2. KINH DU HÀNH1
I2
Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật ở trong núi Kỳ-xà-quật, thành La-duyệt3 cùng với chúng Đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người.
Bấy giờ, A-xà-thế4, vua nước Ma-kiệt, muốn chinh phạt nước Bạt-kỳ5, mới tự nghĩ: “Nước ấy tuy mạnh, dân chúng giàu mạnh, nhưng lấy sức ta để thắng họ không phải là khó”.
Rồi vua A-xà-thế sai đại thần Bà-la-môn Vũ-xá6: “Khanh hãy
_______________________________
1 Bản Hán, Phật Thuyết Trường A-hàm kinh, quyển 2. Tham chiếu, Phật Bát-nê-hồn kinh, Tây Tấn, Bạch Pháp Tổ dịch (Đại I, tr.160); Đại Bát-niết-bàn kinh, Đông Tấn Pháp Hiển dịch (Đại I, tr.191); Bát-nê-hồn kinh, vô danh dịch (Đại I tr.176); Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ-nại-da Tạp Sự, Đường Nghĩa Tịnh dịch (Đại XXIV, tr. 382); Trung A-hàm, No.142 “Vũ Thế kinh” (Đại I, tr.648), No.3 “Thành Dụ kinh” (Đại I, tr.422, No.68 “Đại Thiện Kiến Vương kinh” (Đại I, tr.515), No.26 “Thị Giả kinh” (Đại I, tr.471). Tương đương Pāli, D. 16 (Deva Digh II. 3): Mahā-parinibbāna-suttanta; tham chiếu, D.17 (Deva Dig II. 4): Mahā-Sudassana-suttanta.
2. Bản Hán: “Đệ nhất phần sô, Du Hành kinh Đệ nhị sô”. Phần I của kinh Du Hành.
3. La-duyệt hay La-duyệt-kỳ羅閱祇; Pāli: Rājagaha, tức thành Vương xá王舍, thủ phủ nước Ma-kiệt-đà (Pāli: Magadha). Kỳ-xà-quật (hay khốt)耆闍崛 dịch là Thứu sôn鷲山, Thứu lĩnh鷲嶺, hay Linh thứu sôn靈鷲山, tục gọi núi Kên kên; Pāli: Gijjhakūỉa.
4. Tên gọi đủ: A-xà-thế Vi-đề-hi Tử阿闍世韋提希子; Pāli: Ajātasattu Vedehi-putta, Skt.: Ajātazatru-vaidehiputra, A-xà-thế, con bà Vi-đề-hi, vua nước Ma-kiệt-đà (Pāli, Skt.: Magadha).
5. Bạt-kỳ跋祇; Pāli: Vajji, tên một thị tộc, nhà nước thị tộc, thời Phật.
6. Vũ-xá禹舍; Pāli: Vassakāra, nghĩa: Vũ Hành雨行, Vũ Tác雨作, Vũ Thế雨勢.
đến núi Kỳ-xà-quật, chỗ Đức Thế Tôn, nhân danh ta đảnh lễ dưới chân Thế Tôn và thăm hỏi Đức Thế Tôn, Ngài đời sống thường nhật có thoải mái không, đi đứng có khỏe mạnh không. Sau đó lại bạch Đức Thế Tôn, người nước Bạt-kỳ tự ỷ hùng cường, dân chúng giàu mạnh, không chịu thần phục ta. Ta muốn chinh phạt chúng. không hiểu Đức Thế Tôn có dạy bảo gì không? Nếu Ngài có dạy thế nào, ngươi hãy nhớ cho kỹ, chớ để quên sót, hãy nói lại cho ta hay những gì khanh đã nghe. Những điều Như Lai nói không bao giờ hư dối.”
Đại thần Vũ-xá lãnh mạng, cưỡi xe báu đi đến núi Kỳ-xà-quật. Đến chỗ phải dừng, Ông xuống xe, đi bộ đến chỗ Thế Tôn, thăm hỏi xong, ngồi lại một bên, bạch Đức Thế Tôn rằng:
“Vua nước Ma-kiệt là A-xà-thế cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật và ân cần kính hỏi Ngài, đời sống thường nhật có thoải mái chăng, lui tới có được
mạnh khỏe không?”
Ông lại thưa tiếp:
“Người nước Bạt-kỳ tự thị dũng mãnh, dân chúng giàu mạnh, không chịu thần phục nhà vua, nên nhà vua muốn chinh phạt. Chẳng hay Đức Thế Tôn có dạy bảo gì không?”
Lúc đó, A-nan đang cầm quạt đứng hầu sau Phật. Phật hỏi A-nan:
“Ngươi có nghe dân nước Bạt-kỳ thường nhóm họp bàn những sự việc chân chánh không?” A-nan đáp:
“Con có nghe.”
Phật nói với A-nan:
“Nếu được như thế, lớn nhỏ hòa thuận, nước đó lại càng thịnh vượng; nước ấy sẽ an ổn lâu dài, không thể xâm hại được.
“Này A-nan, ngươi có nghe người nước Bạt-ky vua Tôi hòa thuận, trên dưới kính nhường nhau không?”
“Con có nghe.”
“Nếu được như vậy, lớn nhỏ hòa thuận, nước đó càng thêm thịnh vượng và được yên ổn lâu dài, không thể xâm hại được.
“Này A-nan, ngươi có nghe dân nước Bạt-kỳ thường tôn trọng pháp luật, hiểu điều cấm kî, chẳng trái lễ độ không?”
“Con có nghe.”
“Này A-nan, nếu được như vậy, lớn nhỏ hòa thuận, nước đó càng
thêm thịnh vượng và yên ổn lâu dài, không thể xâm hại được.
“Này A-nan! Ngươi có nghe dân nước Bạt-kỳ hiếu dưỡng cha mẹ, kính thuận sư trưởng không?”
“Con có nghe.”
“Này A-nan, nếu vậy, lớn nhỏ hòa thuận, nước đó càng thêm thịnh vượng và yên ổn lâu dài, không thể xâm hại được.
“Này A-nan! Ngươi có nghe dân nước Bạt-kỳ thường tôn trọng Tông miếu, kính nể quỷ thần không?”
“Con có nghe.”
“Này A-nan, nếu được như vậy thì lớn nhỏ hòa thuận, nước đó càng thêm thịnh vượng và yên ổn lâu dài, không thể xâm hại được.
“Này A-nan, ngươi có nghe dân nước Bạt-ky giữ gìn khuê môn trinh chính, thanh khiết, không bậy bạ, cho đến sự vui đùa, nói năng cũng không tà vạy không?”
“Con có nghe.”
“Này A-nan, nếu được như vậy thì lớn nhỏ hòa thuận, nước đó càng thêm thịnh vượng và yên ổn lâu dài, không thể xâm hại được.
“Này A-nan, ngươi có nghe dân nước Bạt-kỳ tôn thờ Sa-môn, kính người trì giới và thân cận ủng hộ chẳng biếng nhác không?”
“Con có nghe.”
“Này A-nan, nếu được như vậy thì nước đó càng thêm thịnh vượng và yên ổn lâu dài, không thể xâm hại được.
Bấy giờ, đại thần Vũ-xá liền bạch Phật:
“Nhân dân nước kia nếu thi hành có một điều còn không mong gì thắng họ, huống nay họ đủ cả bảy điều. Vì việc nước quá bận, con xin từ tạ trở về.”
Phật nói:
“Nên biết thời giờ.”
Vũ-xá liền đứng dậy đi quanh Phật ba vòng rồi vái chào mà lui.
Vũ-xá đi chưa bao lâu, Phật bảo A-nan:
“Ngươi hãy truyền cho các Tỳ-kheo ở chung quanh thành La-duyệt-kỳ nhóm hết lại giảng đường.”
A-nan vâng lệnh đi đến thành La-duyệt-kỳ tập họp hết các Tỳ-kheo lại giảng đường xong, bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, các Tỳ-kheo đã nhóm đủ, kính mong Đức
Thánh biết thời.”
Bấy giờ, Thế Tôn liền đứng dậy đi đến giảng đường, ngồi lên chỗ ngồi dọn sẵn, bảo các Tỳ-kheo:
“Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ giảng cho các thầy bảy pháp bất thối7.
Các thầy hãy lắng nghe, lắng nghe, suy nghĩ kỹ.”
Các Tỳ-kheo bạch Phật:
“Kính vâng, bạch Thế Tôn. Chúng con muốn nghe.”
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Này các Tỳ-kheo, bảy pháp bất thối là:
“1. Thường hội họp luận bàn nghĩa lý chân chính, thời lớn nhỏ hòa thuận mà Chánh pháp không bị suy thoái.8
“2. Trên dưới Hòa đồng, kính thuận không trái, thời lớn nhỏ Hòa thuận mà Chánh pháp không bị suy thoái.
“3. Trọng pháp, hiểu điều cấm kî, không trái qui chế, thời lớn nhỏ Hòa thuận mà Chánh pháp không bị suy thoái.
“4. Nếu có Tỳ-kheo nào có năng lực hộ chúng, có nhiều tri thức, nên được kính thờ, thời lớn nhỏ hòa thuận mà Chánh pháp không bị suy thoái.
“5. Niệm hộ tâm ý9, lấy sự hiếu kính làm đầu, thời lớn nhỏ Hòa thuận mà Chánh pháp không bị suy thoái.
“6. Tịnh tu phạm hạnh, không chạy theo trạng thái dục10, thời lớn nhỏ hòa thuận mà Chánh pháp không bị suy thoái.
“7. Trước người rồi sau mình, không tham lam danh lợi, thời già trẻ hòa thuận mà Chánh pháp không bị suy thoái.
“Này các Tỳ-kheo, lại có bảy pháp làm cho Chánh pháp tăng trưởng không tổn giảm.
_________________________________
7. Bất thối pháp不退法; Pàli: aparihàniya-dhamma, không suy thối. Trong kinh này, có hai loại bảy pháp bất thối: bảy bất thối của quốc vương (ràjà-aparihàniya-damma) và bảy bất thối của Tỳ-kheo (bhikkhu-aparihàniya-dhamma).
8. Trường 15 (Tập I, tr. 547): “chúng Tỳ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm”.
9. Hộ niệm tâm ý護念心意; Pàli: paccataư yeva satiư upaỉỉhàpeti, mỗi người tự mình hộ trì chánh niệm.
10. Dục thái欲態; Pàli: Bhikkhù (…) taịhàya (…) na vasaư gacchassanti, các Tỳ-kheo không bị chi phối bởi khát ái.
“1. Ưa ít việc, không ưa nhiều việc11, thời Chánh pháp tăng trưởng không bị tổn giảm.
“2. Ưa yên lặng, không ưa nói nhiều.
“3. Bớt sự ngủ nghỉ, tâm không hơn muội.
“4. Không tụ họp nói việc vô ích.
“5. Không tự khen ngợi khi mình thiếu đức12.
“6. Không kết bè bạn với người xấu ác.
“7. Ưa ở một mình nơi chỗ nhàn tịnh, núi rừng.
“Này Tỳ-kheo, được như vậy, thời Chánh pháp sẽ được tăng trưởng, không bị tổn giảm.
“Này các Tỳ-kheo! Lại có bảy pháp làm cho Chánh pháp tăng trưởng không bị tổn giảm.
“1. Có tín tâm; tin Đức Như Lai, Chí Chân, Chánh Giác, đủ mười đức hiệu.
“2. Có tàm, biết hổ với điều thiếu sĩt của mình.
“3. Có quý, biết thẹn với việc ác mình đã làm.
“4. Đa văn, những điều đã được thọ trì đều tốt ở đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối, nghĩa và vị thâm áo, thanh tịnh không bẩn, phạm hạnh đầy đủ.
“5. Siêng năng cần khổ, bỏ ác tu lành, chuyên tâm tập luyện mãi không ngừng.
“6. Điều đã học tập được, ghi nhớ mãi không quên.
“7. Tu tập trí tuệ, biết pháp sanh diệt, hướng đến Hiền thánh, dứt hết gốc khổ.
“Với bảy pháp như thế thời Chánh pháp tăng trưởng không bị hao tổn.
“Này các Tỳ-kheo! Lại có bảy pháp làm cho Chánh pháp tăng trưởng không bị hao tổn:
“1. Kính Phật.
“2. Kính Pháp.
“3. Kính Tăng.
___________________________________
11. D. 15 (Deva Dig II. 3, tr. 32): na kammàràmà bhavissanti: không ưa thích tác nghiệp. Kamma, nghiệp hay tác nghiệp ở đây được hiểu là thế sự.
12. D. 15 sđd.: na pàpicchà bhavissanti: không có những ham muốn xấu (ác dục).
“4. Kính giới luật.
“5. Kính thiền định.
“6. Kính thuận cha mẹ.
“7. Kính pháp không buông lung.
“Bảy pháp như vậy làm cho Chánh pháp tăng trưởng mãi không bị hao tổn.
“Này các Tỳ-kheo! Lại có bảy pháp làm cho Chánh pháp tăng trưởng không bị hao tổn:
“1. Quán thân bất tịnh.
“2. Quán đồ ăn bất tịnh.
“3. Chẳng mê đắm thế gian.
“4. Thường suy niệm về sự chết.
“5. Suy niệm về vô thường.
“6. Suy niệm về vô thường tức khổ.
“7. Suy niệm khổ tức vô ngã.
“Bảy pháp như vậy làm cho Chánh pháp tăng trưởng không bị hao tổn.
“Này các Tỳ-kheo! Lại có bảy pháp làm cho Chánh pháp tăng trưởng không bị hao tổn:
“1. Tu về niệm giác ý13, nhàn tịnh, vô dục, xuất ly, vô vi14.
“2. Tu về pháp giác ý.
“3. Tu về tinh tấn giác ý.
“4. Tu về hỷ giác ý.
“5. Tu về ỷ giác ý.
“6. Tu về định giác ý.
“7. Tu về hộ giác ý.15
“Bảy pháp như vậy làm cho Chánh pháp tăng trưởng không bị hao tổn.
“Này các Tỳ-kheo! Có sáu pháp bất thối làm cho Chánh pháp
_________________________________
13 . Niệm giác ý念覺意, hay niệm giác chi念覺支, xem kinh số 10 “kinh Thập Thượng” ở sau.
14. Tham chiếu, Trường A-hàm, “10 kinh Thập Thượng”: y vô dục, y tịch diệt, y viễn ly依無欲依寂滅依遠離.依無欲依寂滅依遠離.
15. Xem chú thích trên. So sánh các thuật ngữ.
tăng trưởng không bị hao tổn.
“1. Thân thường hành xử từ ái, không hại chúng sanh.
“2. Miệng nói nhân từ, không diễn lời dữ.
“3. Ý niệm Từ tâm, không ôm lòng thêm bớt16.
“4. Được vật lợi dưỡng hợp lẽ, chia cùng chúng hưởng, bình đẳng như nhau.
“5. Giữ giới Thánh hiền không để khuyết lậu, cũng không cấu uế, nhất định không dao động17.
“6. Thấy đạo Thánh hiền để dứt hết thống khổ.18
“Sáu pháp như vậy làm cho Chánh pháp tăng trưởng không bị hao tổn.
“Này các Tỳ-kheo, lại có sáu pháp bất thối làm cho Chánh pháp tăng trưởng không bị hao tổn:
“1. Niệm Phật.
“2. Niệm Pháp.
“3. Niệm Tăng.
“4. Niệm giới.
“5. Niệm thí.
“6. Niệm thiên.
Sáu niệm ấy làm cho Chánh pháp tăng trưởng không bị hao tổn.”
Bấy giờ, Thế Tôn sau khi tùy nghi trú ở La-duyệt-kỳ19, Ngài bảo A-nan rằng:
“Các thầy hãy sẵn sàng, ta muốn đi đến Trúc viên20.”
Đáp: “Thưa vâng.”
______________________________
16. Nguyên: bất hồi hoại tổn不懷壞損, không ôm lòng gây hại. TNM: bất hồi tăng tổn不懷增損.
17. Hán: tất đành bất động必定不動. So sánh Pāli, D. 15 (Deva Dig II. 3, tr. 35): saparāmaṭṭhāni samādhisaṃvattanikāni… “những giới luật không bị ô nhiễm bởi mục đích sai lạc, những giới luật hướng đến đònh tâm” (Trường 15, I, tr. 554).
18. Đoạn trên thường được biết là sáu pháp hòa kính, tức pháp lục hòa.
19. Hán: tùy nghi trú dó隨宜住已. So sánh, D.15: yathābhirantam viharitvā, Trường I, tr. 555: “ở… cho đến khi Ngài xem là vừa đủ”.
20. Chỉ Ca-lan-đà trúc viên迦闌陀竹園; Pāli: Veḷuvana-kalandanivāpa, khu rừng trúc nổi tiếng ở Ma-kiệt-đà (Magadha). Trong bản Pàli, sđd.: Phật đến Ambalaṭṭhika, một tịnh thất bên ngồi Trúc lâm tinh xá.
Rồi Ngài sửa soạn y bát, cùng đại chúng thị tùng, Thế Tôn theo ngả đường từ Ma-kiệt đi đến Trúc viên. Sau khi lên giảng đường an tọa, Phật dạy các Tỳ-kheo về giới, định, tuệ; tu giới đắc định21, được quả báo lớn; tu định đắc trí, được quả báo lớn; tu trí tâm tịnh, được giải thoát hồn toàn22, dứt hết ba thứ lậu hoặc là dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.
Sau khi đã giải thoát liền phát sanh trí về sự giải thoát23, sanh tử dứt hết, phạm hạnh đã vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sinh nữa.”
Bấy giờ, Thế Tôn sau khi tùy nghi trú ở Trúc viên, Ngài bảo A-nan:
“Các thầy hãy sửa soạn, hãy đi đến thành Ba-lăng-phất24.”
Đáp: “Kính vâng.”
Rồi Ngài sửa soạn y bát cùng với đại chúng theo hầu, Thế Tôn từ Ma-kiệt đi đến thành Ba-lăng-phất và ngồi ở gốc cây Ba-lăng25.
Lúc ấy các Thanh tín sĩ26 tại đó nghe Phật cùng đại chúng từ xa đến nghỉ dưới cây Ba-lăng, bèn cùng nhau ra khỏi thành, từ xa trông thấy Thế Tôn ngồi dưới gốc cây Ba-lăng dung mạo đoan chính, các căn vắng lặng, nhu thuận tột bực, như con rồng lớn, như nước đứng trong, không chút bợn nhơ, đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp trang nghiêm tột bực. Thấy rồi, ai nấy hoan hỷ, lần đến chỗ Phật, đầu mặt lễ chân Phật, rồi ngồi lại một bên. Đức Thế Tôn theo thứ lớp nói pháp, khai tỏ, giáo huấn, khiến cho lợi ích, hoan hỷ27
Các Thanh tín sĩ được nghe Phật nói
__________________________________
21. Hán: tu giới hoạch đònh修戒獲定; Pàli, D. 15, sđd.: sìlaparibhàvito samàdhi; Trường I, tr. 554: “định cùng tu với giới”.
22. Hán: tu trí tâm tịnh đắc đẳng giải thốt修智心淨得等解脫; Pàli, sđd.: paóóàparibhà-vitaư cittaư sammadeva àsavehi vimuccati, tâm cùng tu với tuệ
đưa đến giải thốt hồn tồn các lậu.
23. Nghĩa là, sau khi giải thốt, biết rõ mình đã giải thốt.
24 . Ba-lăng-phất巴陵弗, bản Minh: Ba-liên-phất巴連弗; Pàli: Pàỉaliputta, Skt.: Pàỉaliputra (Hoa thị thành華氏城hay Hoa tử thành華子城). Trong thời Phật, đòa phương này chỉ là một ngôi làng trong vương quốc Magadha, vì vậy D.15 (Deva Dig ii. 3 ) nói nó là Pàỉaligàma: làng Patali.
25. Ba-lăng-thọ巴陵樹; Pàli: Pàỉalì, cây hoa kèn.
26. Thanh tín só清信士, hay Ưu-bà-tắc優婆塞; Pàli: Upàsaka.
27. Thị, giáo, lợi, hỷ示,教,利,喜: bốn tuần tự thuyết pháp của Phật; Pàli: sandassesi samàdapesi samuttejesi sampahaưsesi: chỉ bày, khích lệ, làm cho phấn khởi, hoan hỷ.
Pháp liền bạch Phật rằng:
“Chúng con xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Thánh chúng. Ngưỡng mong Đức Thế Tôn thương xót chấp nhận cho chúng con được làm Ưu-bà-tắc. Từ nay về sau, nguyện không giết, không trộm, không tà dâm28, không nói dối, không uống rượu. Chúng con sẽ giữ giới không bao giờ quên29. Ngày mai chúng con xin cúng dường. Ngưỡng mong Thế Tôn cùng đại chúng rủ lòng hạ cố.”
Đức Thế Tôn làm thinh nhận lời. Các Thanh tín sĩ thấy Phật làm thinh nhận lời, liền đứng dậy đi quanh Phật ba vòng làm lễ rồi lui ra. Vì Đức Như Lai, họ dựng ngôi nhà lớn, ban sửa đất đai, quét tước, rưới nước, xông hương, trang hoàng bảo tọa. Khi thiết cúng xong, họ đến bạch Phật:
“Cỗ đã dọn xong, cúi mong Đức Thánh biết đã đến giờ.”
Khi ấy, Thế Tôn liền đứng dậy mang y cầm bát cùng đại chúng đến giảng đường. Đến nơi, rửa tay chân xong, Phật ngồi giữa, các Tỳ-kheo ngồi bên tả, các Thanh tín sĩ ngồi bên hữu.
Bấy giờ, Thế Tôn nói với các Thanh tín sĩ rằng:
“Phàm người phạm giới thời có năm điều suy hao. Những gì là năm?
“1. Cầu tài lợi không được toại nguyện.
“2. Dẫu có được tài lợi, ngày mỗi hao mòn.
“3. Bất cứ đến đâu cũng không được mọi người kính nể.
“4. Tiếng xấu đồn khắp thiên hạ.
“5. Thân hoại mệnh chung sa vào địa ngục.
“Trái lại, này các Thanh tín sĩ, phàm người giữ giới sẽ có năm công đức. Những gì là năm?
“1. Cầu gì đều được như nguyện.
“2. Tài sản đã có thì thêm mãi không hao sút.
“3. Ở đâu cũng được mọi người kính mến.
“4. Tiếng tốt đồn khắp thiên hạ.
“5. Thân hoại mệnh chung được sanh lên cõi trời.”
Bấy giờ, đã nửa đêm, Phật bảo các Thanh tín sĩ hãy trở về. Các
____________________________________
28 Dâm淫(bộ thủy水): tham sắc quá độ; phân biệt với dâm婬bộ nữ女: dâm dục. Do đó, bất dâm不淫ở
đây được hiểu không tà dâm, tức Pàli: kāmesu micchācāro, hành vi tà vạy trong các dục lạc.
29 Bất vong不忘; TNM: bất vọng不妄: không dối.
Thanh tín sĩ vâng lời, đi quanh Phật ba vòng, rồi đảnh lễ mà lui.
Bấy giờ, khi đêm vừa qua, ánh sáng vừa ló, Thế Tôn đi tới chỗ thanh vắng, bằng thiên nhãn thanh tịnh, thấu suốt, thấy các vị thần lớn mỗi vị phong thủ đất đai nhà cửa30 riêng, các thần trung, thần hạ cũng phong thủ đất đai nhà cửa. Thế Tôn liền trở lại giảng đường, lên chỗ ngồi. Tuy đã biết, nhưng Ngài vẫn hỏi:
“Này A-nan, ai tạo lập thành Ba-lăng-phất này?”
A-nan bạch Phật:
“Thành này do đại thần Vũ-xá tạo ra để phòng ngự nước Bạt-kỳ.”
Phật nói với A-nan:
“Người tạo ra thành này rất hợp ý trời31. Lúc đêm đã tàn, trời vừa sáng, Ta đi tới chỗ thanh vắng, bằng thiên nhãn, xem thấy các Đại Thiên thần mỗi vị phong thủ đất đai nhà cửa riêng, các trung thần, hạ thần cũng phong thủ đất đai nhà cửa. A-nan! Nên biết chỗ đất đai nhà cửa nào được Đại Thiên thần phong thủ, ai ở đó tất được an lạc nhiều32; còn chỗ trung thần phong thủ thì hàng trung nhân ở; chỗ hạ thần phong thủ thì hạ nhân ở và công đức nhiều ít cũng tùy theo chỗ ở ấy.
“Này A-nan, chỗ này là chỗ hiền nhân ở, kẻ bán buôn qui tụ, phép nước đúng đắn không dối ngụy33. Thành này rất tốt, được mọi nơi suy tôn, không thể phá hoại. Lâu về sau nếu có bị phá chăng chỉ do ba việc; một là bị nước lớn, hai là bị lửa lớn và ba là bị người trong thông mưu với người ngồi phá hoại được thành này.”
________________________________________
30. Hán: phong trạch địa封宅地; Pàli: vatthuṃ pariggaṇhāti, chiếm hữu (hoặc thủ hộ) đất đai.
31.Hán: chánh đắc thiên ý正得天意; Pāli, sđd.: Deva Dig ii, tr.70: seyyathāpi devehi Tāvatiṃsehi saddhiṃ mantetvā, giống như sau khi đã hỏi ý các Thiên thần Tāvatiṃsa (Đao-lợi).
32. Tham chiếu Pāli, sđd.: yasmim padese mahesakkhā devatā vatthūni pariggan-hanti mahesakkhānam tattha raññam rājamahāmattānam cittāni namanti nivesa-nāni māpetum; nơi ở nào có Thiên thần có đại oai lực thủ hộ (chiếm lĩnh) đất đai, nơi ấy tâm thức các vua chúa và các đại thần có thế lực được hướng đến việc xây dựng các trú xứ.
33. Pāli, sđd.: Deva Dig ii. tr.71-72: yāvatā, Ānanda, ariyaṃ āyatanaṃ, yāvatā vaṇippatho, idaṃ agganagaraṃ pāỉaliputtaṃ puỉabhedanaṃ, nơi nào là căn cứ địa của những người Ariyan, nơi nào là đô hội của các thương gia, nôi ấy một đô thị bậc nhất tên là Pāṭaliputta được thiết lập.
Trong lúc đó các Thanh tín sĩ Ba-lăng-phất suốt đêm cùng bày biện. Đúng giờ, họ đến bạch Phật:
“Cỗ đã dọn xong, cúi mong Đức Thánh biết là đã đến giờ.34”
Bấy giờ, các Thanh tín sĩ bưng dọn, tự tay bưng sớt đồ ăn. Thọ thực xong dùng nước rửa. Rồi họ dọn một chỗ ngồi nhỏ trước Phật. Phật chỉ bày mà rằng:
“Chỗ này của các ngươi là chỗ bậc Hiền trí, phần nhiều người trì giới tịnh tu phạm hạnh cư trú; các Thiện thần vui mừng ủng hộ.”
Rồi Ngài chú nguyện cho họ:
“Biết kính trọng thì được người kính trọng. Biết phụng sự thì được người phụng sự. Bố thí, kiêm ái, có lòng từ ẫn, được chư Thiên khen ngợi và thường cùng người lành sum họp, không cùng người ác ở chung.”
Bấy giờ, sau khi thuyết pháp xong, Đức Thế Tôn liền rời khỏi chỗ, đại chúng hầu quanh mà đưa Ngài trở về. Đại thần Vũ-xá đi theo sau Phật, nghĩ rằng:
“Hôm nay, nhân Đức Sa-môn Cù-đàm đi qua cửa thành này, ta hãy gọi cửa này là cửa Cù-đàm35
Lại nhân bến sông mà Phật sang ngang, liền đặt tên chỗ đó là bến Cù-đàm36.
Đức Thế Tôn ra khỏi thành Ba-lăng-phất, đi đến bờ sông. Lúc ấy, trên bờ sông có nhiều người, trong số đó có người thì dùng thuyền, có người dùng bè, có người dùng phà mà sang sông.
Đức Thế Tôn cùng đại chúng chỉ trong khoảnh khắc, như lực sĩ co duỗi cánh tay, đã đến cả bên kia sông. Sau khi quán sát nghĩa này, Thế Tôn liền nói bài tụng:
Phật là Hải Thuyền Sư
Pháp là cầu sang sông,
Là chiếc xe Đại thừa,
Đưa hết thảy trời, người.
____________________________________________
34 Pāli: Kālo bho Gotama niṭṭhitaṃ bhattaṃ, “Đã đến giờ, bạch Tôn giả Gotama, cơm đã dọn xong”.
35. Hán: Cù-đàm môn瞿曇門; Pāli: Gotama-dvāra.
36. Cù-đàm độ瞿曇渡; Pāli: Gotama-titthaṃ.
Là Đấng Tự Giải Thoát,
Sang sông, thành Phật-đà37.
Khiến tất cả đệ tử,
Giải thoát, đắc Niết-bàn.
Thế Tôn lại từ nước Bạt-kỳ đi đến thôn Câu- lỵ nghỉ ở dưới một khóm rừng và bảo các Tỳ-kheo:
“Có bốn pháp thâm diệu: một là Thánh giới; hai là Thánh định; ba là Thánh tuệ và bốn là Thánh giải thoát. Đó là pháp vi diệu khó hiểu, khó biết, mà ta với các ông xưa kia vì không hiểu rõ nên mãi trôi lăn không cùng trong vòng sống chết.”
Quán xét theo nghĩa đó, Phật liền dạy bài kệ:
Giới, định, tuệ, giải thoát,
Duy Phật phân biệt rõ.
Lìa khổ độ chúng sanh,
Khiến dứt mầm sanh tử.
Bấy giờ, Thế Tôn sau khi tùy nghi trú ở thôn Câu- lỵ lại bảo A-nan cùng đi đến thôn Na-đà39. A-nan vâng lời, khoác y ôm bát cùng với đại chúng đi theo Phật, theo con đường từ Bạt-kỳ đến Na-đà và dừng lại chỗ Kiền-chùy40.
Bấy giờ, A-nan ở chỗ thanh vắng yên lặng suy nghĩ: “Thôn Na-đà này có mười hai cư sĩ là Già-già-la, Già-lăng-già, Tỳ-già-đà, Già-lê-thâu, Giá-lâu, Bà-da-lâu, Bà-đầu-lâu, Tẩu-bà-đầu-lâu, Đà-lê-xá-nậu, Tẩu-đạt-lê-xá-nậu, Da-thâu, Da-thâu-đa-lâu đã qua đời41. Hiện nay không biết họ
______________________________________
37. Hán: đắc thăng tiên得昇仙.
38. Câu-lî拘利; Pāli: Koṭigāma.
39. Na-đà thôn那陀村; Pàli: Nādikā.
40. Kiền-chùy xứ犍椎處; Pāli: Ginjakāvasatha, cũng nói là Kiền-chùy tinh xá犍椎精舍hay Luyện ngõa đường煉瓦堂, ngôi nhà lợp ngói.
41.Danh sách mười hai cư sĩ ở Na-đà: Già-già-la伽伽羅, Già-lăng-già伽陵伽, Tỳ-già-đà毗伽陀, Già-lî- (TNM: lê) thâu伽利(梨)輸, Giá-lâu遮樓, Bà-da-lâu婆耶樓, Bà-đầu-lâu婆頭樓, Tẩu-bà-đầu-lâu藪婆頭樓, Đà-lê-xá-nậu陀梨舍耨, Tẩu-đạt-lê-xá-nậu藪達利舍耨, Da-thâu (du)耶輸, Da-thâu (du)-đa-lâu耶輸多樓.Danh sách những người chết được đề cập, D. 15 (Deva Dig ii, tr. 77): Tỳ-kheo Sālada, Tỳ-kheo-ni Nandā, cư sĩ Sudatta, nữ cư sĩ Sujātā và các cư sĩ Kakudha, Kālinga, Nikata, Katissabha, Tuttha, Santuttha, Bhadda.
sinh về đâu? Lại có năm mươi người khác mệnh chung, lại năm trăm người khác nữa mệnh chung, nay không biết họ sinh về chỗ nào?”
A-nan suy nghĩ như thế xong, rời khỏi nơi nhàn tịnh, đến chỗ Thế Tôn, đầu mặt lễ chân Phật xong, ngồi xuống một bên, bạch Phật:
“Thế Tôn, vừa rồi con ở chỗ nhàn tịnh, lặng lẽ suy nghĩ: Thôn Na-đà này có mười hai cư sĩ: Già-già-la v.v…, mạng chung; lại có năm mươi người nữa mạng chung, lại có năm trăm người mạng chung; không biết họ sinh về đâu. Cúi mong Thế Tôn nói rõ cho con.”
Phật bảo A-nan:
“Mười hai cư sĩ kia là Già-già-la v.v…, đã đoạn năm hạ phần kết42 nên mệnh chung sinh thiên43; họ nhập Niết-bàn ở đó chứ không trở lại cõi này nữa. Còn năm mươi người kia mạng chung do đoạn trừ ba kết sử44; dâm, nộ, si mỏng, đắc quả Tư-đà-hàm45, sẽ trở lại cõi này để dứt hết gốc khổ. Còn năm trăm người kia mạng chung do đoạn trừ ba kết sử, đắc quả Tu-đà-hoàn46, không còn bị đọa vào ác thú, chắc chắn thành đạo, chỉ trở lại cõi này bảy lần để dứt hết gốc khổ rồi thôi.
“Này A-nan, phàm có sinh thì có chết, đó là lẽ thường của cuộc đời, có gì là quái lạ. Nếu thấy mỗi người chết, ngươi đều tới hỏi ta như vậy chẳng là quấy rầy ư?”
A-nan đáp:
“Đúng vậy, bạch Thế Tôn, quả là phiền nhiễu.”
Phật bảo:
“A-nan, nay ta sẽ nói cho ngươi về Pháp kính47 để các Thánh đệ tử biết chỗ thọ sanh; dứt hết ba đường dữ, chứng quả Tu-đà-hoàn, không quá bảy đời sẽ tận cùng biên tế của khổ; và cũng có
__________________________________________
42. Hạ phần kết, hay thuận hạ phần kết; Pāli: orambhāgiya-saṃyojanāni (năm) thứ phiền não hay ô nhiễm buộc chặt chúng sanh vào sự tái
sanh hạ giới tức dục giới. Vị đoạn trừ năm kết sử này sẽ không tái sanh Dục giới nên được gọi là Bất hồn (Pāli: Anagāmin).
43. Sinh lên Tịnh cư thiên (Pāli: Suddhāvasa).
44. Ba kết sử (Pāli: tīṇi saṃyojanāni): thân kiến hay hữu thân kiến (Pāli: sakkāya- diṭṭhi), nghi (Pāli: vicikicchā), giới cấm thủ (Pāli: sīlabbataparāmāso).
45. Tư-đà-hàm hay Nhất lai, vị tái sinh Dục giới một lần nữa; Pāli: Sakadāgāmin.
46. Tu-đà-hồn, hay Dự lưu, vị đã dự vào dòng Thánh; Pāli: Sotapānna.
47. Pháp kính法鏡; Pāli: dhammādāsa, tấm gương pháp, gương để soi rọi sự thật.
thể nói việc ấy cho người khác nghe.
“Này A-nan! Pháp kính là, Thánh đệ tử đã đạt được bất hoại tín48, hoan hỷ tin Phật là Đức Như Lai, Vô Sở Trước, Đẳng Chánh Giác, mười đức hiệu đầy đủ. Hoan hỷ tin Pháp là giáo pháp chân chính vi diệu, Phật tự ý nói ra49, không cuộc hạn thời tiết, dạy bày con đường đi đến Niết-bàn; được thực hành bởi kẻ trí. Hoan hỷ tin Tăng là chúng khéo hòa đồng, sở hành chất trực không dối trá và chứng thành đạo quả, trên dưới thuận hòa, đầy đủ pháp thân, hoặc có người đang hướng tới Tu-đà-hoàn và được quả Tu-đà-hoàn, có người đang hướng tới Tư-đà-hàm và được quả Tư-đà-hàm, có người đang hướng tới A-na-hàm và được quả A-na-hàm, có người đang hướng tới A-la-hán và được quả A-la-hán50. Ấy là bốn đôi tám bậc, chúng Hiền thánh của Như Lai, xứng đáng được cung kính, làm ruộng phước cho đời. Tin giới của Hiền thánh là thanh tịnh, không nhơ, không bị sứt mẻ, không rị rỉ, được các bậc minh triết tu theo mà chứng đến tam-muội định vậy.
“A-nan, đó là Pháp kính, khiến Thánh đệ tử biết chỗ thọ sanh, dứt sạch ba đường dữ, chứng đắc Tu-đà-hoàn, không quá bảy đời hoàn tất tận cùng biên tế của khổ; và cũng có thể nói cho người khác sự việc ấy.”
Bấy giờ, Thế Tôn sau khi tùy nghi trú ở đó, bèn bảo A-nan hãy cùng đi đến nước Tỳ-xá-ly51. A-nan vâng lời, mang y cầm bát, cùng với đại chúng theo hầu Thế Tôn, theo con đường từ Bạt-kỳ đến Tỳ-xá-ly và ngồi nghỉ ở một gốc cây.
Bấy giờ có một dâm nữ tên Am-bà-bà-lê52 vừa nghe Phật cùng
___________________________________
48. Bốn bất hoại tín不壞信, cũng nói là bốn bất động tín不動信, bốn chứng tịnh證淨hay bốn Dự lưu chi預流支; Pāli: Aveccappasāda; Skt.: Avetya-prasàda: tin Phật, tin Pháp, tin Tăng, tin Thánh giới.
49. Hán: tự tứ sở thuyết自恣所說; Pāli: svākhāto (Skt.: svākhyāta), nơi khác thường được dịch là thiện thuyết: pháp được Thế Tôn giảng thuyết khéo léo. Bản Hán ở đây có lẽ hiểu svākhāto là sva(tự mình)-ākhāta, thay vì su(khéo léo)-ākhāta.
50. Nêu bốn hướng và bốn quả, hợp thành tứ song bát bối四雙八輩.
51. Tỳ-xá-ly毗舍離, hoặc phiên âm Tỳ-da-ly毗耶離, dịch: Quảng nghiêm thành廣嚴城.
52. Am-bà-bà-lê菴婆婆梨, âm khác: Am-bà-ba-lî菴婆波利, Am-bà-la-bà-lî菴婆羅婆利, Am-bà-la菴婆羅; Pāli: Ambapāli-ganikā.
các đệ tử đến Tỳ-xá-ly, đang ngồi dưới một gốc cây, liền sửa soạn xe báu, muốn đi đến chỗ Phật để lễ bái cúng dường. Khi chưa đến nơi, từ xa nàng đã thấy Đức Thế Tôn diện mạo đoan chánh, các căn đặc biệt khác thường, tướng tốt đầy đủ, như mặt trăng ở giữa những vì sao. Nàng rất hoan hỷ, xuống xe đi bộ lần tới chỗ Phật, cúi đầu đảnh lễ, ngồi lại một bên.
Rồi Thế Tôn, theo thứ lớp thuyết pháp, khai giải, giáo huấn, khiến cho lợi ích, hoan hỷ. Nghe Phật nói xong nàng phát tâm vui mừng quỳ bạch Phật rằng:
“Bắt đầu từ hôm nay con quy y ngơi Tam bảo. Mong Phật nhận lời cho con được làm Ưu-bà-di ở trong Chánh pháp, trọn đời con không giết, không trộm, không tà dâm53, không nói dối, không uống rượu.”
Lại bạch Phật:
“Cúi mong Thế Tôn cùng các đệ tử ngày mai nhận lời thỉnh cầu của con. Còn tối nay thì xin nghỉ tại vườn của con.”
Khi ấy Phật im lặng nhận lời.
Nàng thấy Phật đã im lặng nhận lời, liền đứng dậy đi quanh Phật ba vòng rồi đảnh lễ mà trở về. Nàng đi chưa bao lâu, Phật bảo A-nan:
“Ta cùng các ngươi đi đến khu vườn kia.”
Đáp:
“Thưa vâng.”
Phật bèn rời chỗ ngồi, mang y cầm bát cùng chúng đệ tử một ngàn hai trăm năm mươi người đi đến khu vườn ấy.
Lúc bấy giờ, nhóm người Lệ-xa54 ở Tỳ-xá-ly, nghe Phật đến nghỉ tại vườn của Am-bà-bà-lê thì liền thắng những cỗ xe báu năm sắc lộng lẫy; có người cưỡi xe xanh, ngựa xanh, phan dù áo mão đều xanh; ngựa xe năm sắc đều như vậy. Rồi thì, những người Lệ-xa với y phục đồng sắc, cả năm trăm người kéo đến Phật. Nàng Am-bà-bà-lê sau khi từ giã Phật trở về, giữa đường gặp xe họ. Lúc đó, xe nàng chạy rất nhanh, cùng với xe báu của họ móc kéo nhau, khiến phướn lọng gãy đổ cả, mà
_____________________________________
53. Xem cht. 28.
54. Lệ-xa隸車; Pāli: Licchavi, một bộ lạc hùng mạnh thời Phật, thuộc bộ tộc Vajji, đóng đô ở Vesāli.
vẫn không chịu tránh đường. Các người Lệ-xa trách:
“Nàng ỷ thế gì mà không tránh đường cho chúng tôi đi, để đụng nhằm xe cộ chúng tôi khiến phướn lọng gãy cả?”
Am-bà đáp:
“Thưa quý ngài, tôi đã thỉnh Phật ngày mai đến nhà tôi thọ trai. Tôi phải về gấp sửa soạn đồ cúng dường, thành phải đi mau, không tránh kịp.”
Nhóm Lệ-xa liền bảo nàng:
“Nàng khoan hãy thỉnh. Để chúng tôi thỉnh trước, chúng tôi sẽ cho nàng một trăm ngàn lượng vàng.” Nàng đáp:
“Tôi đã thỉnh trước rồi, không thể nhường được.” Nhóm Lệ-xa tiếp:
“Chúng tôi sẽ tặng nàng gấp mười sáu lần trăm ngàn lượng vàng. Hãy để chúng tôi thỉnh trước.”
Nàng vẫn không chịu:
“Tôi đã thỉnh rồi. Nhất định không thể làm như thế được.”
Các Lệ-xa lại nói:
“Chúng tôi sẽ tặng bằng số tài bảo nửa nước, nàng hãy để chúng tôi thỉnh trước.” Nàng trả lời:
“Giả sử đem tài bảo của cả nước cấp cho tôi, tôi cũng không nhận. Vì sao? Vì Phật hiện ở tại vườn tôi, Ngài đã nhận lời tôi thỉnh trước. Việc ấy đã xong, không thể nhường được.”
Các Lệ-xa khoa tay than tiếc, rằng:
“Nàng con gái này đã làm chúng ta thiếu mất cái phúc quả đầu tiên.”
Họ liền tiến tới khu vườn Phật đang ở. Khi Đức Thế Tôn từ xa thấy năm trăm người Lệ-xa, với ngựa xe số vạn, chật đường tiến đến, Ngài bảo các Tỳ-kheo:
“Các ngươi nên biết chư Thiên Đao-lợi khi đi dạo công viên, thì uy nghi và sự trang sức cũng không khác đồn người đó mấy. Này các Tỳ-kheo, hãy tự nhiếp tâm, gìn giữ oai nghi đầy đủ. Tỳ-kheo tự nhiếp tâm mình như thế nào? Tỳ-kheo quán thân trên nội thân, siêng năng không lười biếng, ghi nhớ không quên, trừ bỏ tham ưu ở đời. Quán thân
trên ngoại thân…, quán nội ngoại thân…, trừ bỏ tham ưu ở đời. Quán thọ, quán ý, quán pháp cũng như thế55.
Thế nào là Tỳ-kheo đầy đủ oai nghi? Ở đây, Tỳ-kheo, khi đi thì biết là đi, dừng thì biết là dừng, quay nhìn tả hữu, co duỗi, cúi ngước, mang y cầm bát cho đến việc ăn uống, thuốc thang, đều không để mất nghi tắc. Khôn khéo tìm cách trừ bỏ ấm cái56, đi ở nằm ngồi, ngủ thức, nói năng hay im lặng đều nhiếp tâm đừng cho loạn động. Đấy gọi là Tỳ-kheo đầy đủ oai nghi.”
Bấy giờ năm trăm người Lệ-xa đi đến vườn Am-bà-bà-lê. Gần đến chỗ Phật, xuống xe đi bộ đến, đầu mặt đảnh lễ chân Phật, rồi lui ngồi một bên. Như Lai ở trên chỗ ngồi, ánh sáng độc nhất tỏa sáng che mờ đại chúng, như trăng mùa thu; lại như trời đất trong sáng sạch sẽ không chút bụi dơ, mặt trời giữa hư không độc nhất tỏa sáng. Rồi thì, năm trăm người Lệ-xa hầu vây quanh chỗ ngồi của Phật. Lúc ấy, giữa hội chúng có một người Phạm chí tên là Tịnh Ký57, từ chỗ ngồi đứng dậy, trật áo vai hữu, đầu gối hữu quỳ xuống đất, chắp tay hướng về Phật, tán thán bằng bài kệ rằng:
Vua Ma-kiệt, Ương-già,
Để được nhiều thiện lợi,
Khoác khôi giáp bảo châu.
Phật hiện ở nước ấy.
Uy đức động tam thiên,
Tiếng vang như núi Tuyết.
Như hoa sen đã nở,
Mùi hương thật mầu nhiệm.
Nay thấy ánh sáng Phật,
Như mặt trời mới mọc;
Như trăng qua bầu trời,
Không bị mây che khuất.
Thế Tôn cũng như vậy,
______________________________________
55 Trên đây là bốn niệm xứ念處hay niệm trụ念住(Pāli: satipaṭṭhāna): quán thân, thọ, tâm và pháp.
56. Ấm cái陰蓋, hay triền cái纏蓋(Pāli, Skt.: nivāraṇa), có năm.
57. Tịnh Ký并暨(?).
Sáng chiếu cả thế gian.
Quán trí tuệ Như Lai
Như tối gặp đuốc sáng;
Đem mắt sáng cho đời,
Quyết trừ các nghi hoặc.
Năm trăm người Lệ-xa sau khi nghe bài kệ ấy lại bảo Tịnh Ký:
“Ngươi hãy lặp lại.”
Rồi Tịnh Ký ở trước Phật lặp lại ba lần. Năm trăm Lệ-xa sau khi nghe lặp lại bài kệ, mỗi người cởi y báu mà cho Tịnh Ký. Tịnh Ký bèn đem y báu dâng Đức Như Lai. Phật vì lòng từ mẫn nên thọ nhận. Bấy giờ, Thế Tôn nói với những người Lệ-xa ở Tỳ-xá-ly rằng:
“Ở đời có năm thứ báu rất khó có được. Những gì là năm? Một là Như Lai, Chí Chân xuất hiện ở đời rất khó có được. Hai là người có thể giảng thuyết Chánh pháp của Như Lai rất khó có được. Ba là người có thể tín giải pháp mà Như Lai diễn thuyết rất khó có được. Bốn là người có thể thành tựu pháp mà Như Lai diễn thuyết rất khó có được. Năm là hiểm nguy được cưu ách mà biết đáp trả, hạng người ấy cũng rất khó có. Ấy là năm thứ báu rất khó có được.58”
Năm trăm người Lệ-xa sau khi nghe Phật khai thị, giáo huấn khiến cho lợi ích, hoan hỷ, liền bạch Phật;
“Cúi mong Thế Tôn và chúng đệ tử ngày mai nhận lời thỉnh cầu của chúng con.”
Phật nói với các người Lệ-xa:
“Các ông đã thỉnh Ta. Ta nay như thế là đã được cúng dường rồi. Kỹ nữ Am-bà-bà-lê đã thỉnh trước.”
Năm trăm người Lệ-xa nghe Am-bà-bà-lê nữ đã thỉnh Phật trước, ai nấy đều vung tay mà nói rằng:
“Chúng ta muốn cúng dường Như Lai, mà nay người đàn bà kia đã phổng tay trên ta rồi.”
Rồi họ rời chỗ ngồi, đầu mặt lễ Phật, đi quanh Phật ba vòng, sau đó ai về nhà nấy.
_______________________________
58 So sánh Tứ Phần 40, năm thứ báu khó có trong đời: 1. Gặp Phật ra đời; 2. Nghe Phật nói pháp rồi nói lại cho người khác; 3. Tin hiểu pháp của Phật; 4. Như pháp tu hành; 5. Lần lượt giáo hóa lẫn nhau để cùng được lợi ích.
Bấy giờ, Am-bà-bà-lê nữ bèn bày dọn thực phẩm thượng diệu để cúng Phật và Tăng. Sau khi ăn xong, thâu bát, dẹp bàn ghế. Rồi kỹ nữ tay bưng bình bằng vàng dâng nước rửa xong, nàng đến trước Phật bạch rằng:
“Trong số những khu vườn trong thành Tỳ-xá-ly này vườn của con là hơn hết. Nay con đem vườn ấy dâng cúng Như Lai. Ngưỡng nguyện Như Lai vì thương tưởng con mà thọ nhận.”
Phật nói với người kỹ nữ:
“Ngươi có thể đem khu vườn này cúng dường trước hết là Phật và Chiêu-đề tăng59. Vì sao vậy? Các thứ vườn tược, phòng xá, y bát, sáu vật mà Như Lai sở hữu, ngay dù những Ma, Thích, Phạm, chư Thiên có đại oai lực, không ai có khả năng kham thọ sự cúng dường ấy.”
Kỹ nữ thọ lãnh lời dạy, bèn đem khu vườn mà cúng trước tiên là Phật và Chiêu-đề tăng. Phật vì lòng từ mẫn đối với nàng nên thọ nhận. Rồi Ngài nói bài kệ:
Dựng tháp, lập tinh xá,
Cúng vườn cây mát mẻ;
Cầu thuyền để đưa người;
Và cho cả nhà, gác;
Đồng trống cho nước cỏ,
Phước ấy ngày đêm tăng;
Người đủ giới thanh tịnh,
Ắt sẽ đến chỗ lành.
Sau đó, kỹ nữ Am-bà-bà-lê mang một cái giường nhỏ đến ngồi trước Phật. Phật theo thứ lớp nói pháp, mở bày, dạy dỗ, khiến cho lợi ích, hoan hỷ. Ngài giảng về thí, về giới, về sinh thiên, về dục là đại hoạn, ô uế, bất tịnh, phiền não là chướng ngại, xuất ly là tối thượng.
Khi Thế Tôn biết tâm ý của nàng đã nhu nhuyến, hòa duyệt, các triền cái vơi mỏng, rất dễ hóa độ, như pháp của chư Phật, Ngài bèn giảng cho nàng về Khổ thánh đế, Khổ tập thánh đế, Khổ diệt thánh đế và Khổ xuất yếu thánh đế. Bấy giờ nàng Am-bà-bà-lê, tín tâm thanh
___________________________________
59 Chiêu-đề tăng招提僧, hay Tứ phương tăng四方僧; Pāli: Cātuddisa-sangha.
tịnh, như tấm lụa trắng trong sạch dễ nhuộm màu, ngay trên chỗ ngồi mà xa lìa trần cấu, con mắt pháp của các pháp sanh, thấy pháp, đắc pháp, quyết định chánh trụ, không còn đọa ác đạo, thành tựu vô úy. Nàng bèn bạch Phật:
“Con nay quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, nói ba lần như vậy. Cúi mong Như Lai nhận con làm một Ưu-bà-di trong Chánh pháp. Từ nay về sau, cho đến trọn đời không giết, không trộm, không tà dâm, không dối trá, không uống rượu.”
Người nữ ấy sau khi thọ lãnh năm giới từ Phật, xả bỏ tập quán từ trước, tiêu trừ những cấu uế, rời khỏi chỗ ngồi, lễ Phật rồi lui.
Bấy giờ, Thế Tôn tùy nghi trú ở Tỳ-xá-ly, bảo A-nan:
“Các ngươi hãy sửa soạn. Ta muốn đi đến Trúc lâm60.”
Đáp: “Kính vâng.”
Rồi sửa soạn y bát, cùng đại chúng hầu quanh Thế Tôn, đi theo con đường từ Bạt-kỳ đến Trúc lâm kia.
Lúc ấy có người Bà-la-môn tên là Tỳ-sa-đà-da61, nghe Phật cùng đại chúng đến Trúc lâm này, liền thầm nghĩ: “Sa-môn Cù-đàm này có tiếng tốt đồn khắp bốn phương, mười hiệu đầy đủ, ở giữa chư Thiên, Thích, Phạm, Ma hay Thiên ma, Sa-môn, Bà-la-môn, mà tự mình tác chứng, rồi thuyết pháp cho người khác, với những ngôn từ mà khoảng đầu, giữa và cuối thảy đều chân chánh, nghĩa vị thâm áo, phạm hạnh đầy đủ. Bậc Chân Nhân như thế, ta nên đến thăm viếng.”
Rồi Bà-la-môn ra khỏi thành, đi đến Thế Tôn chỗ rừng Trúc62; chào hỏi xong, ngồi sang một bên. Thế Tôn theo thứ lớp thuyết pháp cho ông, mở bày, chỉ dạy, khiến cho ích lợi, hoan hỷ. Nghe xong, hoan hỷ, ông bèn thỉnh Thế Tôn cùng đại chúng ngày mai đến nhà thọ thực. Phật im lặng nhận lời. Bà-la-môn biết Ngài đã nhận lời, liền đứng dậy, nhiễu quanh Phật ba vòng rồi cáo về.
Vào ngay đêm đó dọn bày các thứ ẩm thực. Sáng mai, lúc đã đến
________________________________________
60. Trúc lâm竹林. Trong bản Pāli, Phật từ vườn Ambapālī đi đến làng Beluva (Bản Deva Dig ii, tr. 79: Veḷuvagāmaka).
61. Tỳ-sa-đà-da毗沙沱耶.
62. Hán: Trúc tòng竹叢.
giờ, bèn báo tin:
“Cúi mong Đức Thánh biết là đã đến giờ.”
Bấy giờ Thế Tôn khoác y ôm bát, cùng đại chúng vây quanh, đi đến nhà kia, ngồi lên chỗ dọn sẵn. Rồi thì, Bà-la-môn dâng đủ các thực phẩm ngon cúng Phật và Tăng. Ăn xong, thâu bát, dùng nước rửa xong, ông mang một cái giường nhỏ đến ngồi trước Phật. Thế Tôn vì Bà-la-môn mà nói một bài tụng:
Nếu đem ẩm thực,
Y phục, ngọa cụ,
Cho người trì giới,
Tất được quả lớn.
Đó là bạn thật,
Chung thủy theo nhau;
Đến bất cứ đâu,
Như bóng theo hình.
Vậy nên gieo thiện,
Làm lương đời sau.
Phước là nền tảng,
Chúng sanh an trụ.
Phước là thiên hộ,
Đường đi không nguy.
Sống không gặp nạn;
Chết được sanh thiên.
Rồi Thế Tôn nói pháp vi diệu cho Bà-la-môn; mở bày, chỉ dẫn, khiến cho lợi ích, hoan hỷ. Sau đó, Ngài rời chỗ ngồi mà đi.
Lúc ấy, ở địa phương này thóc quý, đói kém, nên khất thực khó được. Phật bảo A-nan:
“Hãy gọi các Tỳ-kheo hiện ở địa phương này tập họp ở giảng đường. A-nan đáp vâng, rồi thừa lệnh Phật kêu gọi các Tỳ-kheo xa gần về tập họp hết ở giảng đường. Sau khi đại chúng trong nước này đều đã tập họp, A-nan bạch Phật:
“Đại chúng đã tập họp, cúi mong Đức Thánh biết thời.”
Bấy giờ, Phật rời chỗ ngồi, đi đến giảng đường, ngồi lên chỗ dọn sẵn, bảo các Tỳ-kheo:
“Đất này đói kém, khất thực khó khăn, các ngươi nên chia thành từng nhóm, tùy theo chỗ quen biết, hãy đến Tỳ-xá-ly và nước Việt-kỳ63 mà an cư ở đó để có thể không bị thiếu thốn. Ta một mình cùng với A-nan an cư ở đây.”
Các Tỳ-kheo vâng lời dạy, ra đi. Riêng Phật với A-nan ở lại. Về sau, trong lúc an cư, thân Phật nhuốm bệnh, khắp cả mình đều đau. Phật tự nghĩ: “Ta nay cả người đều đau mà các đệ tử đều không ở đây. Nếu Ta nhập Niết-bàn thì không thích hợp. Vậy Ta hãy tinh cần tự lực lưu lại thọ mạng”. Rồi Thế Tôn ra khỏi tịnh thất, đến ngồi chỗ mát mẻ. A-nan trông thấy liền vội đến, bạch Phật rằng:
“Nay con xem gương mặt Thế Tôn, bệnh hình như có bớt64.”
A-nan lại nói:
“Thế Tôn bệnh, tâm con sợ hãi, lo buồn thắt chặt, hoang mang không biết phương hướng. Nhưng hơi thở chưa dứt, còn chút tỉnh táo, con thầm nghĩ rằng: ‘Thế Tôn chưa diệt độ ngay, con mắt của đời chưa tắt, Đại pháp chưa suy tổn, sao nay Ngài không có điều gì dạy bảo các đệ tử?’65.” Phật bảo A-nan:
“Chúng Tăng còn có điều gì cần ở Ta nữa? Nếu có ai tự mình nói: ‘Ta duy trì chúng Tăng, ta nhiếp hộ chúng Tăng’, thì người ấy nên có lời di giáo cho chúng Tăng. Như Lai không nói: ‘Ta duy trì chúng Tăng. Ta nhiếp hộ chúng Tăng.66 Vậy tại sao Ta lại phải có lời di giáo cho chúng Tăng? Này A-nan, những pháp Ta đã giảng thuyết, trong
_________________________________
63. Việt-kỳ越祇, có lẽ âm khác của Bạt-kỳ; D. 15 sđd.: năm đó Phật an cư ở Veluvà còn chúng Tỳ-kheo an cư ở Vesāli. Không nhắc đến vụ đói, nhưng có nhắêc đến Thế Tôn bệnh.
64. Nguyên văn: tật như hữu tổn疾如有損: bịnh như có thuyên giảm. TNM: như hữu thiểu giảm如有少減: có vẻ hơi gầy (?). Tham chiếu D.15, sđd.: lúc này Thế Tôn đã khỏi bịnh.
65. Trường I, tr.583: “Thế Tôn chưa diệt độ, nếu Ngài chưa có lời di giáo lại cho chúng Tỳ-kheo”.
66. Tham chiếu Pāli, D.15 (Deva Digh ii tr.80): Tathāgatassa kho, Ananda, na evaṃ hoti: “Ahaṃ bhikkhusaṅghaṃ pariharissāmī ti và mam uddesiko bhikkhusaṅgho” ti và: Như Lai không nghĩ rằng: “Ta nhiếp hộ chúng Tỳ-kheo, hay chúng Tỳ-kheo được Ta giáo huấn”.
cũng như ngồi đều đã hoàn tất67. Ta không bao giờ tự xưng sở kiến thông đạt68. Ta nay đã già rồi, tuổi đã đến tám mươi rồi. Cũng như cỗ xe cũ kỹ, nhờ phương tiện tu sửa mà có thể đi đến nơi. Thân ta cũng vậy, nhờ sức phương tiện còn hơi duy trì được tuổi thọ, tự lực tinh tấn mà nhẫn chịu sự đau nhức này. không suy niệm tất cả tưởng, khi nhập vô tưởng định69, thân an ổn, không có não hoạn. Vì vậy, A-nan, hãy tự mình thắp sáng; thắp sáng nơi pháp, chớ thắp sáng nơi khác. Hãy tự nương tựa mình, nương tựa nơi pháp, chớ nương tựa nơi khác70. Thế nào là ‘Hãy tự mình thắp sáng, thắp sáng nơi pháp, chớ thắp sáng nơi khác; hãy tự nương tựa mình, nương tựa pháp, chớ nương tựa nơi khác’? Này A-nan, Tỳ-kheo quán nội thân, tinh cần không biếng nhác, ghi nhớ không quên, trừ bỏ tham ưu ở đời. Quán ngoại thân; quán nội ngoại thân, tinh cần không biếng nhác, ghi nhớ không quên, trừ bỏ tham ưu ở đời. Quán thọ, quán ý, quán pháp cũng vậy. Này A-nan, đó gọi là ‘Hãy tự thắp sáng, thắp
_____________________________________
67. Hán: nội ngoại dĩ ngật內外已迄. So sánh Pāli, D.15, sđd.: anantaram abàhiram karitvā: không phân biệt trong và ngồi, tức nội truyền hay ngoại truyền, bí mật giáo hay hiển thị giáo.
68. Hán: chung bất tự xưng sở kiến thông đạt終不自稱所見通達. Có thể bản Hán dịch sai. Tham chiếu Pāli; D.15, sđd.: na tatth’ Ānanda tathagatassa dhammesu ācariyamuṭṭhi: “Này A-nan, trong giáo pháp, Như Lai không bao giờ là vị thầy có Bàn tay nắm chặt”. Nghĩa là, không bao giờ giấu giếm không chịu dạy hết. Hình như bản Hán đọc nhầm ācariyamuṭṭhi: vị thầy có Bàn tay nắm chặt, với ācariyamuti: vị thầy có trí sáng suốt.
69. Vô tưởng định無想定; (Pāli: asaññāsamapatti?). Nên hiểu chính xác là vô tướng định, hay vô tướng tâm định. Vô tưởng định là một loại thiền ngoại đạo mà kinh Phật thường chỉ trích là có xu hướng hư vô chủ nghĩa. Tham chiếu Pāli, D.15, sđd.: (Trường I, tr.584): animittam cetosamādhim upasampajja, chứng đạt vô tướng tâm định.
70. Hán: đương tự xí nhiên…當自熾然. Tham chiếu, Tạp A-hàm quyển 2, kinh số 36 (Đại 2, tr. 8a): Trú ư tự châu. Trú ư tự y. Trú ư pháp châu; trú ư pháp 住於自州住於自依住於法州住於法依. Tham chiếu Pāli sđd.: attadīpā viharatha atta-saraṇā anañña-saraṇā, dhammadīpā dhamma-saraṇā anañña-saraṇnā: hãy sống tự mình là ngọn đèn (hoặc hòn đảo) của chính mình; tự mình là chỗ tựa của chính mình, không nương tựa nơi nào khác. Pháp là ngọn đèn, pháp là chỗ tựa, không chỗ tựa nào khác. Dīpa, vừa có nghĩa là ngọn đèn, vừa có nghĩa là hòn đảo.
sáng nơi pháp, chớ thắp sáng nơi khác. Hãy tự nương tựa mình, nương tựa nơi pháp, chớ nương tựa nơi khác.…’ Này A-nan, sau khi Ta diệt độ, nếu có ai có thể tu hành pháp này, người đó là đệ tử chân thật của Ta, là bậc nhất hữu học.”
Phật bảo A-nan, hãy cùng đi đến tháp Giá-bà-la71. A-nan vâng lời. Như Lai bèn đứng dậy, mang y cầm bát đến dưới một gốc cây, bảo A-nan:
“Hãy trải chỗ ngồi. Ta đau lưng, muốn nghỉ lại đây.”
An-nan đáp: “Vâng”.
Trải chỗ ngồi và sau khi Như Lai đã ngồi xuống, A-nan dọn một chỗ ngồi nhỏ ngồi trước Phật. Phật nói:
“Này A-nan, những ai tu Bốn thần túc, tu tập nhiều, thường ghi nhớ không quên, người ấy tùy theo ý muốn có thể kéo dài tuổi thọ hơn một kiếp. A-nan, Phật đã tu tập nhiều Bốn thần túc, chuyên niệm không quên, tùy theo ý muốn, Như Lai có thể sống hơn một kiếp, để trừ minh ám cho đời, đem lại nhiều lợi ích, trời và người đều được an ổn.”
Lúc bấy giờ A-nan im lặng không trả lời. Phật nói như vậy ba lần, A-nan cũng im lặng không trả lời. Khi ấy A-nan bị ma ám, mê muội không tỏ rõ. Phật đã ba lần hiện tướng, nhưng A-nan không biết mà thỉnh cầu. Phật bảo A-nan: “Hãy biết thời”. A-nan vâng ý chỉ của Phật, đứng dậy lễ Phật rồi lui. A-nan đi cách Phật không xa, ngồi dưới một gốc cây, tĩnh ý tư duy. Trong khoảng thời gian không lâu, ma Ba-tuần72 đến bạch Phật:
“Ý Phật không muốn vào Niết-bàn sớm73. Nay chính là lúc, Phật nên mau chóng diệt độ.”
Phật bảo ma Ba-tuần:
“Hãy thôi! Hãy thôi! Ta tự biết thời. Như Lai nay chưa nhập
____________________________
71. Giá-Bà-la tháp遮婆羅塔; Pāli: Cāpāla-cetiya, linh miếu, hay miếu thờ thần.
72. Ma Ba-tuần魔波旬; Pāli: Māra pāpimant, Ác ma, hay Tử thần kẻ gây tội ác, xúi người khác làm ác.
73. Nguyên văn: Phật ý vô dục khả Bát-niết-Bàn佛意無欲可般涅盤. TNM không có từ Phật. Bản Hán, câu này nghĩa không rõ rāng. Tham chiếu Pāli, D.15, sđd.: (Trường II, tr.588): parinibbātudāni bhante bhagava parinibbātu sugato parinibbānakālodāni: “Thế Tôn, nay hãy nhập Niết-Bàn. Thiện Thệ, hãy nhập Niết-Bàn; nay là thời gian Niết-Bàn”.
Niết-bàn, vì còn đợi chúng Tỳ-kheo của Ta hội đủ74. Có người có thể tự điều phục75, dũng mãnh, không khiếp sợ, đã đến chỗ an ổn, đã đạt được mục đích của mình, là hướng đạo của loài người, thuyết giảng kinh giáo, hiển bày cú nghĩa, nếu có dị luận thì có thể hàng phục bằng Chánh pháp, lại có thể bằng thần biến mà tự mình tác chứng76. Các đệ tử như thế chưa hội đủ. Lại còn có các Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, tất cả cũng như thế, đều
chưa tụ hội đủ. Nay điều cần thiết là triển khai phạm hạnh, phổ biến giác ý77, khiến cho chư Thiên và loài người thảy đều thấy được sự thần diệu78.”
Bấy giờ ma Ba-tuần lại bạch Phật:
“Thuở xưa, ở Uất-bệ-la bên dòng sông Ni-liên-thuyền, dưới gốc cây A-du-ba ni-câu- luật79, Phật khi mới thành Chánh giác, Tôi đã đến chỗ Như Lai mà khuyên mời Ngài hãy nhập Niết-bàn rằng: ‘Nay thật là đúng lúc, Ngài hãy nhanh chóng nhập Niết-bàn.’ Khi ấy Như Lai trả lời tôi rằng: ‘Hãy thôi đi, này Ba-tuần. Ta tự biết thời. Như Lai nay chưa nhập Niết-bàn, vì còn đợi đệ tử Ta tụ hội đông đủ v.v…, cho đến, chư Thiên và loài người thấy được sự thần thông biến hóa, khi ấy Ta mới nhập Niết-bàn.’ Nay chính là lúc ấy, sao Ngài không nhập Niết-bàn?”
_______________________________
74. Nguyên văn: tu ngã chư Tỳ-kheo tập須我諸比丘集. Đoạn văn tối nghĩa. Hoặc do phát âm tương cận của samuccita: tích tập, chứa nhóm và samucita: đã quen, thích hợp. Theo văn mạch đoạn này và đoạn dưới, có thể hiểu: khi nào chúng đệ tử chưa vững vàng trong Thánh đạo thì Phật chưa nhập Niết-Bàn. Tham chiếu, No. 7 (Đại I tr.191b): do vị cụ túc猶未具足, còn chưa đầy đủ.
75. Hán: hựu năng tự điều又能自調; TNM: hữu năng tự điều有能自調. Đoạn văn này thiếu mạch lạc.
76. Hán: hựu dĩ thần biến tự thân tác chứng又以神變自身作証. Tham chiếu Pāli, D. 15, sđd.: tr. 83: (…) sappāṭihāriyam dhammam dessanti, thuyết pháp bằng sự thần diệu (bằng sự thần biến).
77. Giác ý, hay giác chi, bồ-đề phần (Pāli: bojjaṅga); Hán: quảng ư phạm hạnh, diễn bố giác ý廣於梵行演布覺意, nghĩa không rõ.
78. Tham chiếu Pāli, D.15, sđd.: tr. 83: “yāva me idam brahmacariyam na iddham ceva bhaviassati phītanca vitthārikam Bàhujaññam puthubhūtam yāva devamanussehi suppakāsitan’ ti”, chừng nào phạm hạnh này chưa được thành tựu, phồn thònh, quảng bá… được khéo giảng dạy cho chư Thiên và loài người. Xem Trường I, tr.591.
79. Uất-bệ-la鬱鞞羅, Uruvelā; Ni-liên-thuyền尼連船: Nerañjara; A-du-ba ni-câu-luật阿遊波尼拒律: Ajapāla-nigrodha.
Phật nói:
“Hãy thôi đi, này Ba-tuần. Phật tự biết thời. Ta không trụ thế bao lâu nữa. Sau ba tháng nữa, tại bản sanh địa Câu-thi-na-kiệt80, vườn Sa-la, giữa đôi cây, Ta sẽ diệt độ.”
Lúc ấy, ma Ba-tuần nghĩ rằng Phật tất không nói dối, nhất định sẽ diệt độ, bèn vui mừng phấn khởi, hốt nhiên biến mất. Ma đi chưa bao lâu, Phật ở nơi tháp Giá-bà-la, bằng định ý tam-muội, xả thọ hành. Ngay lúc đó, đại địa chấn động. Nhân dân cả nước81 thảy đều kinh sợ, lông tóc dựng ngược. Phật phóng ánh sáng rọi suốt vô cùng, nơi chỗ tối tăm cũng được soi sáng, thảy đều trông thấy nhau. Bấy giờ Thế Tôn nói kệ tụng rằng:
Trong hai hành hữu vô,
Ta nay xả hữu vi.82
Nội chuyên Tam-muội định
Như chim ra khỏi trứng.
Lúc bấy giờ Hiền giả A-nan tâm kinh sợ, lông tóc dựng ngược, vội vàng đi đến chỗ Phật, đầu mặt lễ chân Phật rồi đứng sang một bên, bạch Phật:
“Lạ thay, Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà đất rung động?”
Phật bảo A-nan:
“Ở đời, có tám nguyên nhân khiến đất rung động. Những gì là tám? Đất y trên nước. Nước y trên gió. Gió y trên hư không. Trong hư không có ngọn gió lớn có khi tự nổi lên, khi ấy khối lớn nước bị khuấy động. Khối nước lớn bị khấy động thì khắp cả đất rung động. Đó là nguyên nhân thứ nhất.
“Lại nữa, này A-nan, có khi có Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni đắc đạo, hoặc Tôn thiên đại thần quán thể tánh nước nhiều, quán thể tánh đất ít, muốn tự thử năng lực của mình, khi ấy khắp cõi đất rung động.
___________________________________
80. Bản sanh xứ本生處; Pāli, sđd.: Upavattana-Mallānaṃ, tức Lực sĩ bản sanh xứ, sinh đọa của chủng tộc Malla. Câu-thi-na-kiệt拘尸那竭; Pāli: Kusinagara.
81. Đoạn sau có lặp lại, nhưng nói chư Thiên và loài người.
82. D. 15, sđd.: tulam atualañca sambhavam bhavasaṅkhāram avissaji muni, “Đức Muni đã xả bỏ nhân tố của tồn tại, vốn là sự sinh khởi hữu hạn và vô hạn”. Liên hệ các từ hữu hành, vô hành, hữu vi trong bản Hán với các từ sambhava, bhavasankhāra trong bản Pāli.
Đó là nguyên nhân thứ hai.
“Lại nữa, này A-nan, khi Bồ-tát từ trời Đâu-suất giáng thần vào thai mẹ, chuyên niệm không tán loạn, khi ấy khắp cõi đất rung động. Đó là nguyên nhân thứ ba.
“Lại nữa, A-nan, khi Bồ-tát ra khỏi thai mẹ, sanh từ hông phải, chuyên niệm không tán loạn, khi ấy khắp cõi đất rung động. Đó là nguyên nhân thứ tư.
“Lại nữa, A-nan, khi Bồ-tát vừa thành Vô thượng chánh giác, ngay lúc ấy khắp cõi đất rung động. Đó là nguyên nhân thứ năm.
“Lại nữa, A-nan, khi Phật vừa thành đạo chuyển Vô thượng pháp luân mà Ma hoặc Thiên ma, Sa-môn, Bà-la-môn thảy đều không thể chuyển, khi ấy khắp cõi đất rung động. Đó là nguyên nhân thứ sáu.
“Lại nữa, A-nan, khi sự giáo giới của Phật gần hoàn tất, chuyên tâm không tán loạn, Phật xả bỏ thọ hành, khi đó khắp cõi đất rung động. Đó là nguyên nhân thứ bảy.
“Lại nữa, này A-nan, khi Như Lai ở nơi Vô dư Niết-bàn mà nhập Niết-bàn, khi ấy khắp cõi đất rung động. Đó là nguyên nhân thứ tám.
“Do tám nguyên nhân ấy mà đất rung động.”
Rồi Thế Tôn nói bài kệ:
Đấng Lưỡng Túc Tối Tôn,
Đại Sa-môn soi sáng đời,
Được A-nan thưa hỏi:
Nguyên nhân gì đất rung?
Như Lai diễn từ âm,
Tiếng như chim Ca-lăng:
“Ta nói, hãy lắng nghe,
Nguyên do đất rung động.
Đất nhân y trên nước,
Nước nhân y trên gió.
Nếu gió trổi hư không,
Đất vì thế rung mạnh.
Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni
Muốn thử thần thông lực,
Núi, biển, trăm cây cỏ,
Cõi đất thảy rung động.
Thích, Phạm, các Tôn thiên,
Ý muốn đất rung động,
Núi biển các Quỷ thần,
Cõi đất thảy rung động.
Bồ-tát, Lưỡng Túc Tôn,
Trăm phước tướng đã đủ,
Khi mới nhập thai mẹ,
Khi ấy đất rung động.
Mười tháng trong thai mẹ,
Như rồng nằm thảm đệm;
Từ hông hữu xuất sanh,
Khi ấy đất rung động.
Phật khi còn trai trẻ
Tiêu diệt dây kết sử,
Thành đạo Thắng vô thượng;
Khi ấy đất rung động.
Thành Phật, chuyển Pháp luân,
Ở trong vườn Lộc dã;
Đạo lực hàng phục ma,
Khi ấy đất rung động.
Thiên ma nhiều phen thỉnh,
Khuyên Phật nhập Niết-bàn;
Khi Phật xả thọ mạng,
Khi ấy đất rung động.
Đại Đạo Sư, Chí Tôn,
Thần Tiên, không tái sanh,
Vào tịch diệt, bất động;
Khi ấy đất rung động.
Tịnh nhãn, nói các duyên,
Đất rung vì tám sự.
Do đây và khác nữa,
Khi ấy đất rung động”.