Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 1 - Bộ A- Hàm I - Kinh Trường A- Hàm Số 1

Đại Tập 1 - Bộ A- Hàm I - Kinh Trường A- Hàm Số 1

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 1030.

Chương 27: 25. Kinh Lõa Hình Phạm Chí (Trang 487 - 496)

25. KINH LÕA HÌNH PHẠM CHÍ1
  Tôi nghe như vầy:
  Một thời, Phật ở tại nước Ủy-nhã, trong rừng Kim bàn Lộc dã2, cùng với chúng Đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người.
  Bấy giờ, có một Phạm chí lõa hình họ là Ca-diệp3 đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi chào hỏi xong, ngồi xuống một bên. Phạm chí lõa hình Ca-diệp bạch Phật rằng:
   “Sa-môn Cù-đàm chê bai tất cả các pháp tế tự; mắng những người khổ hạnh là dơ dáy4. Cù-đàm, nếu có người nói rằng: ‘Sa-môn Cù-đàm chê bai tất cả các pháp tế tự; mắng những người khổ hạnh là dơ dáy.’ Đó có phải là pháp ngữ, pháp pháp thành tựu5,  không phỉ báng Sa-môn Cù-đàm chăng?”
    Phật nói: 
    “Ca-diệp, người kia nói: ‘Sa-môn Cù-đàm chê bai tất cả các pháp tế tự; mắng những người khổ hạnh là dơ dáy.’ Đó  không phải là lời nói

_____________________________________
1. Bản Hán: Phật Thuyết Trường A-hàm, “đệ tam phần, Lõa Hình Phạm Chí kinh Đệ lục”, Đại I, tr.102c. Tương đương Pāli, D. 8, Dig i. 8 Kassapa-sīhanāda-sutta (Ca-diếp Sư Tử Hoáng kinh).
2. Ủy-nhã; Pāli: Ujuññā. Kim Bàn Lộc dã lâm; Pāli: Kaṇṇakatthaka-magadāya, vườn nai rừng Kaṇṇakatthaka. Bản Hán hình như đọc là Kanakaṇṇhaka.
3.Lõa hình Phạm chí tánh Ca-diệp; Pāli: acela Kassapa, tu sĩ lõa thể Kassapa.
4. Pāli, Dig I, tr.138: sabban tapaṃ garahati, sabban tapassiṃ lūkhājìviṃ ekaṃsena upakkosati upavadati, chỉ trích tất cả khổ hạnh; một mực chê bai, mạt sát người tu khổ hạnh sống tồi tàn.
5. Hán: pháp pháp thành tựu法法成就; Pāli: dhammassa canudhammaṃ vyākaronti, chúng thuyết minh tùy pháp của pháp (nói lên sự thật của vấn đề). Theo văn Hán, hình như: dhammānudhamma-paṭipanna, thành tựu pháp và tùy pháp, đã đạt đến chỗ hoàn bị của pháp.

 
đúng pháp,  không phải pháp thành tựu, là phỉ báng Ta,  không phải là lời nói thành thật. Vì sao? Này Ca-diệp, Ta thấy, trong những người khổ hạnh kia, có người khi thân hoại mạng chung đọa vào địa ngục; lại thấy có người khổ hạnh khi thân hoại mạng chung được sanh thiên, sanh chỗ thiện. Hoặc thấy người khổ hạnh ưa làm việc khổ hạnh295, khi thân hoại mạng chung, sanh vào địa ngục. Hoặc thấy người khổ hạnh ưa làm việc khổ hạnh, khi thân hoại mạng chung, sanh thiên, sanh chỗ thiện. Ta đối với trường hợp thọ báo với hai thú hướng ấy7, thấy hết biết hết, làm sao có thể Ta chỉ trích người tu khổ hạnh cho là dơ dáy? Điều Ta rõ ràng nói là phải, người kia nói là  không phải. Điều Ta rõ ràng nói  không phải, người kia nói là phải.
    “Này Ca-diệp, có pháp đồng với Sa-môn, Bà-la-môn. Có pháp  không đồng với Sa-môn, Bà-la-môn8. Ca-diệp, pháp nào  không đồng, Ta bỏ qua, vì pháp ấy  không đồng Sa-môn, Bà-la-môn vậy.
     “Này Ca-diệp, những người có trí kia quán sát như vầy: đối với pháp bất thiện, nặng nề ô trược, tối tăm,  không phải là pháp Hiền thánh9, giữa Sa-môn Cù-đàm và các Tông sư dị học kia10, ai là người có khả năng diệt trừ pháp này? Ca-diệp, người có trí kia khi quán sát như vậy, liền thấy biết như vầy: duy chỉ Sa-môn Cù-đàm có khả năng diệt trừ pháp ấy. Ca-diệp, người có trí kia khi quán sát như vậy, suy cầu như vậy, luận thuyết như vậy, Ta ở trong đó có tiếng tăm.11


_________________________________
6. Hán: khổ hạnh nhân lạc vi khổ hành苦行人樂為苦行; Pāli: ekaccaṃ tapassiṃ appa-dukkha-vihàriṃ (…), một số người tu khổ hạnh sống ít khổ.
7. Nhị thú二趣, hai định hướng tái sanh, chỉ thiện thú善趣(Pāli: sugata) và ác  thú惡趣(duggata). Tham chiếu Pāli, Dig I, tr.138: imesaṃ tapassīnaṃ evaṃ āgatiñ ca gatiñ ca cutiñ ca uppattiñ ca yathā-bhūtaṃ pajānāmi: Ta biết một cách xác thực sự đến và đi, chết và tái sanh của những người khổ hạnh ấy.
8. Tham chiếu Pāli, sđd.: tr.139: Tehi pi me saddhiṃ ekaccesu ṭhànesu sameti, ekaccesu ṭhānesu na sameti, Ta tương đồng với họ (các Sa-môn, Bà-la-môn) trong một số trường hợp; không tương đồng với họ trong một số trường hợp.
 9. Hán: bất thiện pháp, trọng trược, hắc minh, phi Hiền thánh  pháp不善法重濁黑冥非賢聖法; Pāli: akusala, sāvajja, asevitabba, nālamāriya, bất thiện, có tội, không nên làm, không thuộc bậc Thánh.
10. Hán: dị chúng sư異眾師; Pāli: pare gaṇācāriyā, tông sư của các giáo phái kia.
11. Pāli: amhe va tattha yebhuyyena pasaṃseyyuṃ, ở đây phần lớn họ tán thưởng chúng ta.

 
       “Lại nữa, Ca-diệp, vị có trí kia quán sát như vầy: đệ tử của Sa-môn Cù-đàm, đối với pháp bất thiện, nặng nề ô trược, tối tăm,  không phải pháp Hiền thánh; hay đệ tử các Tông sư dị học kia đối với pháp bất thiện, nặng nề, ô trược, tối tăm,  không phải pháp Hiền thánh; ai có khả năng diệt trừ pháp này? Ca-diệp, vị có trí kia quán sát như vậy, liền thấy, biết như vầy: duy chỉ đệ tử của Sa-môn Cù-đàm có khả năng diệt trừ pháp ấy. Ca-diệp, vị có trí kia khi quán sát như vậy, suy cầu như vậy, luận như vậy, đệ tử Ta có tiếng tăm.
       “Lại nữa, Ca-diệp, vị có trí kia quán sát như vầy: Sa-môn Cù-đàm, đối với pháp thiện, thanh bạch, vi diệu và là pháp Hiền thánh; hay các Tông sư dị học kia, đối với pháp thiện, thanh bạch, vi diệu và là pháp Hiền thánh; ai là người có khả năng làm lớn rộng để tu  hành12? Ca-diệp, vị có trí kia quán sát như vậy, liền thấy biết như vầy: duy chỉ có Sa-môn Cù-đàm có khả năng làm lớn rộng, tu hành pháp ấy. Ca-diệp, người có trí kia khi quán sát như vậy, suy cầu như vậy, luận thuyết như vậy, Ta ở trong đó có tiếng tăm.
       “Lại nữa, Ca-diệp, vị có trí kia quán sát như vầy: đệ tử của Sa-môn Cù-đàm, đối với pháp thiện, thanh bạch, vi diệu và là pháp Hiền thánh; hay đệ tử của các Tông sư dị học kia, đối với pháp thiện, thanh bạch, vi diệu và là pháp Hiền thánh; ai là người có khả năng làm lớn rộng, tu hành? Ca-diệp, vị có trí kia quán sát như vậy, liền thấy biết như vầy: duy chỉ có đệ tử của Sa-môn Cù-đàm có khả năng làm lớn rộng, tu hành pháp ấy. Ca-diệp, người có trí kia khi quán sát như vậy, suy cầu như vậy, luận thuyết như vậy, đệ tử Ta ở trong đó có tiếng tăm.
      “Ca-diệp, có đạo, có tích13, để Tỳ-kheo ở trong đó tu hành mà tự mình thấy, tự mình biết: Sa-môn Cù-đàm nói đúng thời, nói sự thật, nói có nghĩa, nói đúng pháp, nói đúng luật.
      “Ca-diệp, thế nào là đạo, thế nào là tích, để Tỳ-kheo ở trong đó tu hành mà tự mình thấy, tự mình biết: Sa-môn Cù-đàm nói đúng thời, nói sự thật, nói có nghĩa, nói đúng pháp, nói đúng luật? Này Ca-diệp, ở
___________________________________
12. Hán: tăng trưởng tu hành增長修行; Pāli, nt., tr.140: (…) samàdàya vattati, sau khi tiếp nhận rồi, thực hiện (các pháp ấy).
13. Hán; đạo道, đường đi; Pāli: magga, con đường; Hán: tích跡, lối đi; Pāli: paṭipadā, phương pháp thực hành.

 
đây Tỳ-kheo tu niệm giác ý, y tịch diệt14, y vô dục, y xuất ly. Tu pháp, tinh tấn, hỷ khinh an, định, xả giác ý, y tịch diệt, y vô dục, y xuất yếu15. Ca-diệp, đó là đạo, đó là tích, để Tỳ-kheo ở trong đó tu hành mà tự mình thấy, tự mình biết: Sa-môn Cù-đàm nói đúng thời, nói sự thật, nói có nghĩa, nói đúng pháp, nói đúng luật 16.”
     Ca-diệp nói:
    “Cù-đàm, duy chỉ đạo ấy, tích ấy, Tỳ-kheo ở trong đó tu hành mà tự mình thấy, tự mình biết: Sa-môn Cù-đàm nói đúng thời, nói sự thật, nói có nghĩa, nói đúng pháp, nói đúng luật. Nhưng với khổ hạnh ô uế, có trường hợp được gọi là Bà-la-môn, có trường hợp được gọi là Sa-môn.
     “Những khổ hạnh ô uế nào, mà có trường hợp được gọi là Bà-la-môn, có trường hợp được gọi là Sa-môn?
     “Thưa Cù-đàm, đó là: khỏa thân17, cởi bỏ y phục, rồi lấy tay che;  không nhận đồ ăn từ nồi chảo;  không nhận đồ ăn từ chậu nước;  không nhận đồ ăn giữa hai vách tường;  không nhận đồ ăn giữa hai người,  không nhận đồ ăn giữa hai cái chày18;  không nhận đồ ăn từ gia đình đang ăn;  không nhận đồ ăn từ nhà có thai;  không ăn đồ ăn có chó đứng trước cửa;  không nhận đồ ăn nơi nhà có ruồi;  không nhận mời ăn;  không nhận của người nói đã biết trước;  không ăn cá;  không ăn thịt;  không uống rượu,  không ăn bằng hai bát; một bữa ăn một lần nuốt, cho đến bảy bữa thì thôi19; nhận thức ăn thêm của người,  không nhận quá
_________________________________
14. Hán: chỉ tức止息.
15. Bảy giác ý, hay bảy giác chi, bồ-đề phần. Xem kinh Thập thượng. Trong bản Pāli: con đường và phương pháp đó là Thánh đạo tám chi.
16. Tham chiếu Pāli: tapo-pakkamā ekesaṃ samaṇabrāhmaṇānaṃ samañña-saṃkhāta ca brahmañña-saṃkhātā ca, những hành trì khổ hạnh này được một số Sa-môn, Bà-la-môn gọi là Sa-môn pháp, Bà-la-môn pháp.
17. Từ đây trở xuống, nói về các thực hành khổ hạnh, tham chiếu kinh số 8 “Tán-đà-na” ở trên.
18. Hán: lưỡng ô (cái bay để trét) trung gian兩朽中間; Pāli: musalam antaram. Hình như trong bản Hán có sự nhầm lẫn giữa chữ ô朽và chữ xử杵(cái chày).
19. Hán: nhất xan nhất yết, chí thất xan chỉ. Tham chiếu Pāli: ekāgāriko va hoti ekālopiko, mỗi gia đình là một miếng ăn (chỉ nhận một miếng).

 
bảy lần thêm20; hoặc một ngày ăn một bữa; hoặc hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày ăn một bữa; hoặc chỉ ăn quả; hoặc chỉ ăn cỏ vực21; hoặc chỉ uống nước cơm; hoặc ăn mè22; hoặc chỉ ăn lúa liêm23; hoặc ăn phân bị; hoặc ăn phân nai; hoặc ăn rễ, cành, lá, hoa, hạt của cây; hoặc ăn trái cây tự rụng24; hoặc mặc áo; hoặc mặc áo sa thảo25; hoặc mặc áo vỏ cây; hoặc lấy cỏ đắp lên mình26; hoặc khoác áo da hươu; hoặc bện tóc; hoặc áo bện bằng lông; hoặc áo lượm từ bãi tha ma; hoặc thường đưa tay lên; hoặc  không ngồi giường chiếu; hoặc thường ngồi chồm hỗm; hoặc có người cạo tóc nhưng để râu; hoặc có người nằm trên gai; hoặc có người nằm trên bầu trái; hoặc có người khỏa thân nằm trên phân bị; hoặc một ngày ba lần tắm; hoặc một đêm ba lần tắm. Bằng vô số sự khổ mà làm khổ thân này. Cù-đàm, đó gọi là khổ hạnh ô uế, có trường hợp được gọi là Sa-môn pháp, có trường hợp được gọi là Bà-la-môn pháp.”
    Phật nói:
   “Những người khỏa thân cởi bỏ y phục, bằng vô số phương tiện làm khổ thân này; những người ấy  không đầy đủ giới,  không đầy đủ kiến,  không thể siêng tu, cũng  không phát triển rộng lớn27.”

_____________________________________
20. Khất thực một nhà không đủ, phải khất thực thêm nhà khác, không quá bảy nhà.
21. Hán: dữu莠.
22. Hán: ma mễ麻米.
23. Hán: liêm đạo 稻, có lẽ gạo lứt.
24. Từ “hoặc chỉ ăn quả, cho đến, ăn trái cây tự rụng”, tham chiếu Pāli: sāka-bhakkho và hoti, sāmāka-bhakkho hoti, nīvāra-bhakkho vā hoti, daddula-bhakkho kho vā hoti, haṭa-bhakkho vā hoti, kaṇa-bhakkho vā hoti, ācāma-bhakkho vā hoti, paññāka-bhakkho vā hoti, tiṇa-bhakkho vā hoti, gomaya-bhakkho vā hoti, vana-mūla-palāhāro yaapeti pavatta-phala-bhojī, vị ấy hoặc ăn rau sống, hoặc ăn lúa tắc, ăn gạo sống, ăn lúa daddula, ăn rêu tươi, ăn trấu, ăn nước cơm, ăn bột mè, ăn cỏ, ăn phân bị, ăn rễ, hạt quả tự rụng trong rừng mà sống.
25. Hán: phi sa y披莎衣. Tham chiếu Pāli: sāṇāni pi dhàreti, masāṇnāni pi dhàreti, mặc áo vải gai thuần, hoặc mặc áo vải gai lẫn các thứ vải khác.
26. Hán: thảo xiêm thân草襜身.
27. Tham chiếu Pāli: tassa cāyaṃ sīla-sampadā citta-sampadā paññā-sampadā abhāvitā asacchikatā atha kho so ārakā va sāmaññā, ārākā va brahmaññā, vị ấy không siêng tu giới thành tựu, tâm thành tựu, tuệ thành tựu, còn cách xa Sa-môn pháp, còn cách xa Bà-la-môn pháp.

 
Ca-diệp bạch Phật:
“Thế nào là giới đầy đủ, kiến đầy đủ28, vượt xa các khổ hạnh, vi diệu bậc nhất? ”
Phật bảo Ca-diệp:
“Hãy lắng nghe, hãy suy ngẫm kỹ, Ta sẽ nói cho ông nghe.”
Ca-diệp nói:
“Thưa vâng. Vui lòng xin được nghe.”
Phật nói với Ca-diệp:
“Nếu Như Lai xuất hiện ở đời, cho đến, Tứ thiền, ở ngay trong hiện tại mà được an lạc. Vì sao vậy? Ấy do tinh cần, chuyên niệm nhất tâm, ưa ở chỗ nhàn tĩnh,  không buông lung vậy. Ca-diệp, đó là giới đầy đủ, kiến đầy đủ, thù thắng hơn các thứ khổ hạnh.”
Ca-diệp nói:
“Cù-đàm, tuy nói rằng giới đầy đủ, kiến đầy đủ, vượt hơn các thứ khổ hạnh, vi diệu bậc nhất; nhưng pháp Sa-môn thật là khó; pháp Bà-la-môn thật là khó.29”
Phật nói:
“Ca-diệp, đó là pháp bất cộng của thế gian30, nghĩa là, Sa-môn pháp, Bà-la-môn pháp là khó. Ca-diệp, cho đến Ưu-bà-di cũng biết được pháp đó, là khỏa thân cởi bỏ y phục, cho đến, bằng vô số phương tiện làm khổ mình. Nhưng  không biết rằng tâm ấy là tâm có nhuế, hay tâm  không có nhuế; tâm có hận hay tâm  không có hận; tâm có hại hay tâm  không có hại. Nếu biết tâm ấy, thì  không nói rằng pháp Sa-môn, Bà-la-môn là khó. Vì  không biết,
cho nên nói pháp Sa-môn, Bà-la-môn khó.”
Bấy giờ, Ca-diệp bạch Phật rằng:
“Thế nào là Sa-môn, thế nào là Bà-la-môn có giới cụ túc, kiến cụ túc, là tối thượng, là tối thắng, vi diệu bậc nhất?”
___________________________________
28. Hán: kiến cụ túc見具足; Pāli: citta-sampadā, paññā-sampadā, tâm cụ túc, tuệ cụ túc.
29. Pāli: Dukkaraṃ bho Gotama sāmaññaṃ, dukkaraṃ brahmaññaṃ, khó hành thay, Tôn giả Gotama, là hạnh Sa-môn; khó hành thay, là hạnh Bà-la-môn.
30. Thế gian bất cộng pháp世間不共法; tham chiếu Pāli: Pakati kho esā lokasimṃ, này Kassapa, đó là lẽ tự nhiên trong đời.

 
Phật nói:
“Hãy lắng nghe, hãy suy ngẫm kỹ, Ta sẽ nói cho ông nghe.”
“Thưa vâng, Cù-đàm. Vui lòng xin được nghe.”
 Phật nói:
  “Ca-diệp, Tỳ-kheo kia, bằng tam-muội tâm, cho đến, chứng đắc ba minh, diệt trừ các si mê tối tăm, sanh ánh sáng trí tuệ, gọi là lậu tận trí. Vì sao? Ấy là do tinh cần, chuyên niệm  không quên, ưa chỗ nhàn tĩnh,  không buông lung vậy. Ca-diệp, đó gọi là Sa-môn, Bà-la-môn có giới cụ túc, kiến cụ túc, là tối thượng, là tối thắng, vi diệu bậc nhất.”
   Ca-diệp nói:
   “Cù-đàm, tuy nói đó gọi là Sa-môn, Bà-la-môn có giới cụ túc, kiến cụ túc, là tối thượng, là tối thắng, vi diệu bậc nhất, nhưng pháp Sa-môn, Bà-la-môn thật quá khó, quá khó! Sa-môn cũng khó biết, Bà-la-môn cũng khó biết31.”
   Phật nói:
   “Ưu-bà-tắc cũng có thể tu hành được pháp ấy, nói rằng: ‘Tôi, kể từ hôm nay, có thể khỏa thân cởi bỏ y phục, cho đến, bằng vô số phương tiện gieo khổ cho thân này.’ Không thể do hành vi này mà được gọi là Sa-môn, Bà-la-môn. Nếu chỉ do hạnh này mà có thể được gọi là Sa-môn, Bà-la-môn; thì  không thể nói pháp Sa-môn là quá khó, pháp Bà-la-môn là quá khó. Nhưng  không vì hạnh ấy mà được gọi là Sa-môn, Bà-la-môn, cho nên nói rằng Sa-môn rất khó, Bà-la-môn rất khó.”
    Phật lại nói với Ca-diệp:
    “Xưa, một thời, Ta ở tại Duyệt-kỳ32, trong hang Thất diệp trên Cao sơn33, đã từng giảng về khổ hạnh thanh tịnh cho Phạm chí Ni-câu-đà34. Khi ấy Phạm chí sanh tâm hoan hỷ, được tín tâm thanh tịnh; cúng
_________________________________
31. Tham chiếu Pāli: Dujjāno bho Gotama samaịo, dujjāno brāhmaṇo: khó biết Sa-môn, khó biết Bà-la-môn.
32. La-duyệt-kỳ羅閱祇, tức Vương xá王舍; Pāli: Rājagaha.
33. Cao sơn Thất diệp khốt高山七葉窟, hang núi (Pāli: Sattapaṇṇi-guhā), trên một ngọn núi phía Nam thành Vương xá. Bản Pāli: Gijjha-kūṭta pabbata, núi Linh thứu, phía Đông bắc thành Vương xá.
34. Phạm chí Ni-câu-đà尼俱陀; Pāli: tapasa-brahmacārī Nigrodha, một người Phạm chí tu khổ hạnh tên Nigrodha. Xem kinh số 8 “Tán-đà-na”.

 
dường Ta, xưng tán Ta, cúng dường, tán thán Ta một cách tối thượng.”
    Ca-diệp nói:
   “Thưa Cù-đàm, ai đối với Cù-đàm mà  không phát sanh hoan hỷ, tịnh tín, cúng dường, xưng tán một cách tối thượng? Tôi nay đối Cù-đàm cũng phát sanh hoan hỷ, tịnh tín, cúng dường, xưng tán một cách tối thượng. Tôi quy y Cù-đàm.”
    Phật nói với Ca-diệp:
    “Những gì là giới trong thế gian,  không có giới nào sánh bằng tăng thượng giới này, huống hồ muốn nói hơn. Những gì là tam-muội, trí tuệ, giải thoát kiến, giải thoát tuệ35,  không có cái gì sánh ngang với tăng thượng tam-muội, trí tuệ, giải thoát kiến, giải thoát tuệ; huống hồ muốn nói là hơn.
     “Này Ca-diệp, được nói là sư tử, là chỉ cho Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác. Như Lai, khi ở giữa đại chúng tuyên bố Chánh pháp một cách rộng rãi, tự tại, vô úy. Do đó được gọi là sư tử.  Thế nào, Ca-diệp, Như Lai khi rống tiếng sư tử, lúc ấy  không dũng mãnh36 sao? Chớ nghĩ như vậy. Như Lai ở giữa đại chúng cất tiếng rống sư tử một cách dũng mãnh. Ca-diệp, ngươi bảo rằng Như Lai ở giữa đại chúng cất tiếng rống sư tử một cách dũng mãnh, nhưng  không thể thuyết pháp chăng?37 Chớ nghĩ như vậy. Vì sao? Như Lai ở giữa đại chúng cất tiếng rống sư tử một cách dũng mãnh và thuyết pháp một cách thiện xảo.
     “Thế nào, Ca-diệp, ngươi bảo rằng Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô úy mà cất tiếng rống sư tử, thuyết pháp một cách thiện xảo, nhưng thính giả trong chúng hội  không nhất tâm chăng? Chớ nghĩ vậy. Vì sao? Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô úy mà cất tiếng rống sư tử, thuyết pháp một cách thiện xảo, những người đến hội đều nhất tâm lắng nghe. Thế nào, Ca-diệp, ngươi bảo rằng Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô úy mà cất tiếng rống sư tử, thuyết pháp một
_______________________________
35. Giới, tam-muội, trí tuệ, giải thoát kiến, giải thoát tuệ, tức giới, định, tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến. Bản Pāli nêu bốn: ariyam param sīlam, tối thượng thánh giới, ariyā paramà tapo-jigucchā, tối thượng thánh khổ hạnh, ariyā paramà paññā, tối thượng thánh tuệ, ariyā paramà vimutti, tối thượng thánh giải thoát.
36. Hán: dũng hãn勇捍; Pāli: visārada, tự tin, vô úy.
37. Pāli: visārado ca nadati (…) na ca kho naṃ pañhaṃ pucchanti, cất tiếng sư tử một cách tự tín, nhưng không có ai hỏi câu hỏi nào.

 
 cách thiện xảo, những người đến hội đều nhất tâm lắng nghe, nhưng  không hoan hỷ tín thọ phụng hành chăng? Chớ nghĩ như vậy. Vì sao? Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô úy mà cất tiếng rống sư tử, thuyết pháp một cách thiện xảo, những người đến hội thảy nhất tâm lắng nghe và hoan hỷ tín thọ. Ca-diệp, ngươi bảo rằng Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô úy mà cất tiếng rống sư tử, thuyết pháp một cách thiện xảo, những người đến hội đều nhất tâm lắng nghe và hoan hỷ tín thọ, nhưng  không cúng dường chăng? Chớ nghĩ như vậy. Vì sao? Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô úy mà cất tiếng rống sư tử, thuyết pháp một cách thiện xảo, những người đến hội đều nhất tâm lắng nghe, hoan hỷ tín thọ và thi thiết cúng dường.
      “Ca-diệp, ngươi bảo rằng, Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô úy mà cất tiếng rống sư tử, cho đến, tín kính cúng dường, nhưng  không cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, xuất gia tu đạo chăng? Chớ nghĩ như vậy. Vì sao? Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô úy mà cất tiếng rống sư tử, cho đến, tín kính cúng dường, rồi cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, xuất gia tu đạo.
       “Ca-diệp, ngươi bảo rằng Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô úy mà cất tiếng rống sư tử, cho đến, tín kính cúng dường, rồi cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, xuất gia tu đạo, nhưng  không cứu cánh phạm hạnh38, đến chỗ an ổn, vô dư Niết-bàn chăng? Chớ nghĩ như vậy. Vì sao? Như Lai ở giữa đại chúng dũng cảm, vô úy mà cất tiếng rống sư tử, cho đến, tín kính cúng dường, cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, xuất gia tu đạo, rồi cứu cánh phạm hạnh, đến chỗ an ổn, vô dư Niết-bàn.”
     Bấy giờ, Ca-diệp bạch Phật rằng:
    “Thế nào, thưa Cù-đàm, tôi có thể xuất gia thọ Cụ  giới trong pháp này được chăng?39”
     Phật bảo Ca-diệp:
    “Nếu dị học muốn đến xuất gia tu đạo trong giáo pháp của Ta,
________________________________
38. Cứu cánh phạm hạnh究竟梵行; Pāli: anuttaraṃ brahma-cariya-pariyosānaṃ, hoàn thành phạm hạnh vô thượng.
39. Pāli: Labheyyāhaṃ bhante Bhagavato santike pabbajjaṃ, labheyyaṃ upasam-padati, bạch Thế Tôn, ngay đây, con xin được xuất gia, xin được thọ giới Cụ túc.

 

 phải lưu bốn tháng quán sát40, làm hài lòng chúng Tăng, sau đó mới có thể xuất gia thọ giới. Ca-diệp, tuy có pháp như vậy, nhưng cũng xét theo người.41”
  Ca-diệp nói:
  “Nếu dị học muốn đến xuất gia tu đạo trong Phật pháp, phải lưu bốn tháng quán sát, làm hài lòng chúng Tăng, sau đó mới có thể xuất gia thọ giới. Con nay có thể ở trong Phật pháp bốn năm quán sát, làm hài lòng chúng Tăng, sau đó mới xuất gia thọ giới.”
   Phật bảo Ca-diệp:
  “Ta đã có nói, cũng còn xét theo người.”
  Bấy giờ, Ca-diệp liền ở trong Phật pháp xuất gia thọ Cụ túc giới. Rồi thì, Ca-diệp xuất gia thọ giới chưa bao lâu, bằng tín tâm, tu phạm hạnh vô thượng, ở ngay trong đời này mà tự thân chứng ngộ: sanh tử đã dứt, phạm hạnh đã đứng vững, điều cần làm đã làm xong, không còn tái sanh nữa; tức thời thành A-la-hán.
   Bấy giờ, Ca-diệp nghe những điều Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.

 

 

____________________________________
40. Hán: lưu tứ nguyệt quán sát留四月觀察; Pāli: so cattāro māse parivasati, người ấy sống biệt trú bốn tháng.
41. Pāli: Api ca m’ettha puggala-vemattatā viditā ti, nhưng ở đây Ta cũng nhận biết cá tánh của con người.

 

/53
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »