụ譬喻(Pāli. apadāna, Skt.: avadāna), chuyện ngụ ngôn; 12. Đại giáo luyện大教練(Pāli. upadesa), luận nghị論議, luận nghĩa論義; giải thích lời Phật bằng vấn đáp.
chứng nghiệm, rồi lưu bố rộng rãi. Một là Quán kinh. Hai là Kỳ dạ kinh. Ba là Thọ ký kinh. Bốn là Kệ kinh. Năm là Pháp cú kinh. Sáu là Tương ưng kinh. Bảy là Bổn duyên kinh. Tám là Thiên bổn kinh. Chín là Quảng kinh. Mười là Vị tằng hữu kinh. Mười một là Thí dụ kinh. Mười hai là Đại giáo kinh. Các ngươi hãy khéo thọ trì, hãy tùy năng lực mà suy xét, phân bố rộng rãi.
        “Này các Tỳ-kheo, y mà Ta quy định, hoặc y lấy từ bãi tha ma, hoặc y của trưởng giả, hoặc y xấu hèn; các thứ y ấy đủ để che nóng che lạnh, muỗi mòng; đủ để trùm kín bốn chi thể.
       “Này các Tỳ-kheo, ẩm thực mà Ta quy định, hoặc thực phẩm do khất thực, hoặc từ cư sĩ; các loại thực phẩm ấy đủ no. Nếu thân thể khổ não, các bệnh hoạn bức thiết mình, sợ rằng có thể vì thế mà chết, cho nên Ta cho phép các loại thực phẩm ấy, để tri túc mà thôi.
       “Này các Tỳ-kheo, trú xứ mà Ta quy định, hoặc dưới gốc cây, hoặc chỗ trống, hoặc trong phòng, hoặc trên lầu gác, hoặc trong hang, hoặc tại các trú xứ khác; các trú xứ ấy đủ để ngăn che nóng lạnh, che nắng, che mưa, muỗi mòng, cho đến chỗ vắng vẻ để nghỉ ngơi.
       “Này các Tỳ-kheo, thuốc men mà Ta quy định27, hoặc đại tiểu tiện, hoặc dầu, hoặc mật; các thứ thuốc ấy tự đủ, nếu thân thể phát sanh đau nhức, các thứ bệnh hoạn bức thiết mình, sợ rằng có thể chết, cho nên Ta quy định các thứ thuốc ấy.”
        Phật lại nói:
        “Hoặc có Phạm chí ngoại đạo28 đến nói: ‘Sa-môn Thích tử hưởng thụ các thứ hoan lạc.’ Nếu có người nói như vậy, nên trả lời rằng: ‘Ngươi chớ nói như vậy, rằng Sa-môn Thích tử ham hưởng thụ các thứ hoan lạc.’ Vì sao? Có thứ lạc nếu hưởng thụ thì bị Như Lai chê trách. Có thứ lạc nếu hưởng thụ thì được Như Lai khen ngợi. Nếu Phạm chí ngoại đạo hỏi: ‘Thứ lạc nào mà nếu hưởng thụ thì bị Cù-đàm chê trách?’ Nếu có hỏi như vậy, nên trả lời rằng: ‘Năm phẩm tính của dục29, đáng ưa đáng thích, mọi người đều đam mê. Thế nào là năm? Mắt nhận thức sắc, đáng ưa đáng thích, mọi người đều đam mê. Tai
________________________________
27. Các bản Tống-Nguyên-Minh: trần khí dược陳棄藥.
28. Ngoại đạo Phạm chí; Pāli: añña-titthiya paribbājaka, du sĩ ngoại đạo.
29. Ngũ dục công đức; Pāli: pañca kāma-guṇa.

 
 nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân biết xúc cảm, đáng ưa đáng thích, mọi người đều đam mê. Này chư Hiền, do duyên là năm dục mà sanh hỷ lạc; đó là điều mà Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác chê trách. Cũng như có người cố tình sát hại chúng sanh, tự cho thế là hoan lạc; đó là điều mà Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác chê trách. Cũng như có người lén lút trộm cắp của người, cho thế là khoái lạc; đó là điều mà Như Lai chê trách. Cũng như có người xâm phạm tịnh hạnh của người khác, tự cho thế là khoái lạc; đó là điều mà Như Lai chê trách. Cũng như có người cố ý nói dối, tự cho thế là khoái lạc; đó là điều mà Như Lai chê trách. Cũng có người sống phóng đãng buông thả; đó là diều Như Lai chê trách. Cũng có người hành khổ hạnh bề ngồi,  không phải là hành chân chánh mà Như Lai dạy, tự cho thế là khoái lạc; đó là điều Như Lai chê trách.
       “Này các Tỳ-kheo, năm phẩm chất của dục vốn đáng chê trách, mà mọi người tham đắm. Những gì là năm? Mắt nhận biết sắc, đáng ưa đáng thích, là cái mà con người tham đắm. Tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân biết xúc, đáng ưa đáng thích, mọi người tham đắm. Sa-môn Thích tử  không tán đồng những thứ khoái lạc như vậy. Cũng như có người cố ý sát sanh, cho đó là khoái lạc. Sa-môn Thích tử  không tán đồng khoái lạc như vậy. Cũng như có người trộm cắp, cho thế là khoái lạc. Sa-môn Thích tử  không tán đồng những thứ khoái lạc như vậy. Cũng như có người phạm tịnh hạnh, cho thế là khoái lạc. Sa-môn Thích tử  không tán đồng khoái lạc như vậy. Cũng như có người phóng đãng buông trôi, cho thế là lạc. Sa-môn Thích tử  không tán đồng khoái lạc như vậy. Cũng như có người hành khổ hạnh bề ngồi, cho thế là khoái lạc. Sa-môn Thích tử  không tán đồng khoái lạc như vậy.
       “Nếu có Phạm chí ngoại đạo hỏi như vậy: ‘Thứ lạc hưởng thụ nào mà Sa-môn Thích tử khen ngợi?’ Này các Tỳ-kheo, nếu người kia có nói như vậy, các ngươi nên trả lời rằng: ‘Này chư Hiền, năm phẩm chất của dục, đáng ưa đáng thích, được người đời tham đắm. Những gì là năm? Mắt biết sắc… cho đến, thân biết xúc, đáng ưa đáng thích, được người đời tham đắm. Này chư Hiền, do nhân duyên là năm dục mà sanh lạc, nên nhanh chóng diệt trừ. Cũng như có người cố ý sát sanh, tự cho thế là khoái lạc. Thứ lạc như thế, nên nhanh chóng diệt trừ. Có người trộm cắp, tự cho thế là khoái lạc. Thứ lạc ấy nên nhanh
chóng diệt trừ. Cũng như có người phạm tịnh hạnh, tự cho thế là khoái lạc. Thứ lạc ấy nên chóng diệt trừ. Cũng như có người phóng đãng buông trôi, tự cho thế là khoái lạc. Thứ lạc ấy nên nhanh chóng diệt trừ. Cũng như có người hành khổ hạnh bề ngồi, cho thế là khoái lạc. Thứ lạc ấy nên chóng diệt trừ. Cũng như có người ly dục, lìa bỏ pháp ác bất thiện, có giác có quán, có hỷ lạc phát sanh do ly dục, nhập Sơ thiền. Lạc như thế là điều Phật khen ngợi. Cũng như có người diệt giác quán, nội tâm hoan hỷ30, nhất tâm,  không giác  không quán, có hỷ lạc do định sanh, nhập Nhị thiền. Lạc như thế được Phật khen ngợi. Cũng như có người trừ hỷ, nhập xả, tự biết thân lạc, là điều mà Hiền thánh mong cầu, có xả niệm31, nhất tâm, nhập đệ Tam thiền. Lạc như thế được Phật khen ngợi. Lạc hết, khổ hết, ưu và hỷ trước đã diệt,  không khổ  không lạc, hộ niệm thanh tịnh, nhập đệ Tứ thiền. Lạc như vậy được Phật khen ngợi.32
       “Nếu có Phạm chí ngoại đạo nói như vầy: ‘Trong lạc ấy, các ngươi tìm phẩm chất gì?’ Nên trả lời rằng: ‘Lạc ấy sẽ đưa đến phẩm chất của bảy quả33. Những gì là bảy? Ngay trong đời này, chứng đắc Thánh đạo34. Giả sử chưa chứng, sau khi chết, sẽ chứng đắc Thánh đạo. Nếu trong khi chết mà chưa chứng đắc, thì sẽ đoạn trừ năm hạ phần kết35, sẽ chứng đắc Trung bát Niết-bàn, Sanh bát Niết-bàn, Hành bát Niết-bàn, Vô hành bát Niết-bàn, Thượng lưu A-ca-nị-trá Niết-bàn36. Này chư Hiền, như vậy lạc ấy có bảy phẩm chất. Chư Hiền, nếu Tỳ-kheo đang ở bậc học địa mà muốn hướng thượng, tìm cầu chỗ an ổn, nhưng chưa trừ năm triền cái. Những gì là năm? Tham dục triền cái, sân nhuế triền cái, thụy miên triền cái, trạo hý triền cái, nghi triền cái.
_____________________________
30. Xem cht.123, kinh số 2 “Du Hành (iii)”.
31. Hán dịch: hộ niệm. Xem cht.124, kinh số 2 “Du Hành (iii)”.
32. Hán dịch liên quan bốn thiền có nhiều chỗ không chỉnh; xem các cht.122, 126, kinh số 2 “Du Hành (iii)”.
33. Bảy quả, đây chỉ bốn hướng (Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A-la-hán) và ba quả (như trước, trừ A-la-hán).
34. Chỉ trường hợp A-la-hán.
35. Ngũ hạ kết, hay thuận hạ phần kết順下分結; Pāli: orambhāgiya-saṃyojana, năm sự trói buộc dẫn tái sanh Dục giới.
36. Đây đề cập năm trường hợp chứng quả Bất hoàn.

 
Tỳ-kheo hữu học kia muốn cầu hướng thượng, tìm chỗ an ổn, nhưng chưa diệt trừ năm triền cái, đối với bốn niệm xứ  không hay tinh cần, đối với bảy giác ý  không hay tinh cần, lại muốn chứng được pháp thượng nhân, trí tuệ tăng thượng của Hiền thánh, mong cầu muốn biết, muốn thấy,  không có trường hợp ấy.
        “Chư Hiền, Tỳ-kheo hữu học muốn cầu hướng thượng, tìm cầu chỗ an ổn, mà có thể diệt trừ năm triền cái là tham dục triền cái, sân nhuế triền cái, thụy miên triền cái, trạo hý triền cái, nghi triền cái, đối với bốn niệm xứ lại hay tinh cần, đối với bảy giác ý như thật tu hành, vị ấy muốn được pháp thượng nhân, trí tuệ tăng thượng của Hiền thánh, muốn biết muốn thấy, có trường hợp như vậy.
        “Chư Hiền, có Tỳ-kheo là lậu tận A-la-hán, điều cần làm đã làm xong, đã đặït gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích của mình, đã dứt sạch các kết sử của hữu, với chánh trí đã giải thoát; vị ấy  không làm chín việc. Những gì là chín? Một là  không giết. Hai là  không lấy trộm. Ba là  không dâm. Bốn là  không nói dối. Năm,  không xả đạo37. Sáu,  không bị dục chi phối. Bảy, không bị sân chi phối. Tám, không bị sợ hãi chi phối. Chín, không bị nghi chi phối. Chư Hiền, ấy là vị lậu tận A-la-hán đã làm xong điều cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích của mình, đã dứt sạch kết sử của hữu, chánh trí giải thoát, xa lìa chín sự.
          “Hoặc có Phạm chí ngoại đạo nói như vầy: ‘Sa-môn Thích tử có pháp bất trụ38’. Nên trả lời vị ấy rằng: ‘Chư Hiền, chớ nói như vậy, rằng Sa-môn Thích tử có pháp bất trụ. Vì sao vậy? Pháp của Sa-môn Thích tử là thường trụ,  không bị dao động. Cũng như ngưỡng cửa39 thường trụ  không động. Pháp của Sa-môn Thích tử cũng vậy, thường trụ  không di động.’
          “Hoặc có Phạm chí ngoại đạo nói như vậy: ‘Sa-môn Cù-đàm biết suốt việc trong đời quá khứ, nhưng  không biết việc trong đời vị lai.’
_________________________________
37. D.29: không cất chứa tiền bạc để hưởng thụ dục lạc.
38. Hán: bất trụ pháp不住法; Pāli: aṭṭhitadhamma, pháp bất định, không đứng vững; Pāli: aṭṭhadhammà… viharanti, sống với pháp không ổn định, sống không có lập trường (Trường 2, tr.464).
39. Hán: môn khổn門閫; D. 29: cột đá hay cột sắt được chôn chặt.

 
Tỳ-kheo kia, cùng Phạm chí dị học kia, trí tuệ khác nhau, trí quán cũng khác40, nên lời nói hư dối. Như Lai đối với việc quá khứ kia,  không gì  không thấy biết, rõ như ở trước mắt. Đối với đời vị lai, Như Lai có trí tuệ phát sanh từ đạo41. Việc trong đời quá khứ vốn hư dối  không thật,  không đáng vui thích,  không lợi ích gì, Như Lai  không ghi nhận. Hoặêc việc quá khứ có thật, nhưng  không đáng ưa thích,  không ích lợi gì, Phật cũng  không ghi nhận. Nếu việc quá khứ có thật, đáng ưa, nhưng  không lợi ích, Phật cũng  không ghi nhận. Nếu việc quá khứ có thật, đáng ưa, có lợi ích, Như Lai biết suốt, sau đó mới ghi nhận. Vị lai, hiện tại, cũng vậy.
          “Như Lai đối với quá khứ, vị lai, hiện tại, nói đúng thời, nói sự thật, nói có nghĩa, có lợi42, nói đúng pháp, đúng luật,  không có lời hư dối. Phật từ đêm đầu tiên thành Vô thượng Chánh giác cho đến đêm cuối cùng, trong khoảng giữa, có nói điều gì, thảy đều như thật; do đó gọi là Như Lai.
           “Lại nữa, những điều Như Lai nói đúng như sự; sự đúng như lời; do đó gọi là Như Lai.
          “Do nghĩa gì mà gọi là Đẳng Chánh Giác? Những gì mà Phật thấy biết, diệt trừ, giác ngộ, Phật thảy đều giác ngộ, biết rõ, nên gọi là Đẳng Chánh Giác.
          “Hoặc có Phạm chí ngoại đạo nói như vậy: ‘Thế gian thường còn. Duy chỉ điều này là thật; ngồi ra đều là hư dối.’ Hoặc có người lại nói: ‘Thế gian này là vô thường. Duy chỉ điều này là thật; ngồi ra đều hư dối.’ Hoặc có người lại nói: ‘Thế gian vừa thường vừa vô thường. Duy chỉ điều này là thật; ngồi ra đều hư dối.’  Hoặc có người nói: ‘Thế gian  không phải thường,  không phải vô thường. Duy chỉ điều này là thật; ngồi ra là hư dối.’
           “Hoặc có người nói: ‘Thế gian hữu biên. Duy chỉ điều này là
_______________________________
40. Hán: trí dị, trí quán diệc dị智異智觀亦異; Pāli: aññavihitakena ñānadassan-ena aññavihitakam ñānadassanam paññapetabbaṃ, có thể nhận biết tri kiến bị vô tri che lấp này bằng tri kiến bị vô tri che lấp khác.
41. Hán: sanh ư đạo trí生於道智; Pāli: bodhija ñāṇa, trí phát sanh từ bồ-đề hay giác ngộ.
42. Hán: nghĩa ngữ, lợi ngữ義語利語. Cả hai từ Hán: nghĩa và lợi đều tương đương với một từ Pāli: attha (Skt.: artha): ý nghĩa, lợi ích, mục đích.

 
 thật; ngoài ra đều hư dối.’ Hoặc có người nói: ‘Thế gian vô biên. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều hư dối.’ Hoặc có người nói: ‘Thế gian vừa hữu biên vừa vô biên. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều hư dối.’ Hoặc nói: ‘Thế gian  không phải hữu biên  không phải vô biên. Duy chỉ điều này là thật; ngoài ra đều hư dối.’
     “Hoặc nói: ‘Chính mạng43 tức là thân. Duy chỉ điều này là thật; ngoàii ra đều dối.’ Hoặc nói: ‘Mạng  không phải là thân. Đây là thật; ngoài ra là dối.’ Hoặc nói: ‘Mạng khác thân khác. Đây là thật; ngoài ra là dối.’ Hoặc nói: ‘ không phải mạng khác thân khác. Đây là thật; ngoài ra là dối.’
     “Hoặc nói: ‘Như Lai có cuối cùng44. Đây là thật, ngoài ra là dối.’ Hoặc nói: ‘Như Lai  không có cuối cùng. Đây là thật còn ngoài ra là dối.’ Hoặc nói: ‘Như Lai vừa có cuối cùng vừa  không có cuối cùng, đây là thật còn ngoài ra là dối.’ Hoặc nói: ‘Như Lai  không phải có cuối cùng cũng  không phải  không có cuối cùng, đây là thật còn ngoài ra là dối.’
       “Những ai có quan điểm như vậy, gọi là bổn sanh bổn kiến45. Nay ta ghi nhận cho ngươi rằng: ‘Thế gian là thường còn… cho đến, Như Lai  không phải có cuối cùng cũng  không phải  không có cuối cùng. Đây là thật còn ngoài ra là dối.’ Đó là bổn kiến bổn sanh. Hãy ghi nhớ lấy.
        “Gọi là: ‘Mạt46 kiếp mạt sanh.’47 Ta cũng ghi nhận. Những gì là mạt kiếp mạt sanh được ta ghi nhận? Sắc là ta, tùy theo tưởng mà có cuối cùng; đây là thật còn ngoài ra là dối. Vô sắc là ta, tùy theo tưởng có cuối cùng. Vừa có sắc vừa vô sắc là ta, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Không phải có sắc  không phải  không sắc là ta, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Ta là hữu biên, ta là vô biên, ta vừa hữu biên vừa vô biên, ta  không phải hữu biên cũng  không phải vô biên, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Ta có lạc, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Ta  không
_________________________________
43. Mạng, chỉ linh hồn; Pāli: jīva.
44. Hán: Như Lai hữu chung如來有終v.v..; Pāli: hoti tathāgato param maraṇnā: Như Lai tồn tại sau khi chết, v.v… 45. Bổn sanh bổn kiến, so sánh với bổn kiếp bổn kiến trong kinh Phạm động; Pāli:
pubbanta-sahagata-diṭṭhi-nissaya, cơ sở cho quan điểm về quá khứ.
46. Bản Cao ly: vị kiếp vị sanh未劫未生. Các bản Nguyên-Minh: mạt kiếp mạt sanh末劫末生.
47. Pāli; aparanta-sahagata-diṭṭhi-nissaya. Quan điểm liên hệ vị lai.

 
có lạc, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Ta vừa có khổ vừa có lạc, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Ta  không khổ cũng  không lạc, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Một tưởng là ta, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Nhiều tưởng là ta, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Ít tưởng là ta, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Vô lượng tưởng là ta, tùy theo tưởng mà có cuối cùng. Đây là thật ngồi ra là dối. Đó là tà kiến bổn kiến bổn sanh, được Ta ghi nhận.
       “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, có luận như vầy, có kiến như vầy: ‘thế gian này thường còn, đây là thật, ngoài ra là dối… cho đến, vô lượng tưởng là  ta, đây là thật, ngoài ra là dối.’ Sa-môn, Bà-la-môn kia, lại nói như vầy, thấy như vầy: ‘Đây là thật ngoài ra là hư dối’. Nên trả lời người ấy rằng: ‘Có phải ngươi chủ trương rằng, thế giới này là thường còn; đây là thật còn ngoài ra là dối? Lời nói như vậy Phật  không chấp nhận. Vì sao? Trong các kiến giải đó mỗi thứ đều có kết sử. Ta lấy lý mà suy, trong các Sa-môn, Bà-la-môn,  không ai bằng Ta, huống hồ muốn hơn Ta.’ Các tà kiến như vậy chỉ có nơi lời nói mà thôi,  không đáng cùng bàn luận… Cho đến vô lượng tưởng là ta, cũng vậy.
         “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn nói như vầy: ‘Thế gian này tự tạo.’ Lại có Sa-môn, Bà-la-môn nói: ‘Thế gian này cái khác tạo.’ Hoặc nói: ‘Vừa tự tạo vừa cái khác tạo.’ Hoặc nói: ‘ không phải tự tạo cũng  không phải cái khác tạo nhưng ngẫu nhiên mà có.’ Sa-môn, Bà-la-môn nào nói rằng thế gian là tự tạo thì các Sa-môn, Bà-la-môn ấy đều nhân bởi nhân duyên là xúc. Nếu lìa xúc là nhân mà có thể nói được;  không có trường hợp ấy. Vì sao? Do sáu nhập thân48mà phát sanh xúc. Do xúc mà sanh thọ. Do thọ mà sanh ái. Do ái mà sanh thủ. Do thủ mà sanh hữu. Do hữu mà sanh sanh. Do sanh mà có già, chết, ưu, buồn, khổ não, khoái lớn khổ đau. Nếu  không có sáu nhập, thì  không có xúc. Không có xúc thì  không có thọ. Không có thọ thì  không có ái.  không có ái thì  không có thủ. Không có thủ thì  không có hữu. Không có hữu thì  không có sanh. Không có sanh thì  không có già, chết, ưu, buồn, khổ não, khối lớn khổ đau.
          “Lại nói, ‘thế gian này do cái khác tạo’; lại nói, ‘thế gian này vừa tự tạo vừa do cái khác tạo’; lại nói, ‘thế gian này  không phải tự tạo
________________________________________
48. Sáu nhập thân, tức sáu xứ y trên thân; sáu sở y của thức.

 
Cũng phải do cái khác tạo, nhưng ngẫu nhiên mà có’; cũng vậy. Nhân xúc mà có, không có xúc thì  không.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Nếu muốn diệt trừ các quan điểm tà ác ấy, nên tu ba hành49 đối với Bốn niệm xứ. Thế nào Tỳ-kheo diệt trừ các tà ác, nên tu ba hành với Bốn niệm xứ? Tỳ-kheo quán thân trên nội thân, tinh cần  không biếng nhác, ghi nhớ  không quên, trừ tham ưu ở đời. Quán thọ, ý, pháp, cũng vậy. Đó là muốn diệt trừ ba hành đối với Bốn niệm xứ.
“Có tám giải thoát50. Những gì là tám? Có sắc, quán sắc, đó là giải thoát thứ nhất. Bên trong có sắc tưởng, quán ngoại sắc là giải thoát thứ hai. Tịnh giải thoát51 là giải thoát thứ ba. Vượt sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, trú  không xứ là giải thoát thứ tư. Xả  không xứ trú thức xứ là giải thoát thứ năm. Xả thức xứ, trú bất dụng xứ52 là giải thoát thứ sáu. Xả bất dụng xứ, trú hữu tưởng vô tưởng xứ là giải thoát thứ bảy. Diệt tận định, giải thoát thứ tám.”
Bấy giờ, A-nan đứng sau Thế Tôn, cầm quạt quạt Phật, bèn trịch áo bày vai phải, quỳ gối phải xuống đất, chắp tay bạch Phật rằng:
“Kỳ diệu thay, Thế Tôn. Pháp này thanh tịnh, vi diệu bậc nhất, nên gọi là gì? Nên phụng trì như thế nào?”
Phật bảo A-nan:
“Kinh này gọi là “Thanh tịnh”. Ngươi hãy phụng trì như thế.”
Bấy giờ, A-nan sau khi nghe những lời Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.
__________________________________
49. Ba hành: thân hành (Pāli: kāyasaṅkhàra), tác động y trên thân; khẩu hành (vacasaṅkhāra), ý hành (manosaṅkhāra).
50. Xem Tập Dị Môn Túc luận, Q.18 (Đại XXXVI, tr. 445a); Pāli: aṭṭha vimokkhā
51. Tập dị, sđd.: tịnh giải thoát thân tác chướng cụ túc trụ.
52. Bất dụng xứ不用處, hay vô sở hữu xứ無所有處; Pāli: ākiñcanāyatana.

 
/53
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »