Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 1 - Bộ A- Hàm I - Kinh Trường A- Hàm Số 1

Đại Tập 1 - Bộ A- Hàm I - Kinh Trường A- Hàm Số 1

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 1030.

Chương 23: 21. Kinh Phạm Động (Trang 417 - 444)

21. KINH PHẠM ĐỘNG1
   Tôi nghe như vầy:
    Một thời, Phật du hành đến nước Ma-kiệt2, cùng chúng Đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người3, du hành nhân gian, đến Trúc lâm4, nghỉ đêm tại vương đường5.
    Lúc bấy giờ có vị Phạm chí6 tên là Thiện Niệm và đệ tử tên là Phạm-ma-đạt7; hai thầy trị thường cùng đi theo sau Phật, mà Phạm chí Thiện Niệm thì dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, Pháp và Tỳ-kheo Tăng, đệ tử Phạm-ma-đạt thì bằng vô số phương tiện tán thán Phật, Pháp và Tỳ-kheo Tăng. Hai thầy trị mỗi người một tâm tư, mâu thuẫn chống trái  nhau. Vì sao vậy? Ấy là do xu hướng dị biệt, kiến giải dị biệt, thân cận dị biệt8.
________________________________
1 . Bản Hán, Phật Thuyết Trường A-hàm kinh, quyển 14, “Đệ tam phần, Phạm Động kinh Đệ nhị”, Đại I, tr.88b-94a. Tham chiếu No.21 Phật Thuyết Phạm Võng Lục Thập Nhị Kiến kinh, Ngô Chi Khiêm dịch Đại I, tr.264. Tương đương Pāli: D.1, Deva Dig i.1 Brahmajāla-sutta; Trường I, “kinh Phạm Võng”. Bản Hán: Phạm Động, có thể do đọc Brahmacala, thay vì Brahmajala.
2.Ma-kiệt, hay Ma-kiệt-đà摩竭陀; Pāli: Magadha.
3.D. 1, sđd.: năm trăm người.
4. Tống, Nguyên, Minh: Trúc thôn竹村; No.1: Phật du hành từ nước Câu-lưu拘留(Pāli:
Kuru) đến Xá-vệ舍衛(Pāli: Savatthi), nghỉ tại vườn Cấp cơ độc級孤獨. D.1, sđd.: trên con đường giữa Rājagaha (thủ phủ của Magadha) và Nālandā.
5. Hán: tại vương đường thượng在王堂上; Pāli: Ambalaṭṭhikāyam rājārake, tại  Ambalatthikā, trong nhà nghỉ mát của vua.
6. Phạm chí梵志; Pāli: paribbājaka.
7. Thiện Niệm善念; Pāli: Suppiya, Phạm-ma-đạt梵摩達; Pāli: Brahmadatta. No.21, hai thầy trị Tu tỳ須毗và Phạm-đạt ma-nạp梵達摩納(Brahmadattamanava).
8. Hán: dị tập, dị kiến, dị thân cận異習異見異親近.

 
    Bấy giờ, số đông Tỳ-kheo sau khi khất thực về9 nhóm tại giảng đường bàn câu chuyện như sau:
    “Kỳ diệu thay, hy hữu thay, Thế Tôn có đại thần lực, đầy đủ oai đức, biết hết mọi xu hướng của chúng sanh. Nhưng nay có hai thầy trị Thiện Niệm cùng đi theo sau Phật và chúng Tăng, mà Phạm chí Thiện Niệm thì dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, Pháp và Tỳ-kheo Tăng. Đệ tử Phạm-ma-đạt thì bằng vô số phương tiện tán thán Phật, Pháp và Tỳ-kheo Tăng. Hai thầy trị mỗi người một tâm tư, mâu thuẫn chống trái nhau vì do xu hướng dị biệt,
kiến giải dị biệt, thân cận dị biệt vậy.”
     Bấy giờ, Thế Tôn đang ở trong tịnh thất, bằng thiên nhĩ thanh tịnh quá hơn người thường, nghe các Tỳ-kheo đang luận bàn như thế, liền rời khỏi tịnh thất đi đến giảng đường, ngồi trước đại chúng. Tuy đã biết Ngài vẫn hỏi:
     “Này các Tỳ-kheo! Do nhân duyên gì mà các ông nhóm lại đây và đang bàn luận câu chuyện gì?”
     Các Tỳ-kheo bạch Phật:
    “Chúng con sau khi khất thực về, tập họp ở giảng đường này và cùng bàn luận như vầy: ‘Kỳ diệu thay, hy hữu thay, Thế Tôn có đại thần lực, đầy đủ oai đức, biết hết mọi xu hướng của chúng sanh. Nhưng nay có hai thầy trị Thiện Niệm cùng đi theo sau Phật và chúng Tăng, mà Phạm chí Thiện Niệm thì dùng vô số phương tiện hủy báng Phật, Pháp và Tỳ-kheo Tăng. Đệ tử Phạm-ma-đạt thì bằng vô số phương tiện tán than Phật, Pháp và Tỳ-kheo Tăng. Hai thầy trị mỗi người một tâm tư, mâu thuẫn chống trái nhau vì do xu hướng dị biệt, kiến giải dị biệt, thân cận dị biệt vậy’.”
     Thế Tôn bèn nói với các Tỳ-kheo:
     “Này các Tỳ-kheo, nếu có ai dùng phương tiện hủy báng Như Lai, hủy báng Chánh pháp và chúng Tăng, các ngươi  không nên ôm lòng phẫn nộ, có ý nghĩ ác hại đối với người ấy10. Vì sao vậy? Vì nếu có ai dùng phương tiện hủy báng Như Lai, hủy báng Chánh pháp và chúng Tăng mà các ngươi ôm lòng phẫn nộ, có ý nghĩ ác hại đối với
______________________________________
9. D.1: rattiyā paccūsasamayaṃ, “khi đêm vừa tàn…”
10. Pāli: na āghāto na appaccayo na cetoso anabhiraddhi, không đau lòng, không buồn giận, tâm không phẫn nộ.

 
 người ấy11 thì tự các ngươi đã tự hãm nịch12 rồi. Vì vậy các ngươi  không nên ôm lòng oán giận hay có ý nghĩ ác hại đối với người ấy.
      “Này các Tỳ-kheo, nếu có ai khen ngợi Phật, Pháp và chúng Tăng, các ngươi cũng vội chớ lấy điều đó làm vui mừng, hãnh diện. Vì sao vậy? Vì nếu các ngươi sinh tâm vui mừng là đã bị hãm nịch rồi. Do đó các ngươi  không nên vui mừng. Tại sao thế? Vì đó chỉ là duyên cớ nhỏ nhặt về oai nghi giới hạnh13, mà hàng phàm phu ít học,  không thấu rõ thâm nghĩa, chỉ bằng vào sở kiến để tán thán một cách chân thật.
        “Thế nào là duyên cớ nhỏ nhặt về oai nghi giới hạnh, mà hàng phàm phu ít học,  không thấu rõ thâm nghĩa, chỉ bằng vào sở kiến để tán thán một cách chân thật?
        “Người ấy tán thán rằng14 Sa-môn Cù-đàm đã bỏ nghiệp sát, dứt nghiệp sát, xả bỏ dao gậy, có tàm quý, có tâm thương xót hết thảy. Đó chỉ là duyên cớ nhỏ nhặt về oai nghi giới hạnh mà hàng phàm phu ít học dựa lấy để tán thán Như Lai.
        “Lại tán thán rằng: Sa-môn Cù-đàm đã bỏ sự lấy của  không cho, dứt trừ sự lấy của  không cho,  không có tâm trộm cắp.
        “Sa-môn Cù-đàm đã dứt bỏ sự dâm dục, tịnh tu phạm hạnh, một mực giữ giới,  không tập thói dâm dật, sở hành tinh khiết.
       “Sa-môn Cù-đàm đã dứt bỏ nói dối, mà nói lời nói chí thành, nói điều chân thật,  không dối gạt người đời.
       “Sa-môn Cù-đàm đã dứt bỏ nói hai lưỡi,  không đem lời người này đến phá rối người kia, đem lời người kia đến phá rối người này, gặp kẻ tranh tụng làm cho hòa hợp, kẻ đã hòa hợp làm cho vui thêm, nói ra lời gì cũng cốt đem đến sự hòa hợp, thành thật đưa vào lòng người và nói phải lúc.
       “Sa-môn Cù-đàm đã dứt bỏ ác khẩu. Nếu có lời thô lỗ, thương tổn đến người, tăng thêm mối hận, kéo dài mối thù; những lời như vậy
____________________________________
11. Pāli: kupitā vā anattamanāvà, tức tối hay bất mãn.
12. Pāli: tumhaṃ yev’ assa tena antarāyo, như vậy sẽ là sự chướng ngại cho các ngươi.
13. Pāli: appamatakaṃ kho pan’ etaṃ oramattakaṃ sīlamattakaṃ, cái đó chỉ thuộc về giới luật, nhỏ nhặt, không quan trọng.
14. Từ đây trở xuống cho hết phần về giới, nội dung đồng nhất với kinh “A-ma-trú”, nhưng văn dịch nhiều chỗ bất nhất.

 
đều  không nói. Thường nói lời hay, đẹp lòng người, ai cũng ưa, nghe  không chán. Chỉ nói những lời như vậy.
     “Sa-môn Cù-đàm đã dứt bỏ nói thêu dệt15, chỉ nói phải lúc, nói thành thật, nói có lợi, nói đúng pháp đúng luật, nói để ngăn ngừa sai quấy.
“Sa-môn Cù-đàm đã dứt bỏ uống rượu;  không trang sức hương hoa16;  không xem ca múa;  không ngồi giường cao;  không ăn phi thời;  không cầm vàng bạc;  không chứa vợ con, tớ trai, tớ gái;  không nuôi heo ngựa, voi, dê, gà, chó và các thứ chim muông;  không chứa binh voi, binh ngựa, binh xe, binh bộ;  không chứa ruộng nhà, gieo trồng ngũ cốc;  không nắm quyền đánh đấm với người;  không dùng cân đấu lường gạt;  không mua bán, khoán ước, giao kèo;  không cho vay cầm đồ lấy lãi bất chánh17. Cũng  không âm mưu, trước mặt khác sau lưng khác; phi thời  không đi; để nuôi sống thân, lường bụng mà ăn; đi đến chỗ nào thì y bát mang theo như chim  không lìa hai cánh. Nhưng đó cũng chỉ là nhân duyên nhỏ nhặt về sự trì giới mà hàng phàm phu ít học nương lấy để tán thán Như Lai.
         “Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác dầu đã nhận của tín thí vẫn tìm cách tích trữ; y phục, ẩm thực  không hề biết chán. Sa-môn Cù-đàm  không như vậy.
         “Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của người tín thí, nhưng vẫn kinh doanh sinh kế, trồng cây, gieo giống18. Còn Sa-môn Cù-đàm  không có việc đó.
          “Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của người tín thí nhưng vẫn tìm phương tiện mong cầu lợi dưỡng, chứa ngà voi tạp bảo, ghế giường cao rộng, thảm thêu, đệm bông, chăn len các thứ thêu thùa. Sa-môn Cù-đàm  không có việc ấy.
__________________________________
15. Ỷ ngữ綺語, hay tạp uế ngữ雜穢語; Pāli: samphappāla, lời nói phù phiếm.
16. Bất trước hương hoa不著香花; D.1: Màlà-gandha-vilepana-dhàraṇa-maṇḍana-vibhūsana-ṭṭhānā  paṭivirato, không trang sức, tô điểm, đeo mang tràng hoa, hương liệu.
17. Hán: khoán ước đoan đương, … thọ thủ để trái, hoạnh sanh vô đoan券約斷當…受取觝債. A-ma-trú: bất để trái, bất vu võng不觝債不誣網.
18. Hán: chủng thực thọ mộc quỷ thần sở y種植樹木鬼神所依, trồng các thứ cây cối có quỷ thần ở. Dịch nghĩa đen của từ Pāli: bhūta-gāma (Skt.: bhūta-grama), thôn xóm quỷ thần; nghĩa thực chỉ các loại cây cối.

 
       “Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của người tín thí nhưng vẫn tìm phương tiện để trang sức, dùng dầu mỡ xoa mình, nước thơm tắm gội, bột thơm xông ướp, chải đầu thơm láng, hoặc mang tràng hoa đẹp, nhuộm mắt xanh biếc, tô điểm mặt mày, xâu bông tai, soi gương, mang dép da quý, mặc áo trắng mịn, che dù, cầm phất lộng, trang sức cờ hiệu, còn Sa-môn Cù-đàm  không có các việc đó.
      “Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác chuyện trị du hí, chơi cờ đánh bạc, cờ tám đường, mười đường cho đến trăm ngàn đường, đủ các trị chơi. Sa-môn Cù-đàm  không như vậy.
       “Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của người tín thí, nhưng vẫn nói lời vô ích chướng ngại đạo19, hoặc bàn việc vua chúa, quân mã, chiến đấu, việc quân liêu đại thần, xe ngựa ra vào, dạo chơi vườn quán và luận việc nữ nhân, nằm ngồi đi đứng, việc y phục, ăn uống, thân thích; lại nói chuyện vào biển tìm châu báu. Sa-môn Cù-đàm  không có các việc đó.
        “Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy đã nhận thức ăn của tín thí, bằng vô số phương tiện, làm điều tà mạng, chuốt lời dua nịnh, gợi ý, chê bai20, lấy lợi cầu lợi. Sa-môn Cù-đàm  không có các việc đó.
        “Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của người tín thí, nhưng cùng nhau tranh cãi, hoặc nơi vườn quán, hoặc ở ao tắm, trong nhà, thị phi lẫn nhau, rằng: ‘Ta biết kinh luật. ngươi  không biết gì; ta đi đường chánh, ngươi đi đường tà, đem trước để sau, lấy sau để trước; ta nhẫn ngươi được, ngươi  không nhẫn được; ngươi nói điều gì đều  không chánh đáng; nếu có nghi ngờ hãy đến hỏi ta, ta đáp cho cả.’ Sa-môn Cù-đàm  không có các việc đó.
        “Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy đã ăn của tín thí, nhưng tìm đủ phương tiện làm thông sứ cho vua, đại thần, Bà-la-môn, cư sĩ; đi từ đây đến kia, từ kia đến đây; đem tin qua lại, hoặc tự làm, hoặc dạy người làm. Sa-môn Cù-đàm  không có các việc đó.
        “Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy đã ăn của tín thí, nhưng lo luyện tập chiến trận, đấu tranh, đao gậy cung tên, chọi gà, chó, heo,
____________________________________
19. Hán: vô ích giá đạo chi ngôn無益遮道之言; Pāli: tiracchāna-katham, súc sanh luận, chuyện thú vật, chuyện vô ích, không ích lợi cho sự tu đạo.
20. Hán: hiện tướng hủy thụ現相毀呰; Pāli: nemittikā ca nippesikā.

 
 dê, voi, ngựa, trâu, lạc đà. Hoặc đấu tài trai gái, hoặc luyện các thứ tiếng, tiếng thổi, tiếng trống, tiếng ca, tiếng múa, luyện các trị kỹ thuật, leo cột phướn, leo xuôi leo ngược. Sa-môn Cù-đàm  không có các việc đó.
        “Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của tín thí, nhưng hành pháp chướng ngại đạo, nuôi sống bằng cách tà vạy, như xem tướng trai gái tốt xấu lành dữ, xem tướng súc sinh, để cầu lợi dưỡng. Sa-môn Cù-đàm  không có các việc đó.
       “Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của người tín thí, nhưng hành pháp chướng ngại đạo, nuôi sống bằng cách tà vạy, như kêu gọi quỷ thần, hoặc lại đuổi đi, các thứ ếm đảo, vô số phương đạo, làm người khiếp sợ; có thể tụ, có thể tán; có thể làm cho khổ, có thể làm cho vui; có thể an thai, trục thai; hoặc phù chú người ta hóa làm lừa, ngựa; có thể khiến người điếc, đui, câm, ngọng; hiện các kỹ thuật; hoặc chắp tay hướng về mặt trời, mặt trăng; hành các khổ hạnh để cầu lợi dưỡng. Sa-môn Cù-đàm  không có các việc đó.
       “Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của người tín thí, nhưng hành pháp chướng ngại đạo, nuôi sống bằng cách tà vạy; hoặc vì người mà chú đảo bệnh tật, đọc ác thuật, tụng thiện chú; làm thuốc thang, châm chích, trị liệu bệnh tật. Sa-môn Cù-đàm  không có việc đó.
“Như các Sa-môn, Bà-la-môn tuy ăn của người tín thí, nhưng hành pháp chướng ngại đạo21, sinh hoạt bằng tà mạng: hoặc chú22 nước lửa, hoặc chú quỷ thần23, hoặc chú Sát- lỵ, hoặc chú voi, hoặc chú chân tay24, hoặc bùa chú an nhà cửa; hoặc giải chú lửa cháy, chuột gặm; hoặc đọc sách đoán việc sống chết; hoặc đọc sách giải mộng; hoặc xem tướng tay, tướng mặt; hoặc đọc sách thiên văn; hoặc đọc sách hết thảy âm. Sa-môn Cù-đàm  không có những việc ấy.
       “Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của người tín thí, hành
_____________________________________
21. Hán: hành giá đạo pháp行遮道法; Pāli: tiracchāna-vijjāya, bằng học thuật vô ích (súc sanh minh).
22. Các khoa chú được kể; Pāli: vijjā, Skt.: vidya, môn học, ngành học; cũng có nghĩa chú thuật (minh chú).
23. Quỷ thần chú鬼神咒; Pāli: bhūta-vijja, môn học liên quan đến quỷ thần; ma thuật.
24. Hán: chi tiết chú支節咒; Pāli: aṅga-vijja, khoa học về chân tay, xem tướng chân tay.

 
pháp chướng ngại đạo, sinh hoạt bằng tà mạng: xem tướng thiên thời, nói có mưa hay  không  mưa, thóc quý hay thóc rẻ, nhiều bệnh hay ít bệnh, kinh sợ hay an ổn; hoặc dự đoán động đất, sao chổi, nhật thực, nguyệt thực, tinh tú thực, hay  không thực, phương vị ở  đâu25; thảy đều ghi nhận cả. Sa-môn Cù-đàm  không có các việc ấy.
      “Như các Sa-môn, Bà-la-môn khác tuy ăn của người tín thí, nhưng hành pháp chướng ngại đạo, sinh hoạt bằng tà mạng: hoặc nói nước này sẽ thắng, hoặc nói nước này chẳng bằng; xem tướng tốt xấu, bàn chuyện thịnh suy. Sa-môn Cù-đàm  không có việc ấy.
      “Các Tỳ-kheo, đấy chỉ là nhân duyên trì giới nhỏ nhặt, mà phàm phu ít học kia dựa vào để khen Phật.”
       Phật bảo các Tỳ-kheo:
      “Lại còn có pháp khác, là ánh sáng của đại pháp sâu xa vi diệu, duy chỉ đệ tử Hiền thánh mới có thể tán thán Như Lai bằng pháp này. Thế nào là pháp đại quang minh, mà đệ tử Hiền thánh tán thán Như Lai? Có các Sa-môn, Bà-la-môn, y vào bổn kiếp bổn kiến26, mạt kiếp mạt kiến27, mà tùy ý lập thuyết với vô số trường hợp khác nhau28. Tất cả được tóm thâu vào trong sáu mươi hai kiến. Bổn kiếp bổn kiến, mạt kiếp mạt kiến, với vô số trường hợp khác nhau, tùy ý lập thuyết,  không thể vượt ra ngồi sáu mươi hai kiến. Các Sa-môn, Bà-la-môn kia, do duyên gì, y vào bổn kiếp bổn kiến, mạt kiếp mạt kiến, mà tùy ý lập thuyết với vô số trường hợp khác nhau; tất cả được tóm thâu vào trong sáu mươi hai kiến; chỉ chừng ấy,  không hơn?
       “Các Sa-môn, Bà-la-môn, y bổn kiếp bổn kiến, với vô số trường hợp khác nhau, mỗi người tùy ý lập thuyết; tất cả được thâu tóm trong
____________________________________
25. Phương diện sở tại方面所在. Chưa xác định nghĩa. Gần tương đương Pāli: disā-ḍāha, lửa cháy ở các phương.
26. Bổn kiếp bổn kiến本劫本見, quan điểm về khởi nguyên của thế giới dựa kiếp quá khứ, nguyên thuỷ sáng thế luận; Pāli: pubbantakappikā pubbantādiṭṭhino.
27. Mạt kiếp mạt kiến末劫末見, thế mạt luận; Pāli: aparanta-kappikā aparanta-diṭṭhiṃ.
28. Chủng chủng vô số, tùy ý sở thuyết種種無數隨意所說; Pāli: pubbantaṃ ārabbha anekavihitāni adhivutti-padāni abhivadanti, họ tuyên bố nhiều hư thuyết khác nhau liên quan đến quá khứ; Pāli: adhivutti-pada, lập thuyết phù phiếm; gần nghĩa với Hán dịch: tùy ý sở thuyết.

 
 mười tám trường hợp29. Các Sa-môn, Bà-la-môn ấy do duyên gì, y bổn kiếp bổn kiến, với vô số trường hợp khác nhau, tùy ý lập thuyết, tất cả được thâu tóm trong mười tám trường hợp; chừng ấy  không hơn?
     “Những Sa-môn, Bà-la-môn nào y bổn kiến khởi thường trú luận30, nói rằng: ‘Bản ngã và thế giới thường tồn.’31 Tất cả thuyết này được thâu tóm vào trong bốn trường hợp. Y bổn kiếp bổn kiến mà nói: ‘Bản ngã và thế giới thường tồn’, tất cả được thâu tóm vào trong bốn trường hợp; chừng ấy  không hơn.
      “Các Sa-môn, Bà-la-môn kia do duyên gì, y bổn kiếp bổn kiến, khởi thường trú luận, nói rằng, ‘bản ngã và thế giới thường tồn’, tất cả được thâu tóm trong bốn trường hợp, chừng ấy  không hơn?
       “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, bằng vô số phương tiện, nhập định ý tam-muội32, rồi bằng tam-muội tâm33, nhớ lại hai mươi thành kiếp và hoại kiếp34. Vị ấy bèn nói như vầy: ‘Bản ngã và thế gian thường tồn. Đây là thật, ngoài ra là dối. Vì sao? Tôi bằng vô số phương tiện, nhập định ý tam-muội, rồi bằng tam-muội tâm, nhớ lại hai mươi thành kiếp và hoại kiếp. Trong đó, chúng sanh  không tăng,  không giảm, thường trụ,  không tán35.Tôi vì thế mà biết, ‘bản ngã và thế gian thường tồn.’ Đó là trường hợp điểm thứ nhất. Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó y bổn kiếp bổn kiến chủ trương bản ngã và thế giới thường trú, thuộc trong bốn quan điểm, chừng ấy  không hơn.
__________________________________
29. Hán: kiến見; Pāli: vatthu, sự vật, cơ sở.
30. Hán: thường luận常論; Pāli: sassata-vàdā (Skt.: zāzvata-vàdā).
31. Hán: ngã cập thế gian thường tồn我及世間常存; Pāli: sassataṃ attāñ ca lokañ ca.
32. Hán: nhập định ý tam muội入定意三昧; Pāli: ceto-samàdhiṃ phusati, nhập vào trạng thái tập trung của tâm.
33. Hán: dĩ tam muội tâm以三昧心; Pāli: yathà samàhite citte, trong khi tâm được tập trung như thế.
 34. Thành kiếp bại kiếp成劫敗劫(hoại kiếp), các thời kỳ sáng thế và tận thế (Pāli: saṃvaṭṭa-vivaṭṭa, Skt.: saṃvfta-vivfta), tính theo đơn vị thời gian vũ trụ gọi là kiếp (Pāli: kappa, Skt.: kalp).
35. Tham chiếu Pāli: So evaṃ āha: “Sassato attā ca loko ca vañjho kūṭaṭṭho esikaṭṭhāyiṭṭhito, te ca sattā sandhāvanti saṃsaranti cavanti upapajjanti, atthi tveva sassatisamaṃ…” Vị ấy nói: “Bản ngã và thế giới là vĩnh hằng, không sinh sản (như thạch nữ), đứng thẳng, bất động như trụ đá. Các chúng sanh trong đó lưu chuyển, luân hồi, chết rồi tái sanh, tuy nhiên chúng vẫn thường tồn.”

 
      “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, bằng vô số phương tiện, nhập định ý tam-muội, rồi bằng tam-muội tâm, nhớ lại bốn mươi thành kiếp và hoại kiếp. Vị ấy bèn nói như vầy: ‘Bản ngã và thế gian thường tồn. Đây là thật, ngồi ra là dối. Vì sao? Tôi bằng vô số phương tiện, nhập định ý tam-muội, rồi bằng tam-muội tâm, nhớ lại bốn mươi thành kiếp và hoại kiếp. Trong đó, chúng sanh  không tăng,  không giảm, thường tụ,  không tán. Tôi vì thế mà biết, ‘bản ngã và thế gian thường tồn.’ Đó là trường hợp điểm thứ hai. Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó y bổn kiếp bổn kiến chủ trương bản ngã và thế giới thường trú, thuộc trong bốn trường hợp, chừng ấy  không hơn.
        “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, bằng vô số phương tiện, nhập định ý tam-muội, rồi bằng tam-muội tâm, nhớ lại tám mươi thành kiếp và hoại kiếp36. Vị ấy bèn nói như vầy: ‘Bản ngã và thế gian thường tồn. Đây là thật, ngoài ra là dối. Vì sao? Tôi bằng vô số phương tiện, nhập định ý tam-muội, rồi bằng tam-muội tâm, nhớ lại tám mươi thành kiếp và hoại kiếp. Trong đó, chúng sanh  không tăng,  không giảm, thường tụ,  không tán. Tôi vì thế mà
biết, ‘bản ngã và thế gian thường tồn.’ Đó là quan điểm thứ hai. Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó y bổn kiếp bổn kiến chủ trương bản ngã và thế giới thường trú, thuộc trong bốn trường hợp, chừng ấy  không hơn.
         “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, là người có trí tuệ nhạy bén, có năng lực quán sát khéo37 và bằng trí tuệ nhạy bén ấy, phương tiện quán sát, nghĩa là suy xét kỹ, rồi bằng những điều mà mình đã thấy và bằng tài biện thuyết của mình, tuyên bố rằng: ‘Bản ngã và thế gian thường tồn.’ Đó là quan điểm thứ tư. Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó đối với bổn kiếp bổn kiến chủ trương ‘bản ngã và thế gian thường tồn’, thuộc trong bốn trường hợp, chừng ấy  không hơn.
          “Duy chỉ Như Lai biết rõ những cơ sở quan điểm này38 được nắm bắt như vậy, được giữ chặt như vậy và cũng biết sẽ có báo
________________________________
36. Trong bản Pāli: 1. Nhớ từ một đời cho đến trăm nghìn đời; 2. Nhớ từ một cho đến mười thành kiếp hoại kiếp; 3. Nhớ cho đến bốn mươi thành kiếp hoại kiếp.
37. Hán: hữu tiệp tật tướng trí, thiện năng quán sát有捷疾相智,善能觀察; Pāli: takkī hoti vīmaṃsī hoti, nhà suy luận, nhà thẩm sát.
38. Kiến xứ見處; Pāli: diṭṭhiṭṭhānā, luận điểm tư tưởng.

 
ứng như vậy. Sở tri của Như Lai vượt qua những thứ ấy. Tuy biết nhưng  không bị dính mắc. Do  không bị dính mắc nên được tịch diệt39; biết sự tập khởi của thọ; biết sự diệt tận, vị ngọt, sự tai hại và sự xuất yếu của thọ40, do bình đẳng quán mà được vô dư giải thoát, vì vậy được gọi là Như Lai41.
     “Đó gọi là, còn có pháp khác, là ánh sáng của đại pháp sâu xa vi diệu, để cho đệ tử Hiền thánh có thể tán thán Như Lai một cách chôn thật, bình đẳng.
       “Lại còn có pháp khác, là ánh sáng của đại pháp sâu xa vi diệu, để cho đệ tử Hiền thánh có thể tán thán Như Lai một cách chơn thật, bình đẳng42. Đó là pháp gì?
       “Một số Sa-môn, Bà-la-môn y bổn kiếp bổn kiến đề lên luận thuyết rằng ‘Bản ngã và thế gian, một nửa thường và một nửa vô thường.43’ Các Sa-môn, Bà-la-môn nào nhân đó đối với bổn kiếp bổn kiến chủ trương bản ngã và thế gian một nửa thường và một nửa vô thường, đều thuộc trong bốn trường hợp này; chừng ấy  không hơn.
        “Hoặc có một thời gian, kiếp này bắt đầu thành tựu44. Một số chúng sanh khác phước hết, mạng dứt, hành dứt, từ trời Quang âm45
__________________________________
39. Pāli: aparāmasato c’ assa paccattaṃ yeva nibbuti viditā, do không thủ trước nên nội tâm tịch tĩnh.
40. Hán: tri thọ tập, diệt, vị, quá hoạn, xuất yếu知受集滅味過患出要; Pāli: vedanānaṃ ca samudayañ ca aṭṭhagamañ ca assādañ ca ādīnavañ ca nissaraṇañ ca yathà-bhūtaṃ viditvà, biết một cách như thật sự tập khởi, sự hủy diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự thoát ly của thọ.
41. Hán: dĩ bình đẳng quán vô dư giải thoát cố danh Như Lai以平等觀無餘解脫故名如來;
Pāli: anupādā vimutto… Tathāgato, Như Lai được giải thoát vô dư; giải thoát không còn chấp thủ (như lửa tắt hoàn toàn không còn nhiên liệu).
42. Chơn thật bình đẳng真實平等; Pāli: yathàbhuccaṃ sammà. Bản Hán đọc là sama, ngang bằng, thay vì sammà, một cách chơn chánh.
43. Hán: bán thường bán vô thường半常半無常; Pāli: ekaccaṃ sassataṃ ekaccaṃ asassataṃ, một bộ phận thường, một bộ phận không thường.
44. Đối chiếu Pāli, Dig i. 1 tr.17: kadāci karahaci…. ayaṃ loko vivaṭṭati, vào một lúc, thế giới này chuyển thành. Trong bản Pāli, trước đoạn này có một đoạn nói về kiếp hoại (kadāci karahahi… ayaṃ loko saṃvaṭṭati).
45. Quang âm thiên光音天, tầng cao nhất của Nhị thiền thiên; Pāli: Ābhassara.

 
mạng chung sanh vào Phạm thiên trống  không46, tức thì đối với nơi ấy sanh tâm yêu thích, lại ước nguyện có các chúng sanh khác cùng sanh đến chỗ này. Chúng sanh này sau khi sanh tâm yêu thích và có ước nguyện như vậy rồi, lại có các chúng sanh khác mà mạng, hành và phước đều hết, chết ở trời Quang âm sanh đến Phạm thiên trống  không. Chúng sanh này bèn nghĩ: ‘Ở đây, ta là Phạm, Đại phạm. Ta tự nhiên hiện hữu,  không có ai tạo ra ta. Ta biết hết thảy nghĩa điển47. Ta tự tại trong một ngàn thế giới, là tôn quý bậc nhất, có khả năng biến hóa, vi diệu bậc nhất. Là cha của chúng sanh, riêng mình ta hiện hữu trước nhất. Chúng sanh sanh ra sau này đều do ta hóa thành48.’ Chúng sanh sanh đến sau kia lại có ý nghĩ như vầy: ‘Vị kia là Đại phạm. Vị kia có khả năng tự tạo,  không có ai là người sáng tạo ra vị ấy. Ngài biết rõ hết nghĩa điển; tự tại trong một ngàn thế giới, tôn quý bậc nhất, có khả năng biến hóa, vi diệu bậc nhất. Là cha của chúng sanh, riêng vị ấy hiện hữu trước nhất. Chúng ta hiện hữu sau. Chúng sanh chúng ta đều do vị ấy hóa thành.’ Chúng sanh ở Phạm thiên kia khi mạng và hành đã hết bèn sanh đến thế gian; tuổi lớn dần, cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, xuất gia tu đạo, nhập định ý tam-muội, tùy tam-muội tâm, tự mình biết được đời trước, bèn nói như vầy: ‘Đại phạm kia có khả năng tự tạo;  không do ai tạo ra. Ngài biết hết nghĩa điển, tự tại trong một ngàn thế giới, là tôn quý bậc nhất, có khả năng biến hóa, vi diệu bậc nhất. Là cha của chúng sanh, thường trú bất biến. Nhưng các chúng sanh do Phạm thiên kia sáng tạo như chúng ta, chúng ta thì vô thường biến dịch,  không toàn tại lâu dài. Vì vậy biết rằng bản ngã và thế gian nửa thường và nửa vô thường. Đây là thật, ngồi ra là dối.’ Đó là trường
__________________________________
46. Tham chiếu Pāli, sđd.: tr.17: Vivaṭṭamāne loke sūññaṃ Brahma-vimānaṃ pātu-bhavati, trong khi thế giới chuyển thành, cung điện Phạm thiên trống không hiện ra.
47. Nghĩa điển義典, có lẽ muốn nhắc đến Arthazāstra. Pāli không có chi tiết này.
48. “Ở đây, ta là Phạm,… do ta hóa thành;” tham chiếu Pāli, sđd. nt.: Ahaṃ asmi Brahmà Mahà-brahmā abhibhū anabhibhūto aññad-atthu-daso vasavattī issaro kattā nimmàtā seṭṭho sañjitā vasī pitā bhūta-bhavyānaṃ. Mayā ime sattā nimmitā, “Ta là Phạm thiên, Đại phạm thiên. đấng Toàn năng, Toàn thắng, Phổ kiến, đấng Quan phòng, đấng Tự tại, đấng Sáng tạo, Hóa sanh chủ, Chí Tôn, Chúa tể mọi loài, Cha của những ai đã sanh và sẽ sanh. Các hữu tình này do ta sáng tạo.”

 
 hợp thứ nhất. Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó y bổn kiếp bổn kiến đề khởi luận thuyết nửa thường nửa vô thường, thuộc trong bốn trường hợp, chừng ấy  không hơn.
      “Hoặc có chúng sanh49 thích vui đùa, biếng nhác, mãi mãi50 vui đùa lấy làm thỏa thích. Kia khi vui đùa thỏa thích, thân thể mệt mỏi, bèn thất ý51. Do thất ý mà mạng chung, sanh đến thế gian; tuổi lớn dần, cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, xuất gia tu đạo, nhập định ý tam-muội, từ tam-muội tâm, tự mình biết được đời trước, bèn nói như vầy: ‘Các chúng sanh còn lại kia do  không vui đùa thỏa thích nhiều nên thường trú ở chỗ kia. Ta do vui đùa thỏa thích nhiều nên phải chịu vô thường, là pháp biến dịch. Vì vậy, ta biết rằng: bản ngã và thế gian nửa thường nửa vô thường. Đây là thật, ngồi ra là dối.’ Đó là trường hợp thứ hai; Sa-môn Bà-la-môn nhân đó đối với bổn kiếp bổn kiến đề khởi luận thuyết rằng bản ngã và thế giới nửa thường nửa vô thường; thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy  không hơn.
       “Hoặc có chúng sanh sau khi nhìn ngó nhau, liền thất ý52. Do thất ý mà mạng chung, sanh đến thế gian; tuổi lớn dần, cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, xuất gia tu đạo, nhập định ý tam-muội, tùy tam-muội tâm, tự mình biết được đời trước, bèn nói như vầy: ‘Các chúng sanh còn lại kia do  không nhìn ngó nhau nên  không thất ý. Vì vậy, chúng thường trú bất biến. Chúng ta vì nhiều lần nhìn ngó nhau; sau khi nhìn ngó nhau nhiều lần liền thất ý, khiến cho phải vô thường, là pháp biến dịch. Ta vì vậy biết rằng bản ngã và thế gian nửa thường nửa vô thường. Đây là thật, ngồi ra là dối.’ Đó là trường hợp thứ ba, các Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó y bổn kiếp bổn kiến đề xuất luận thuyết rằng bản ngã và thế giới nửa thường nửa vô thường; thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy  không hơn.
___________________________________
49. Chỉ chúng sanh trên cõi Phạm thiên; Pāli: Khiḍḍā-padosika namā devā, có hạng chư Thiên được gọi là Đam mê Hỷ tiếu.
50. Hán: sác sác數數; Pāli: ativelaṃ, quá lâu dāi.
51. Pāli: sati mussati, thất niệm, mất chánh niệm, xao lãng.
52. Tham chiếu Pāli, Dig I. 1, tr.19: Santi Mano-pasodikā nāma devā. Te ativelaṃ aññamaññaṃ upanijjhāyanti (…) cittāni nappadūsenti, có những chư Thiên được gọi là Ý nhiễm (Manopasodika). Chúng nhìn ngắm nhau lâu ngày… tâm chúng bị nhiễm ô với nhau.

 
      “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, là người có trí tuệ nhạy bén, có năng lực quán sát khéo và bằng trí tuệ quán sát nhạy bén ấy và bằng trí biện thuyết của mình, tuyên bố rằng: ‘Bản ngã và thế gian nửa thường nửa vô thường.’ Đó là quan điểm thứ tư, Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó y bổn kiếp bổn kiến chủ trương ‘bản ngã và thế gian thường toàn’, thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy  không hơn.
       “Duy chỉ Như Lai biết rõ những cơ sở quan điểm này được nắm bắt như vậy, được giữ chặt như vậy và cũng biết sẽ có báo ứng như vậy. Sở tri của Như Lai vượt qua những thứ ấy. Tuy biết nhưng  không bị dính mắc. Do  không bị dính mắc nên được tịch diệt; biết sự tập khởi của thọ; biết sự diệt tận, vị ngọt, sự tai hại và sự xuất yếu của thọï, do bình đẳng quán mà được vô dư giải thoát, vì vậy được gọi là Như Lai.
       “Đó gọi là, còn có pháp khác, là ánh sáng của đại pháp sâu xa vi diệu, để cho đệ tử Hiền thánh có thể tán thán Như Lai một cách chôn thật, bình đẳng.
       “Lại còn có pháp khác, là ánh sáng của đại pháp sâu xa vi diệu, để cho đệ tử Hiền thánh có thể tán thán Như Lai một cách chôn thật, bình đẳng. Đó là pháp gì?
      “Một số Sa-môn, Bà-la-môn y bổn kiếp bổn kiến đề lên luận thuyết rằng ‘Bản ngã và thế gian là hữu biên và vô biên’.53Các Sa-môn, Bà-la-môn nào nhân đó y bổn kiếp bổn kiến chủ trương bản ngã và thế gian hữu biên và vô biên, thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy  không hơn.
       “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, bằng vô số phương tiện, nhập định ý tam-muội. Với tam-muội tâm, khởi lên vô biên tưởng54, vị ấy nói rằng: ‘Thế gian là hữu biên55. Đây là thật, ngồi ra là dối. Vì sao? Ta bằng vô số phương tiện nhập định ý tam-muội. Với tam-muội tâm, quán sát thấy rằng
______________________________________
53. Hán: Ngã cập thế gian hữu biên vô biên我及世間有邊無邊. Các bản Hán đều có chữ ngã. Theo văn mạch tiếp theo, chữ này dư. Tham chiếu Pāli, Dig i. 1, tr.1: antānantikā antānantaṃ lokassa paññapenti, họ chủ trương thế giới hữu biên, vô biên.
54. Hán: khởi vô biên tưởng起無邊想; Pāli, sđd. nt.: anta-saññī lokasmiṃ viharati, vị ấy sống trong thế gian với ý tưởng hữu biên.
55. Pāli, sđd. nt.: antavā ayaṃ loko parivaṭumo, thế giới này có biên tế, có giới hạn (có đường viền chung quanh).

 
 thế gian có biên tế. Vì vậy biết rằng thế gian là hữu biên. Đây là thật, ngoài ra là dối.’ Đó là trường hợp thứ nhất, Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó y bổn kiếp bổn kiến đề xướng luận thuyết rằng bản ngã và thế giới hữu biên, thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy  không hơn.
        “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, bằng vô số phương tiện, nhập định ý tam-muội. Với tam-muội tâm, khởi lên vô biên tưởng, vị ấy nói rằng: ‘Thế gian là vô biên. Đây là thật, ngoài ra là dối. Vì sao? Ta bằng vô số phương tiện nhập định ý tam-muội. Với tam-muội tâm, quán sát thấy rằng thế gian  không có biên tế. Vì vậy biết rằng thế gian là hữu biên. Đây là thật, ngoài ra là dối.’ Đó là trường hợp thứ hai, Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó y bổn kiếp bổn kiến đề xướng luận thuyết rằng bản ngã và thế giới vô biên, thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy  không hơn.
        “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, bằng vô số phương tiện, nhập định ý tam-muội. Với tam-muội tâm, quán sát thế gian, thấy rằng phương trên có biên, bốn phương  không có biên56, vị ấy nói rằng: ‘Thế gian vừa hữu biên vừa vô biên. Đây là thật, ngoài ra là dối. Vì sao? Ta bằng vô số phương tiện nhập định ý tam-muội. Với tam-muội tâm, quán sát thấy phương trên có biên còn bốn phương  không có biên. Vì vậy biết rằng thế gian vừa hữu biên vừa vô biên. Đây là thật, ngoài ra là dối.’ Đó là trường hợp thứ ba, Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó y bổn kiếp bổn kiến đề xướng luận thuyết rằng bản ngã và thế giới vô biên, thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy  không hơn.
      “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, là người có trí tuệ nhạy bén, có năng lực quán sát khéo, rồi bằng trí tuệ quán sát nhạy bén và bằng trí biện thuyết của mình, tuyên bố rằng: ‘Bản ngã và thế gian  không phải hữu biên,  không phải vô biên.’ Đó là trường hợp thứ tư, Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó y bổn kiếp bổn kiến chủ trương ‘bản ngã và thế gian hữu biên hay vô biên’, thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy  không hơn.
       “Duy chỉ Như Lai biết rõ những cơ sở quan điểm này được nắm bắt như vậy, được giữ chặt như vậy và cũng biết sẽ có báo ứng như vậy. Sở tri của Như Lai vượt qua những thứ ấy. Tuy biết nhưng  không bị dính mắc.
________________________________________
56. Pāli, Dig i. 1 tr.22: uddham-addho anta-saññī lokasmiṃ viharti, tiriyaṃ ananta-saññī, vị ấy sống trong thế gian với ý tưởng phía trên và phía dưới hữu biên; chiều ngang vô biên.

 
 Do  không bị dính mắc nên được tịch diệt; biết sự tập khởi của thọ; biết sự diệt tận, vị ngọt, sự tai hại và sự xuất yếu của thọ, do bình đẳng quán mà được vô dư giải thoát, vì vậy được gọi là Như Lai.
     “Đó gọi là, còn có pháp khác, là ánh sáng của đại pháp sâu xa vi diệu, để cho đệ tử Hiền thánh có thể tán thán Như Lai một cách chơn thật, bình đẳng.
      “Lại còn có pháp khác, là ánh sáng của đại pháp sâu xa vi diệu, để cho đệ tử Hiền thánh có thể tán thán Như Lai một cách chơn thật, bình đẳng. Đó là pháp gì?
      “Có các Sa-môn, Bà-la-môn, y bổn kiếp bổn kiến, được hỏi khác nhưng trả lời khác57. Những vị ấy mỗi khi có người hỏi điều này hay điều khác, được hỏi khác, trả lời khác58, thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy  không hơn. Các Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó y bổn kiếp bổn kiến, hỏi khác đáp khác, thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy  không hơn.
       “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn có luận thuyết như vầy, quan điểm như vầy: ‘Tôi  không thấy,  không biết, thiện ác có quả báo chăng?  không có quả báo chăng?’59 Vì tôi  không thấy,  không biết nên nói như  vầy: ‘Thiện ác có quả báo chăng? Không có quả báo chăng? Thế gian có những Sa-môn, Bà-la-môn quảng bác, đa văn, thông minh, trí tuệ, thường ưa nhàn tĩnh, cơ biện tinh vi, được người đời tôn trọng, có thể bằng trí tuệ phân tích khéo léo các quan điểm. Giả sử họ hỏi tôi những nghĩa lý sâu sắc, tôi  không thể đáp. Vì thẹn với vị ấy; vì sợ vị ấy, tôi phải dựa vào sự trả lời ấy làm chỗ quy y, làm hòn đảo, làm mái nhà,
_____________________________________
57. Hán: dị vấn dị đáp; Pāli: amarā-vikkhepika, nhà ngụy biện (uốn lượn trườn lươn).
58. Pāli, sđd.: tr.24: tattha tattha pañhaṃ puṭṭhà samànā vàcā-vikkhepaṃ āpajjanti, khi được hỏi vấn đề này hay vấn đề khác, họ rơi vào tình trạng uốn lượn lời nói.
59. Hán: thiện ác hữu báo da, vô báo da?善惡有報耶無報耶. Tham chiếu Pāli, Dig i. 1 tr.25: Atthi sukata-dukkatānaṃ kammānaṃ phalaṃ vipāko? Có quả dị thục của
nghiệp thiện và bất thiện chăng? Câu hỏi có bốn vế: có, không có, vừa có vừa không có, không phải có cũng không phải không có. Trong bản Pāli, đây không chỉ một vế của một câu hỏi về quả báo của thiện và ác. Nhưng có bốn vấn đề với bốn vế: thế giới khác (paro loko), hóa sanh hữu tình (sattā opapātikā), thiện ác nghiệp báo  (sukata-dukkatānaṃ kammānaṃ phalaṃ vipāko), Như Lai sau khi chết (Tathāgato param maraṇā). Trong bản Pāli, đây là trường hợp thứ tư, thuyết của những người ngu si ám độn (mando momūho).

 
 làm cứu cánh đạo. Giả sử kia có hỏi, tôi sẽ đáp như vầy: ‘Việc này như thế. Việc này là thật. Việc này khác. Việc này  không khác. Việc này  không phải khác,  không phải  không khác.’ Đó là trường hợp thứ nhất, Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó hỏi khác đáp khác, thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy không hơn.
      “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn có luận thuyết như vầy, quan điểm như vầy: ‘Tôi  không thấy,  không biết có thế giới khác chăng?  không có thế giới khác chăng?60 Trong đời có các Sa-môn, Bà-la-môn, bằng thiên nhãn trí, tha tâm trí, có thể thấy những việc xa xôi. Những việc ấy tuy gần người khác nhưng người khác  không thấy. Những người như vậy có thể biết có thế giới khác hay  không có thế giới khác. Tôi  không biết,  không thấy có thế giới khác hay không có thế giới khác. Nếu tôi nói, thì đó là nói dối. Vì ghét nói dối, sợ nói dối61. Vì vậy, để làm chỗ quy y, làm hòn đảo, làm mái nhà, làm cứu cánh đạo, giả sử kia có hỏi, tôi sẽ đáp như vầy: ‘Việc này như vậy. Việc này là thật. Việc này khác. Việc này  không khác. Việc này  không phải khác,  không phải  không phải  không khác.’ Đó là trường hợp thứ hai, Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó hỏi khác đáp khác, thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy  không hơn.
      “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn có quan điểm như vầy, có luận thuyết như vầy: ‘Tôi  không thấy,  không biết thiện là gì, bất thiện là gì. Nếu tôi  không thấy,  không biết mà nói như vầy: đây là thiện, đây là bất thiện, thì do đây tôi sanh ái, từ ái sanh sân nhuế. Có ái, có nhuế, thì có thọ62 sanh. Tôi vì muốn diệt trừ thọ nên xuất gia tu hành.’ Kia do ghét thọ, kinh sợ thọ63. Vì để làm chỗ quy y, làm hòn đảo, làm mái nhà, làm cứu cánh đạo, nên giả sử kia có hỏi, tôi sẽ trả lời như vầy: ‘Việc này như vậy. Việc này là thật. Việc này khác. Việc này  không khác. Việc này  không phải khác, không phải không khác.’ Đó là trường hợp thứ ba, Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó hỏi khác đáp khác, thuộc trong bốn trường
_______________________________
60. Xem chú thích 59.
61. Hán: ố úy vọng ngữ惡畏妄語. Pāli, Dig i. 1, tr.24: musā-vàda-bhayā musā-vàda-parijegucchā, vì sợ vọng ngữ, kinh tởm vọng ngữ. Trong bản Pāli, đây thuộc trường hợp thứ nhất, được hỏi thiện, ác là gì.
62. Thọ受, tức thủ取(Pāli: upādāna), chỉ yếu tố duy trì sự sống, hay sở y của tái sanh (chấp thủ, trong mười hai chi duyên khởi).
63. Pāli, sđd. nt.: upādāna-bhayā upādāna-parijegucchā.
hợp. Chừng ấy  không hơn.
     “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn ngu si ám độn64, khi có người hỏi, thì tùy theo người hỏi mà trả lời rằng: ‘Việc này như vậy. Việc này là thật. Việc này khác. Việc này  không khác. Việc này  không phải khác, không phải  không khác.’ Đó là trường hợp thứ tư, Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó hỏi khác đáp khác, thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy  không hơn.
      “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, y bổn kiếp bổn kiến, hỏi khác đáp khác, tất cả thuộc trong bốn trường hợp. Chừng ấy  không hơn.
       “Duy chỉ Phật mới có thể biết rõ những cơ sở quan điểm này được nắm bắt như vậy, được giữ chặt như vậy và cũng biết sẽ có báo ứng như vậy. Sở tri của Như Lai vượt qua những thứ ấy. Tuy biết nhưng  không bị dính mắc. Do  không bị dính mắc nên được tịch diệt; biết sự tập khởi của thọ; biết sự diệt tận, vị ngọt, sự tai hại và sự xuất yếu của thọ, do bình đẳng quán mà được vô dư giải thoát, vì vậy được gọi là Như Lai.
       “Đó gọi là, còn có pháp khác, là ánh sáng của đại pháp sâu xa vi diệu, để cho đệ tử Hiền thánh có thể tán thán Như Lai một cách chơn thật, bình đẳng.
        “Lại còn có pháp khác, là ánh sáng của đại pháp sâu xa vi diệu, để cho đệ tử Hiền thánh có thể tán thán Như Lai một cách chơn  thật, bình đẳng. Đó là pháp gì?
        “Có các Sa-môn, Bà-la-môn, y bổn kiếp bổn kiến, chủ trương rằng  không có nguyên nhân mà xuất hiện có thế gian này. Chủ trương ấy thuộc hai trường hợp. Y bổn kiếp bổn kiến, chủ trương vô nhân mà xuất hiện có thế gian này65, thuộc trong hai trường hợp. Chừng ấy  không hơn.
        “Sa-môn, Bà-la-môn kia nhân sự kiện gì, y bổn kiếp bổn kiến, chủ trương vô nhân mà có, thuộc trong hai trường hợp, chừng ấy không hơn?
        “Có hạng chúng sanh vô tưởng, vô tri66. Khi chúng sanh kia sanh khởi tưởng, tức thì mạng chung, sanh đến thế gian này; rồi dần dần khôn lớn, cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, xuất gia tu đạo, nhập định ý tam-
_______________________________
64. Xem cht. 59.
65. Hán: vô nhân nhi xuất hữu thử thế gian無因而出有此世間; Pāli: adhicca-samuppannaṃ attānañ ca lokañ ca paññāpenti, chủ trương bản ngã và thế gian xuất hiện không do nguyên nhân nào.
66. Pāli, Dig i. 1, tr.26: Asañña-sattā nāma devā, có chư Thiên được gọi là vô tưởng hữu tình.
 
muội. Bằng tam-muội tâm mà biết được gốc đời trước của mình, vị ấy bèn nói như vầy: ‘Tôi vốn  không có. Nay bỗng nhiên có67. Thế gian này vốn  không, nay có. Đây là thật, ngoài ra là dối.’ Đó là trường hợp thứ nhất, các Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó, y bổn kiếp bổn kiến, chủ trương  không nhân mà có, thuộc trong hai trường hợp, chừng ấy  không hơn.
       “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn có trí tuệ nhạy bén, có khả năng quán sát khéo léo. Vị ấy bằng trí tuệ quán sát nhạy bén, bằng trí tuệ biện luận của mình, nói như vầy: ‘Thế gian này hiện hữu  không do nhân. Đây là thật, ngoài ra là dối.’ Đó là trường hợp thứ hai, các Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó, y bổn kiếp bổn kiến, chủ trương  không nhân mà hiện hữu, mà có thế gian này, thuộc trong hai trường hợp, chừng ấy  không hơn.
       “Duy chỉ Phật mới có thể biết… (như trên).
       “Các Sa-môn, Bà-la-môn, y bổn kiếp bổn kiến, với vô số trường hợp khác nhau, mỗi người tùy ý lập thuyết; tất cả được thâu tóm trong mười tám trường hợp. Bổn kiếp bổn kiến, với vô số trường hợp, tùy ý lập thuyết, thuộc trong mười tám trường hợp, chừng ấy  không hơn. Duy chỉ Phật mới có thể biết… (như trên).
       “Lại có pháp khác, là ánh sáng của đại pháp vi diệu, thâm sâu. Đó là pháp gì? Có các Sa-môn, Bà-la-môn, y mạt kiếp mạt kiến68, với vô số trường hợp, tùy ý lập thuyết, gồm bốn mươi bốn trường hợp, chừng ấy  không hơn.
        “Các Sa-môn, Bà-la-môn kia, nhân sự kiện gì, y mạt kiếp mạt kiến, với vô số trường hợp, tùy lý lập thuyết, thuộc trong bốn mươi bốn trường hợp, chừng ấy  không hơn?
         “Có các Sa-môn, Bà-la-môn, y mạt kiếp mạt kiến, sanh hữu tưởng luận69, nói rằng thế gian có tưởng70, tất cả thuộc trong mười sáu trường hợp. Y mạt kiếp mạt kiến, sanh hữu tưởng luận, nói rằng thế gian
___________________________
67. Pāli, sđd. nt.: Ahaṃ hi pubbe nāhosiṃ, so’mhi etarahi ahutvà sattattāya pariṇato, tôi trước kia không hiện hữu, nhưng nay từ không hiện hữu, tôi biến hiện thành chúng sanh.
68. Xem cht. 26.
69.  Hữu tưởng luận有想論; Pāli: saññī-vādā.
70. Pāli: uddhaṃ āghatanā saññiṃ attānaṃ paññāpeti, chủ trương sau khi chết bản ngã có tưởng; linh hồn vẫn có tri giác hay ý thức sau khi chết.
có tưởng, thuộc trong mười sáu trường hợp, chừng ấy  không hơn.
   “Các Sa-môn, Bà-la-môn kia, nhân sự kiện gì, y mạt kiếp mạt kiến, sanh tưởng luận, nói rằng thế gian có tưởng, thuộc trong mười sáu trường hợp, chừng ấy  không hơn?
“Có các Sa-môn, Bà-la-môn có luận thuyết như vầy, có quan điểm như vầy: ‘Ta71, sau kết thúc này, sanh có tưởng có sắc. Đây là thật, ngoài ra là dối.’72 Đó là trường hợp thứ nhất, các Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó, y bổn kiếp bổn kiến, sanh tưởng luận, nói thế gian có tưởng, thuộc trong mười sáu luận chấp, chừng ấy  không hơn.
“Có người nói: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh vô sắc có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
“Có người nói: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh vừa có sắc vừa  không sắc, có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
“Có người nói: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh  không phải có sắc  không phải vô sắc, có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
“Có người nói: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh có biên73, có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
“Có người nói: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh  không biên, có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
“Có người nói: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh vừa có biên vừa  không biên, có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
“Có người nói: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh  không phải có biên cũng  không phải  không biên, có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
“Có người nói: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh mà thuần lạc, có tưởng74. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
“Có người nói: ‘Bản ngã, sau kết thúc này, sanh mà thuần khổ,
____________________________________
71. Hán: ngã我, chỉ bản ngã hay tự ngã, ở đây chỉ linh hồn.
72. Hán: ngã thử chung hậu, sanh hữu sắc hữu tưởng 我 有後生有色有想
73. Hán: sanh hữu biên hữu tưởng生有邊有想. Pāli, Dig i. 1, tr.28: Antavà hoti… saññī, bản ngã (linh hồn) là hữu biên (hữu hạn).
74. Hán: sanh nhi nhất hướng lạc hữu tưởng生而一向樂有想; Pāli: Ekanta-sukhī…, bản ngã (linh hồn) thuần lạc.
có tưởng75. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
“Có người nói: ‘Bản ngã, sau kết thúc này, sanh vừa có khổ vừa có lạc, có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
“Có người nói: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh  không phải khổ,  không phải lạc, có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
“Có người nói: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh có một tưởng76. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
“Có người nói: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh có đa biệt tưởng77. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
“Có người nói: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh có ít tưởng78. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
“Có người nói: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh có vô lượng tưởng79. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
“Đó là mười sáu trường hợp, các Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó, y mạt kiếp mạt kiến, sanh tưởng luận, nói thế gian có tưởng, thuộc trong mười sáu trường hợp, chừng ấy  không hơn.
“Duy chỉ Phật mới có thể biết, cũng như vậy… (như trên). “Lại có pháp khác, là ánh sáng của đại pháp vi diệu, thâm sâu. Đó là pháp gì? Có các Sa-môn, Bà-la-môn, y mạt kiếp mạt kiến, sanh vô tưởng luận80, nói thế gian  không có tưởng. Tất cả thuộc vào trong tám trường hợp. Y mạt kiếp mạt kiến, sanh vô tưởng luận, thuộc trong tám trường hợp này, chừng ấy  không hơn.
“Các Sa-môn, Bà-la-môn kia, nhân sự kiện gì, y mạt kiếp mạt kiến, sanh vô tưởng luận, nói thế gian  không có tưởng, thuộc trong tám trường hợp, chừng ấy  không hơn?
___________________________________
75. Pāli: Ekanta-dukkhī attā, bản ngã thuần khổ.
76. Hán: sanh nhất tưởng生一想; Pāli: Ekatta-saññī attā hoti, bản gã chỉ có một tưởng.
77. Hán: hữu nhược can tưởng有若干想; Pāli: Nānatta-saññī attā hoti, bản ngã có tưởng sai biệt.
78. Hán: hữu thiểu tưởng有少想; Pāli: Parittā-saññī attā hoti, bản ngã có tưởng hạn lượng.
79. Hán: hữu vô lượng tưởng有無量想; Pāli: appamàṇā-saññī attā hoti, bản ngã có vô lượng tưởng.
80. Vô tưởng luận無想論; Pāli: uddhaṃ āghatanikā asaññī-vādā, chủ trương sau khi chết không có tưởng.
“Có các Sa-môn, Bà-la-môn, luận thuyết như vầy, quan điểm như vầy: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh có sắc  không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
“Có người nói: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh  không sắc,  không tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
“Có người nói: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh vừa có sắc vừa  không sắc,  không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
“Có người nói: ‘Ta, sau kết thúc này,  không phải có sắc cũng  không phải  không có sắc,  không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
“Có người nói: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh có biên,  không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
“Có người nói: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh  không có biên,  không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
“Có người nói: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh vừa có biên vừa  không có biên,  không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
“Có người nói: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh  không phải có biên  không phải  không có biên,  không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
“Đó là tám trường hợp. Nếu có Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó, y mạt kiếp mạt kiến, sanh vô tưởng luận, nói thế gian  không có tưởng; tất cả thuộc trong tám trường hợp, chừng ấy  không hơn.
“Duy chỉ Phật mới có thể biết, cũng vậy (như trên).
“Lại có pháp khác, là ánh sáng của đại pháp vi diệu, sâu xa. Đó là pháp gì? Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn, y mạt kiếp mạt kiến, sanh phi tưởng phi phi tưởng luận81, nói thế gian  không phải có tưởng  không phải  không có tưởng. Tất cả thuộc trong tám trường hợp. Y mạt kiếp mạt kiến, chủ trương phi tưởng phi phi tưởng luận, thuộc trong tám trường hợp, chừng ấy không hơn.
“Sa-môn, Bà-la-môn kia, nhân sự kiện gì, y mạt kiếp mạt kiến, chủ trương phi tưởng phi phi tưởng luận, thuộc trong tám trường hợp, chừng ấy không hơn?
“Có Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như vầy, quan điểm như vầy: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh có sắc,  không phải có tưởng  không phải  không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
__________________________________
81. Pāli: n’evasaṇṇī-nāsaññī-vādā.
 
    “Có Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như vầy, quan điểm như vầy: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh  không sắc,  không phải có tưởng  không phải  không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
     “Có Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như vầy, quan điểm như vầy: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh vừa có sắc vừa  không sắc,  không phải có tưởng  không phải  không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
     “Có Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như vầy, quan điểm như vầy: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh  không phải có sắc  không phải  không sắc,  không phải có tưởng  không phải  không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
     “Có Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như vầy, quan điểm như vầy: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh có biên,  không phải có tưởng  không phải  không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
      “Có Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như vầy, quan điểm như vầy: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh  không có biên,  không phải có tưởng  không phải  không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
       “Có Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như vầy, quan điểm như vầy: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh vừa có biên vừa  không có biên,  không phải có tưởng  không phải  không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
       “Có Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như vầy, quan điểm như vầy: ‘Ta, sau kết thúc này, sanh  không phải có biên  không phải  không có biên,  không phải có tưởng  không phải  không có tưởng. Đây là thật, ngoài ra là dối.’
       “Đó là tám trường hợp. Nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào nhân đó, y mạt kiếp mạt kiến, sanh phi hữu tưởng phi vô tưởng, nói thế gian  không phải có tưởng  không phải  không có tưởng, thảy đều thuộc trong tám trường hợp, chừng ấy  không hơn.
       “Duy chỉ Phật mới có thể biết, cũng vậy… như trên.
       “Lại có pháp khác, là ánh sáng của pháp vi diệu, sâu xa. Pháp đó là gì? Có các Sa-môn, Bà-la-môn, y mạt kiếp mạt kiến, khởi lên đoạn diệt luận82, nói rằng chúng sanh hoàn toàn đoạn diệt; tất cả thuộc trong
________________________________
82. Đoạn diệt luận斷滅論, một dạng chủ nghĩa hư vô, chủ trương chết là hết; Pāli: uccheda-vādā, sattassa ucchedaṃ vināsaṃ vibhavaṃ, đoạn diệt luận, chúng sanh đoạn diệt, tiêu diệt, không tồn tại.
 bảy trường hợp. Y mạt kiếp mạt kiến, khởi đoạn diệt luận, nói rằng chúng sanh hoàn toàn đoạn diệt, thuộc trong bảy trường hợp, chừng ấy  không hơn.
      “Sa-môn, Bà-la-môn kia, nhân sự kiện gì, y mạt kiếp mạt  kiến, khởi đoạn diệt luận, nói chúng sanh hoàn toàn đoạn diệt, thuộc trong bảy trường hợp, chừng ấy  không hơn?
      “Có Sa-môn, Bà-la-môn luận thuyết như vầy, quan điểm như vầy: ‘Ta83, với thân bốn đại, sáu nhập, do cha mẹ sanh, được nuôi nấng bằng sữa; trưởng thành nhờ áo cơm, nhờ vuốt ve, bồng ẳm; nhưng là vô thường, chắc chắn đi đến chỗ hủy diệt.84’ Cho đến mức ấy, được gọi là đoạn diệt. Đó là trường hợp thứ nhất.
      “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn nói như vầy: ‘Cái ta đây  không thể gọi là đoạn diệt. Cái ta dục giới thiên85 mới đoạn diệt hoàn toàn; cho đến mức ấy mới là đoạn diệt.’ Đó là trường hợp thứ hai.
      “Hoặc có Sa-môn, Bà-la-môn nói như vầy: ‘Đấy  không phải là đoạn diệt. Ta sắc giới hóa thân, các căn đầy đủ86, đoạn diệt hoàn toàn; chừng mức ấy mới gọi là đoạn diệt.’
      “Hoặc có người nói: ‘Đấy  không phải là đoạn diệt. Ta vô sắc giới  không xứ87 mới đoạn diệt.’
      “Hoặc có người nói: ‘Đấy  không phải là đoạn diệt. Ta vô sắc
__________________________________
83. Hán: ngã我chỉ tự ngã, hay linh hồn.
84. Tham chiếu Pāli, D.1, Dig i. 1, tr.30: ayaṃ attā rūpī cātum-mahā-bhutiko mātā-pettika-sambhavo; kayassa bhedā ucchijjati vinassati, na hoti param maraṇā, tự ngã này, thuộc sắc, do bốn đại tạo thành, do cha mẹ sanh, khi bản thân bị rã, thì nó bị đoạn diệt, tiêu diệt.
85. Hán: ngã dục giới thiên我欲界天. Tham chiếu Pāli: añño attā dibbo rūpī kāmāvacaro kabaliíkārāhāra-bhakkho, có tự ngã khác, thuộc thiên giới, có sắc, ở dục giới, ăn bằng đoàn thực.
86. Hán: ngã sắc giới hóa thân, chư căn cụ túc我色界化身諸根具足. Tham chiếu Pāli: añño attā dibbo rūpī manomayo sabbaṅga-paccaṅgī ahīndriyo, có tự ngã khác, thiên giới, có sắc, do ý sanh, có đầy đủ tay chân chi tiết.
87. Tham chiếu Pāli: Atthi añño attā sabbaso rūpa-saññānaṃ samatikkamà paṭigha-saññānaṃ atha-gamà nānatta-saññānaṃ amanasi-kārā ‘Ananto okaso’ ti ākāsānañcāyatanūpago, có tự ngã khác, vượt sắc tưởng, diệt hữu đối tưởng, không tư duy sai biệt tưởng, nhận ra ‘Hư không là vô biên’, đạt không vô biên xứ.
 
 thức xứ88 mới đoạn diệt.’
“Hoặc có người nói: ‘Đấy  không phải đoạn diệt. Ta vô sắc bất dụng xứ89 đoạn diệt.’
“Hoặc có người nói: ‘Đấy  không phải là đoạn diệt. Ta vô sắc hữu tưởng vô tưởng xứ90 đoạn diệt.’ Đó là đoạn diệt thứ bảy.
“Đó là bảy trường hợp, các Sa-môn, Bà-la-môn nhân đó, y mạt kiếp mạt kiến, nói các loại chúng sanh đoạn diệt hoàn toàn, thuộc trong bảy trường hợp, chừng ấy  không hơn.
“Duy chỉ Phật mới có thể biết, cũng vậy … (như trên).
“Lại có pháp, là ánh sáng của đại pháp vi diệu, sâu xa. Đó là pháp gì? Có Sa-môn, Bà-la-môn, y mạt kiếp mạt kiến, đề xuất hiện tại Niết-bàn luận91, nói rằng chúng sanh trong hiện tại có Niết-bàn; thảy đều thuộc trong năm trường hợp. Y mạt kiếp mạt kiến, chủ trương hiện tại Niết-bàn luận, thuộc trong năm kiến, chừng ấy  không hơn.
“Sa-môn, Bà-la-môn kia, nhân sự kiện gì, y mạt kiếp mạt kiến, nói rằng chúng sanh trong hiện tại có Niết-bàn, thuộc trong năm trường hợp, chừng ấy  không hơn?
“Có Sa-môn, Bà-la-môn, quan điểm như vầy, luận thuyết như vầy: ‘Ta trong hiện tại phóng túng theo năm dục92, ấy là ta đạt Niết-bàn trong hiện tại.’ Đó là trường hợp thứ nhất.
“Lại có Sa-môn, Bà-la-môn nói như vầy: ‘Đó là hiện tại Niết-bàn, chớ  không phải là  không đúng. Nhưng còn có Niết-bàn vi diệu bậc nhất mà ngươi  không biết; chỉ ta biết mà thôi. Như ta ly dục, ly ác bất thiện pháp, có giác có quán, hỷ lạc do định sanh, nhập Sơ
_________________________________
88. Tham chiếu Pāli: (…) sabbaso ākāsānañcāyataṃ samapatikkama ‘Anantam viññānan’ ti viññāṇānañcāyatanūpago, vượt tất cả không vô biên xứ, nhận thức ‘Thức là vô biên’, đạt thức vô biên xứ.
89. Hán: bất dụng xứ不用處, tức vô sở hữu xứ; Pāli: akiñcaññāyatana.
90. Hán: hữu tưởng vô tưởng xứ有想無想處tức phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ Pāli: nevasaññā-nāsañña-āyatana.
91. Hiện tại Nê-hoàn luận現在泥洹論; Pāli: diṭṭha-dhamma-nibbāna-vādā.
92. Pāli: ayaṃ attā pañcahi kāma-guịehi samappito samangi-bhūto paricāreti ettavatā kho bho ayaṃ attā parama-diṭṭha-dhamma-nibbānaṃ patto hoti, chừng nào tự ngã này hưởng thụ thoả mãn năm phẩm tính của dục, trong chừng mực ấy tự ngã này mới đạt đến hiện tại tối thượng Niết-Bàn.

 
thiền.93 ’ Đây mới là hiện tại Niết-bàn.’ Đó là trường hợp thứ hai.
      “Lại có Sa-môn, Bà-la-môn nói như vầy: ‘Đó là hiện tại Niết-bàn, chớ  không phải là  không đúng94. Nhưng có Niết-bàn hiện tại vi diệu bậc nhất mà ngươi  không biết; chỉ mình ta biết mà thôi. Như ta diệt giác quán, nội tâm tịch tĩnh, nhất tâm,  không giác quán, hỷ lạc do định sanh, nhập đệ Nhị thiền. Chừng ấy mới gọi là hiện tại Niết-bàn.’ Đó là trường hợp thứ ba.
       “Lại có Sa-môn, Bà-la-môn nói như vầy: ‘Đó là hiện tại Niết-bàn, chớ  không phải là  không đúng. Nhưng có Niết-bàn hiện tại vi diệu bậc nhất mà ngươi  không biết; chỉ mình ta biết mà thôi. Như ta lìa hỷ, an trú xả và niệm, nhất tâm, thân cảm thọ lạc, điều mà Thánh nói, an trú lạc và xả, nhập đệ Tam thiền. Chừøng ấy mới là hiện tại Niết-bàn.’ Đó là trường hợp thứ tư.
        “Lại có Sa-môn, Bà-la-môn nói như vầy: ‘Đó là hiện tại Niết-bàn,  không phải là  không đúng. Nhưng còn hiện tại Niết-bàn vi diệu bậc nhất mà ngươi  không biết. Chỉ mình ta biết thôi. Như ta lạc diệt, khổ diệt, ưu hỷ đã trừ trước,  không khổ  không lạc, xả niệm thanh tịnh, nhập đệ Tứ thiền. Ấy mới gọi là hiện tại Niết-bàn.’ Đó là trường hợp thứ năm. Nếu Sa-môn, Bà-la-môn nào chủ trương hiện tại Niết-bàn luận, thuộc trong năm trường hợp, chừng ấy  không hơn.
        “Duy Phật mới có thể biết, cũng vậy… (như trên).
       “Các Sa-môn, Bà-la-môn, y mạt kiếp mạt kiến, với vô số trường hợp, tùy ý lập thuyết,  thuộc trong bốn mươi bốn trường hợp, chừng ấy  không hơn.
       “Duy Phật mới có thể biết các cơ sở quan điểm này, cũng như vậy (như trên).
       “Các Sa-môn, Bà-la-môn, y bổn kiếp bổn kiến, mạt kiếp mạt kiến, với vô số trường hợp, tùy ý lập thuyết, tất cả thuộc trong sáu mươi
_________________________________________
93. Từ đây trở xuống, liên hệ Tứ thiền, Hán dịch nhiều chỗ không chính xác. Xem cht.122-126, kinh số 2 “Du Hành iii”.
94. Tham chiếu Pāli: No ca kho bho ayaṃ attā ettavà parama-diṭṭha-dhamma-nibbāna-patto hoti. Taṃ kissa hetu? Kāmā hi bho aniccā dukkhā vipariịāma-dhammā, (…). Đó chứ phải là hiện tại tối thượng Niết-Bàn. Vì sao? Dục là vô thường, khổ, là pháp hoại diệt.

 
hai trường hợp. Y bổn kiếp bổn kiến, mạt kiếp mạt kiến, với vô số trường hợp, tùy ý lập thuyết, tất cả thuộc trong sáu mươi hai trường hợp, chừng ấy  không hơn.
    “Duy chỉ Như Lai mới biết các cơ sở quan điểm ấy, cũng vậy (như trên).
   “Các Sa-môn, Bà-la-môn, y bổn kiếp bổn kiến, chủ trương thường trú luận, nói: ‘Bản ngã và thế giới là thường.’ Sa-môn, Bà-la-môn kia ở nơi đó phát sanh trí, nghĩa là, tín dị biệt, dục dị biệt, học hỏi dị biệt, duyên dị biệt, giác dị biệt, kiến dị biệt, định dị biệt, nhẫn dị biệt. Nhân đấy mà sanh trí và kia do hiện hữu phổ biến mà được gọi là thọ95,… cho đến, hiện tại Niết-bàn, cũng lại như vậy.
     “Các Sa-môn, Bà-la-môn chủ trương thường trú luận, nói: ‘Thế gian là thường’, các vị ấy nhân bởi duyên là thọ mà khởi ái; sanh khởi ái mà tự mình  không hay biết, bị nhiễm trước bởi ái, bị khuất phục bởi ái96,… cho đến hiện tại Niết-bàn; cũng lại như vậy.
     “Các Sa-môn, Bà-la-môn, y bổn kiếp bổn kiến, chủ trương thường trú luận, nói ‘Thế gian là thường’, các vị ấy do bởi duyên là xúc. Nếu lìa xúc duyên thì  không thể lập luận,… cho đến hiện tại Niết-bàn, cũng lại như vậy.
     “Các Sa-môn, Bà-la-môn, y bổn kiếp bổn kiến, mạt kiếp mạt kiến, mỗi người tùy theo sở kiến mà nói; tất cả đều gồm trong sáu mươi hai kiến. Mỗi người tùy ý thuyết; thảy đều y trên đó, ở trong đó, chừng ấy  không hơn. Cũng như người chài khéo, bằng tấm lưới dày mắt giăng trên ao nhỏ, nên biết, hết thảy các loài thủy tộc trong ao đều lọt vào lưới,  không chỗ tránh thoát, chừng ấy  không hơn. Cũng vậy, các Sa-môn, Bà-la-môn, y bổn kiếp bổn kiến, mạt kiếp mạt kiến, với nhiều thuyết khác nhau, tất cả thuộc vào sáu mươi hai kiến, chừng ấy không hơn.
      “Nếu Tỳ-kheo, đối với sự tập khởi của sáu xúc, sự diệt tận, vị
______________________________________
95. Hán: (…) bỉ dĩ bố hiện tắc danh vi thọ彼以布現則名為受, chưa rõ nghĩa. Xem cht. Trong bản Hán: hy hiện希現, Tống-Nguyên-Minh: bố hiện trường布現場.
96. Pāli: tadapi tesaṃ bhavataṃ samaṇa-brāhmaṇānaṃ ajānataṃ apassataṃ vedayitaṃ taịhā-gatānaṃ paritasita-vipphanditam eva, chủ trương ấy là sự không biết, không thấy của các Sa-môn, Bà-la-môn ấy, được cảm thọ, bị chi phối bởi khát ái, bị khuấy động bởi thiên kiến.

 
ngọt, tai họa và sự xuất ly, mà biết rõ như thật, Tỳ-kheo ấy là người tối thắng, vượt ngồi các kiến ấy. Như Lai tự biết, sự sanh đã dứt, sở dĩ có thân là để phước độ chư Thiên, nhân loại. Nếu Như Lai  không có thân, người đời  không chỗ nương cậy. Cũng như cây Đa-la bị chặt ngọn  không còn sống trở lại nữa. Phật cũng vậy, đã đoạn sanh tử, vĩnh viễn  không còn tái sanh.”
      Khi Phật nói pháp này, đại thiên thế giới ba lần chuyển mình với sáu cách rung động. Lúc ấy, A-nan đứng sau Phật đang cầm quạt hầu Phật, liền trịch áo bày vai phải, quỳ gối chắp tay bạch Phật rằng:
     “Pháp này rất sâu xa, nên gọi tên là gì? Nên phụng trì như thế nào?’
      Phật bảo A-nan:
     “Nên đặt kinh này là Nghĩa động, Pháp động, Kiến động, Ma động, Phạm động97.”
      Bấy giờ A-nan sau khi nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.



________________________________________
97. Nghĩa động義動; Pāli: Atthajāla: Nghĩa võng, cái lưới thâu tóm các ý nghĩa; Pháp động法動; Pāli: Dhammajāla: Pháp võng, lưới của Pháp; Kiến động見動; Pāli: Diṭṭhijāla: Kiến võng, lưới quan điểm; Ma động魔動, không có từ này, nhưng tương đương: Anuttaro saṅgāmavijayo: Vô thượng chiến thắng; Phạm động梵動; Pāli: Brahmajāla, xem cht.1.

 
/53
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »