Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 1 - Bộ A- Hàm I - Kinh Trường A- Hàm Số 1

Đại Tập 1 - Bộ A- Hàm I - Kinh Trường A- Hàm Số 1

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 1030.

Chương 32: 30. Kinh Thế Ký- Phẩm 1: Diêm- Phù- Đề (Trang 551 - 569)

             PHẦN IV
       30. KINH THẾ KÝ
 
PHẨM 1. DIÊM-PHÙ-ĐỀ
PHẨM 2. UẤT-ĐAN-VIẾT
PHẨM 3. CHUYỂN LUÂN THÁNH VƯƠNG
PHẨM 4. ĐỊA NGỤC
PHẨM 5. LONG ĐIỂU
 PHẨM 6. A-TU-LUÂN
PHẨM 7. TỨ THIÊN VƯƠNG
PHẨM 8. ĐAO-LỢI THIÊN
PHẨM 9. TAM TAI
PHẨM 10. CHIẾN ĐẤU
PHẨM 11. BA TRUNG KIẾP
PHẨM 12. THẾ BẢN DUYÊN
30. KINH THẾ KÝ1
 Phẩm 1: CHÂU DIÊM-PHÙ-ĐỀ
   Tôi nghe như vầy:
   Một thời, Phật ở trong hang Câu- lỵ2, rừng Kỳ thọ, vườn Cấp cơ độc, cùng với chúng Đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người.
   Bấy giờ, số đông Tỳ-kheo, sau bữa ăn3, tập trung trên giảng đường cùng bàn luận rằng:
   “Chư Hiền! Thật chưa từng có, nay đây trời đất này do đâu mà tan hoại? Do đâu mà hình thành? Quốc độ mà chúng sanh ở là như thế nào?”
     Khi ấy, Thế Tôn ở chỗ thanh vắng, bằng thiên nhĩ nghe suốt, nghe các Tỳ-kheo, sau bữa ăn, tập trung tại giảng đường, bàn luận như thế. Rồi thì, Thế Tôn rời tĩnh thất, đi đến giảng đường và ngồi xuống. Tuy đã biết nhưng Thế Tôn vẫn hỏi các Tỳ-kheo:
     “Vừa rồi các thầy đang bàn luận về vấn đề gì?”
     Các Tỳ-kheo bạch Phật:
    “Sau bữa ăn, chúng con tập trung tại pháp giảng đường bàn luận rằng: ‘Chư Hiền! Thật chưa từng có, nay đây trời đất này do đâu mà tan hoại? do đâu mà hình thành? Quốc độ mà chúng sanh ở là như thế
__________________________________
1.Bản Hán: Phật Thuyết Trường A-hàm kinh, quyển 18, “Đệ tứ phần Thế Ký kinh Diêm-phù-đề phẩm Đệ nhất” không có Pāli tương đương.
2. Câu-lợi (lỵ) khốt俱利窟, tên một am cốc trong vườn Cấp cơ độc; kinh số 1 “Đại Bản” dịch là Hoa lâm khốt華林窟; Pāli: Kareri-kuṭikā. Trong bản Hán, Kuṭikā, am cốc nhỏ, được hiểu là hang động (Pāli: guhà, Skt.: guhya)
3. Thực hậu食後; Pāli: pacchā-bhattaṃ. Xem cht. 3 kinh số 1 ”Đại Bản”.

 
nào?’ Chúng con tập trung tại giảng đường bàn luận vấn đề như thế.”
    Phật bảo các Tỳ-kheo:
   “Lành thay! Lành thay! Phàm người xuất gia nên hành hai pháp: một là sự im lặng của Hiền thánh, hai là giảng luận pháp ngữ. Các thầy tập trung tại giảng đường cũng nên hành sự im lặng của Hiền thánh hoặc giảng luận Chánh pháp. Này các Tỳ-kheo! Các thầy muốn nghe Như Lai nói về việc trời đất thành, hoại và quốc độ mà chúng sanh ở chăng?”
    Khi ấy, các Tỳ-kheo bạch Phật:
    “Kính vângï, bạch Thế Tôn! Nay thật là phải thời. Chúng con mong ước được nghe. Thế Tôn nói xong, chúng con sẽ phụng trì!”
    Phật nói:
    “Này các Tỳ-kheo! Hãy lắng nghe! Hãy lắng nghe! Hãy suy nghĩ chính chắn. Ta sẽ nói cho các thầy nghe.”
     Phật bảo các Tỳ-kheo:
    “Như trong chỗ mà một mặt trời, mặt trăng vận hành khắp bốn thiên hạ4, tỏa ánh sáng chiếu; có một ngàn thế giới như vậy. Trong ngàn thế giới có một ngàn mặt trời, mặt trăng; có một ngàn núi chúa Tu-di5; có bốn ngàn thiên hạ, bốn ngàn đại thiên hạ, bốn ngàn biển, bốn ngàn biển lớn, bốn ngàn rồng, bốn ngàn rồng lớn, bốn ngàn chim cánh vàng6, bốn ngàn chim cánh vàng lớn, bốn ngàn đường ác7, bốn ngàn đường ác lớn, bốn ngàn vị vua, bốn ngàn vị vua lớn, bảy ngàn cây lớn, tám ngàn địa ngục lớn8, mười ngàn núi lớn, ngàn Diêm-la vương9, ngàn Tứ thiên vương10, ngàn trời Đao-lợi11, ngàn
______________________________________
4. Tứ thiên hạ, hay tứ châu thiên hạ四州天下, chỉ bốn đại lục nằm chung quanh núi Tu-di; Pāli: cattaro dìpā; Skt.: catvaro dvīpā.
5. Tu-di sơn vương須彌山王; Pāli: Sumeru-pabbata-rājā; Skt.: Sumeru-parvata-rājan.
6. Kim-sí điểu金翅鳥; Pāli: garuđa hay garuḍa; Skt.: garuḷa.
7. Ác đạo惡道, chỉ các định hướng tái sinh xấu ở địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh; Pāli: duggata, Skt.: durgata.
8. Trong bản, Đại Nê-lê大泥梨; Pāli: Mahà-niraya hay Mahā-niraka, Skt.: Naraka.
9. Diêm-la vương閻羅王, gọi tắt là Diêm vương, vua địa ngục; Pāli: Yāma.
10. Tứ thiên vương thiên四天王天, tầng thấp nhất trong sáu tầng trời Dục giới; Pāli: Cātumahārājikā Devà hay Cātummahārājikā Devà, Skt.: Cāturmahārājakāyika.
11. Đao-lợi (lỵ) thiên忉利天, dịch là Tam thập tam thiên三十三天, cõi của ba mươi ba vị trời. Tầng thứ hai, Dục giới thiên; Pāli: Tāvatiṃsa.

 
 trời Diệm-ma12, ngàn trời Đâu-suất13, ngàn trời Hóa tự tại14, ngàn trời Tha hóa tự tại15, ngàn trời Phạm16; đó là tiểu thiên thế giới17. Như một tiểu thiên thế giới, ngàn tiểu thiên thế giới như thế là một trung thiên thế giới18. Như một trung thiên thế giới, một ngàn trung thiên thế giới như vậy là một tam thiên đại thiên thế giới19. Phạm vi thế giới thành hoại như thế là nơi chúng sanh cư trú, gọi là một cõi Phật20.”
    Phật bảo các Tỳ-kheo:
    “Cõi đất này dày mười sáu vạn tám ngàn do-tuần21, biên giới vô hạn. Đất nương trên nước. Nước sâu ba ngàn ba mươi do-tuần, biên giới vô hạn. Nước ở trên gió; gió dày sáu ngàn bốn mươi do-tuần, biên giới vô hạn.
     “Này các Tỳ-kheo! Nước của biển lớn ấy sâu tám vạn bốn ngàn do-tuần, biên giới vô hạn. Núi chúa Tu-di, phần chìm xuống biển là tám vạn bốn ngàn do-tuần; phần trên mặt nước cao tám vạn bốn ngàn do-tuần; chân núi sát đất, phần lớn là phần đất cứng chắc. Núi ấy thẳng đứng,  không có loài lõm, sanh các loại cây; cây tỏa ra các mùi hương, thơm khắp núi rừng, là nơi mà phần nhiều các Hiền

_____________________________________
12. Diệm-ma thiên焰摩天, tầng thứ ba trong Dục giới; Pāli: Yāmā devā.
13. Đâu-suất thiên兜率天, tầng thứ tư trong sáu tầng trời Dục giới; Pāli: Tusitā devà, Skt.: Tuwita.
14. Hóa tự tại thiên化自在天, hay Hóa lạc thiên化樂天, tầng thứ 5 trong 6 tầng Dục giới thiên; Pāli: Nimmànarat devà, Skt.: Nirmāṇarati.
15. Tha hóa tự tại thiên他化自在天, tầng thứ sáu trong sáu tầng Dục giới thiên; Pāli: Paranimmitavasavattin, Skt.: Paranirmitavawavartin. j.
16. Phạm thiên梵天, Brahma-devà.
17. Tiểu thiên thế giới小千世界, ngàn thế giới số nhỏ, Skt.: sāhasra cūḍika lokadhātu; Pāli: sahassadhà lokadhātu.
18. Trung thiên thế giới中千世界; ngàn thế giới số trung, Skt.: dvisāhasra madhyama lokadhātu; dvisahassī majjhimikā lokadhātu hay sahassa majjhimakā lokadhàtu.
19. Tam thiên đại thiên thế giới三千大千世界, ba ngàn thế giới số lớn, Skt.: trisāhasramahāsāhasra lokadhàtu; Pāli: ti-sahassī mahàsahassī lokadhātu.
20. Phật-sát佛剎, quốc độ Phật, phạm vi mà giáo pháp của một vị Phật có hiệu năng giáo hóa, Skt.: Buddhakwetra; Pāli: Buddhakhetta.
21. Do-tuần由旬, đơn vị đo đường dài, Skt. = Pāli: yojana; một yojana = bốn hay tám krosa (câu-lô-xá), khoảng bảy hay tám dặm Anh.

 
 thánh, các trời đại thần diệu. Móng chân núi toàn là cát vàng ròng. Bốn phía núi có bốn mô đất rắn doi ra, cao bảy trăm do-tuần, nhiều màu đan xen, được tạo thành bởi bảy báu. Bốn mô đất thoai thoải, uốn cong sát mặt biển.
     “Núi chúa Tu-di có đường cấp22 bằng bảy báu; đường cấp ở dưới núi rộng sáu mươi do-tuần; sát hai bên đường có bảy lớp tường báu, bảy lớp lan can23, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây; tường vàng thì cửa bạc, tường bạc thì cửa vàng; tường thủy tinh thì cửa lưu ly, tường lưu ly thì cửa thủy tinh; tường xích châu thì cửa mã não; tường mã não thì cửa xích châu; tường xa cừ thì cửa các báu. Còn lan can thì cây ngang vàng thì cây dọc bạc,
cây ngang bạc thì cây dọc vàng; cây ngang thủy tinh thì cây dọc lưu ly, cây ngang lưu ly thì cây dọc thủy tinh; cây ngang xích châu thì cây dọc mã não, cây ngang mã não thì cây dọc xích châu; cây ngang xa cừ thì cây dọc các báu. Trên lan can ấy, có lưới báu. Ở dưới lưới vàng ấy có treo linh bạc. Dưới lưới bạc, treo linh vàng. Dưới lưới lưu ly treo linh thủy tinh. Dưới lưới thủy tinh treo linh lưu ly. Dưới lưới xích châu treo linh mã não. Dưới lưới mã não treo linh xích châu. Dưới lưới xa cừ treo linh các báu. Còn cây vàng thì rễ vàng, nhánh vàng, lá, hoa, quả bạc. Còn cây bạc thì rễ bạc, cành bạc, lá hoa quả vàng. Còn cây thủy tinh thì rễ, nhánh thủy tinh; hoa, lá, lưu ly. Còn cây lưu ly thì rễ, nhánh lưu ly; hoa, lá thủy tinh. Còn cây xích châu thì rễ, nhánh xích châu; hoa, lá mã não. Còn cây mã não thì rễ nhánh mã não; hoa, lá xích châu. Còn cây xa cừ thì rễ, nhánh xa cừ; hoa lá các báu.
      “Về bảy lớp tường ấy, tường có bốn cửa; cửa có lan can. Trên bảy lớp tường đều có lầu, gác, đài, quán; bao bọc chung quanh là vườn cảnh, ao tắm, mọc các loài hoa lá báu. Cây báu sắp thành hàng. Hoa quả tốt tươi. Gió hương tỏa bốn phía làm vui lòng người. Chim le le, nhạn, uyên ương, các loại chim kỳ lạ, có hàng ngàn giống loại  không
_________________________________
22. Câu-xá luận, quyển 11: núi Tô-mê-lô (Skt.: Sumeru) có bốn tầng bậc (Skt.: pariwaṇḍās catasro, Hán: tằng cấp層級). Đại XXIX, tr.59b.
23. Hán: lan thuẫn闌楯, lan can với thanh gỗ ngang để vịn tay gọi là lan; thanh gỗ đứng gọi là thuẫn; Pāli, Skt.: vedikā.

 
 kể xiết, cùng hòa âm kêu hót. Lại nữa, đường cấp ở giữa núi chúa Tu-di rộng bốn mươi do-tuần, sát hai bên đường có bảy lớp tường báu, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây báu… cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót, cũng như đường cấp ở dưới núi. Còn đường cấp ở trên rộng hai mươi do-tuần, sát hai bên đường có bảy lớp tường, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây báu… cho đến vô số các loài chim, cùng nhau ca hót, cũng như đường cấp ở giữa.”
   Phật bảo Tỳ-kheo:
  “Đường cấp ở dưới có quỷ thần tên là Già-lâu-la Túc24 ở. Đường cấp ở giữa có quỷ thần tên là Trì Man25 ở. Đường cấp ở trên có quỷ thần tên là Hỷ Lạc26 ở. Bốn doi đất cao bốn vạn hai ngàn do-tuần. Ở đó có cung điện, chỗ ở của Tứ thiên vương; có bảy hàng thành, bảy hàng lan can, bảy hàng lưới, bảy hàng cây báu, các linh báu… cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót, cũng lại như thế.
    “Trên đảnh núi Tu-di có cung trời Tam thập tam27, có bảy vòng thành, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây báu… cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót, cũng lại như thế.
     “Vượt lên trời Tam thập tam một do-tuần, lại có cung trời Diệm-ma; qua khỏi cung trời Diệm-ma một do-tuần, lại có cung trời Đâu-suất; qua khỏi cung trời Đâu-suất một do-tuần, lại có cung trời Hóa tự tại; qua khỏi cung trời Hóa tự tại một do-tuần, lại có cung trời Tha hóa tự tại; qua khỏi trời Tha hóa tự tại một do-tuần, lại có cung trời Phạm-gia-di28.
      “Khoảng giữa trời Tha hóa tự tại và trời Phạm-gia-di có cung
______________________________
24. Hán: Già-lâu-la Túc伽樓羅足, nghĩa đen: chân của Già-lâu-la. Câu-xá luận, quyển 11: có thần Dược-xoa tên là Kiên Thủ堅手(Bàn tay cứng), Đại XXIX tr.59c2. Koza iii Kārikā 63-64: có yakwa tên là Karoṭapāṇi.
25. Trì Man持鬘; Koza, sđd.: Mālādhara.
26. Hỷ lạc喜樂; Koza, sđd.: Sadāmatta, Huyền Tráng (Câu-xá luận. sđd.): Hằng kiêu恆憍.
27. Tam thập tam thiên三十三天, tức Đao-lợi (lỵ) thiên忉利天; Skt.: Tràyastriṃza, Pāli: Tāvatiṃsa.
28. Phạm-gia-di梵加夷, Skt.; Pāli: Brahmakāyika, thường dịch là Phạm chúng thiên梵眾天, tầng thấp nhất trong ba tầng Sơ thiền.

 
 điện Ma thiên29, cao rộng sáu ngàn do-tuần, có bảy lớp tường cung, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây… cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót cũng lại như thế. Qua khỏi cung trời Phạm-gia-di một do-tuần, lại có cung trời Quang âm30; qua khỏi cung trời Quang âm một do-tuần lại có cung trời Biến tịnh31; qua khỏi cung trời Biến tịnh một do-tuần, lại có cung trời Quả thật32; qua khỏi cung trời Quả thật một do-tuần, lại có cung trời Vô tưởng33; qua khỏi cung trời Vô tưởng một do-tuần, lại có cung trời Vô tạo34; qua khỏi cung trời Vô tạo một do-tuần, lại có cung trời Vô nhiệt35; qua khỏi cung trời Vô nhiệt một do-tuần, lại có cung trời Thiện hiện36; qua khỏi cung trời Thiện hiện một do-tuần, lại có cung trời Đại thiện hiện37; qua khỏi cung trời

_______________________________
29. Ma thiên魔天, trong trời Tha hóa tự tại (Pāli: Paranimmitavasavatta) có một số chư Thiên gọi là Ma thiên (Pāli: devaputta-māra). Đại Trí Độ, quyển 56, SA. I. 158 (Dict. Pāli Proper Names).
30. Quang âm thiên光音天, bản Hán, nơi khác, dịch âm: A-ba-hội阿波會; tầng thứ ba thuộc Sắc giới Nhị thiền thiên. Huyền Tráng: Cực quang thiên極光天; Chân Đế: Biến quang thiên遍光天, Skt.: Ābhāsvarā; Pāli: Ābhassara. Theo ngữ nguyên, bản Hán, Ābhā (ánh sáng) + svara (âm thanh); Huyền Tráng: Abhās (ánh sáng) + vara (hạng nhất); Chân Đế có dạng Skt.: gần với Pāli: Ābhās (ánh sáng) + sara (sự đi).
31. Biến tịnh thiên遍淨天, tầng thứ ba thuộc Sắc giới Tam thiền thiên, Skt.: Zubhākftsnā; Pāli: Subhakiṇṇā.
32. Quả thật thiên果實天. Hán, Huyền Tráng: Quảng quả thiên廣果天, tầng thứ ba thuộc Sắc giới Tứ thiền thiên, Skt.: Bfhatphalà; Pāli: Vehapphalā devā.
33. Vô tưởng thiên無想天, hoặc nói đủ: Vô tưởng hữu tình thiên無想有情天, một hạng chư Thiên đặc biệt trong Quảng quả thiên, hay được xếp bên trên Quảng quả thiên; Pāli: Asaññā-sattā devā.
34. Vô tạo thiên無造天, Huyền Tráng: Vô phiền thiên無煩天;  Pāli: Avihà devà; Skt.: Abfha; tầng thứ tư thuộc Sắc giới Tứ thiền; một trong năm Tịnh cư thiên (Skt.: Zuddhāvāsika; Pāli: Suddhāvāsa).
35. Vô nhiệt thiên無熱天, tầng thứ tư, Sắc giới Tứ thiền, một trong năm Tịnh cư thiên. Skt.; Pāli: Atapā.
36. Thiện hiện thiên善現天, tầng thứ sáu Sắc giới Tứ thiền, một trong năm Tịnh cư thiên, Skt.: Sudfza; Pāli: Sudassī devà.
37. Đại thiện hiện大善現, Huyền Tráng: Thiện kiến thiên善見天, tầng thứ bảy Sắc giới Tứ thiền, một trong năm Tịnh cư, Skt.: Sudarzanā; Pāli: Sudassanā.

 
Đại thiện hiện một do-tuần, lại có cung trời Sắc cứu cánh38, qua khỏi trời Sắc cứu cánh, trên có trời  không xứ trí39, trời Thức xứ trí40, trời Vô sở hữu xứ trí41, trời Hữu tưởng vô tưởng xứ trí42, ngang đây gọi là giới hạn của chúng sanh, thế giới chúng sanh, tất cả chúng sanh sanh, lão, bệnh, tử, thọ ấm, thọ hữu ngang đây,  không vượt qua.
   Phật bảo các Tỳ-kheo: Phía Bắc núi Tu-di có một thiên hạ tên là Uất-đan-viết43. Lãnh thổ vuông vức, ngang rộng một vạn do-tuần; mặt người cũng vuông, giống như hình đất.
   “Phía Đông núi Tu-di có một thiên hạ tên là Phất-vu-đãi44; lãnh thổ tròn trịa, ngang rộng chín ngàn do-tuần. Mặt người cũng tròn, giống như hình đất.
    “Phía Tây núi Tu-di có thiên hạ tên là Câu-da-ni45, địa hình như nửa mặt trăng, ngang rộng tám ngàn do-tuần; mặt người cũng vậy, giống như hình đất.
   “Phía Nam núi Tu-di có thiên hạ tên là Diêm-phù-đề46, đất đai phía Nam hẹp, phía Bắc rộng, ngang rộng bảy ngàn do-tuần, mặt người cũng vậy, giống như hình đất.
     “Mặt Bắc núi Tu-di có ánh sáng được tạo thành do bởi vàng
__________________________________
38. Sắc cứu cánh色究竟, hoặc Hữu đảnh有頂, thường phiên âm A-ca-nị-trá   thiên阿迦尼吒天, tầng cao nhất của Sắc giới, Skt.: Akaniwṭhā; Pāli: Akaniṭṭhā.
39. Không xứ trí thiên空處智天; Huyền Tráng: Hư không vô biên xứ thiên虛空無邊處天, Skt.: Ākāzanantāyatana; Pāli: Ākāsānañcàyatanūpagā devā.
40. Thức xứ trí thiên識處智天, Huyền Tráng: Thức vô biên xứ thiên識無邊處天, Skt.: Vijñāṇāntāyatana; Pāli: Viññāṇañcāyatanūpagā.
41. Vô sở hữu trí thiên, Huyền Tráng: Vô sở hữu xứ thiên無所有處天, Skt.:  Ākiñcanayayātana; Pāli: Ākiñcaññāyatanūpagā.
42. Hữu tưởng vô tưởng xứ trí, Huyền Tráng: Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiên非想非非想處天; Skt.: Naivasaṃjñāsaṃjñāyatana; Pāli: Nevasaññāsaññāyayanūpagā.
43. Uất-đan-viết (việt)鬱單曰(越); Huyền Tráng: Bắc Câu-lô châu北俱(拘)盧州;
Skt., Pāli: Uttara-kuru.
44. Phất-vu-đãi沸予逮, hoặc Đông-tỳ-đề-ha東毗提訶, Huyền Tráng: Đông thắng thân châu東勝身州; Skt.: Pūrva-videha, Pāli: Pubba-videha.
45. Câu-da-ni俱耶尼, hoặc Cù-đà-ni-da瞿陀尼耶, Huyền Tráng: Tây Ngưu hóa châu西牛貨州; Skt., Pāli: Godānīya.
46. Diêm-phù-đề閻浮提升, Huyền Tráng: Nam Thiệm-bộ châu南贍部州; Skt.: Jambudvīpa, Pāli: Jambudīpa.

 
chiếu sáng phương Bắc. Mặt Đông núi Tu-di có ánh sáng tạo thành bởi bạc chiếu sáng phương Đông. Mặt Tây núi Tu-di có ánh sáng tạo thành bởi thủy tinh chiếu sáng phương Tây. Mặt Nam núi Tu-di có ánh sáng tạo thành bởi lưu ly chiếu sáng phương Nam.
    “Ở Uất-đan-viết có một đại thọ chúa tên gọi là Am-bà-la47, vòng thân bảy do-tuần, cao một trăm do-tuần, cành lá tỏa ra bốn phía năm mươi do-tuần. Cõi Phất-vu-đãi có một đại thọ, tên là Gia-lam-phù48, vòng thân bảy do-tuần, cao một trăm do-tuần, cành lá tỏa ra bốn phía năm mươi do-tuần. Cõi Câu-da-ni có một đại thọ, tên là Cân-đề49, vòng thân bảy do-tuần, cao một trăm do-tuần, cành lá tỏa ra bốn phía năm mươi do-tuần; dưới cây ấy, có tảng thạch ngưu tràng50, cao một do-tuần. Cõi Diêm-phù-đề có một đại thọ tên là Diêm-phù51, vòng thân bảy do-tuần, cao trăm do-tuần, cành lá tỏa ra bốn phía năm mươi do-tuần. Điểu vương cánh vàng và Long vương có cây tên là Câu-lợi-thiểm-bà-la52, vòng thân bảy do-tuần, cao trăm do-tuần, cành lá tỏa ra bốn phía năm mươi do-tuần. A-tu-la  vương có cây tên là Thiện-trú53, vòng thân bảy do-tuần, cao trăm do-tuần, cành lá tỏa ra bốn phía năm mươi do-tuần. Trời Đao-lợi có cây tên là Trú-độ54, vòng thân bảy do-tuần, cao trăm do-tuần, cành lá tỏa ra bốn phía năm mươi do-tuần.
     “Bên núi Tu-di có núi tên là Già-đà-la55, cao bốn vạn hai ngàn do-tuần, ngang dọc bốn vạn hai ngàn do-tuần, hai bên rất rộng, nhiều màu đan xen, do bảy báu tạo thành; núi này cách núi Tu-di tám vạn bốn ngàn do-tuần, khoảng giữa mọc toàn hoa Ưu-bát-la, hoa Bát-đầu-
_______________________________________
47. Am-Bà-la菴婆羅.
48. Gia-lam-phù加藍浮.
49. Cân-đề斤提.                                                                                   
50. Thạch ngưu tràng石牛幢.
51. Diêm-phù閻浮.
52. Câu-lợi (lỵ)-thiểm-Bà-la俱利晱婆羅.
53. Thiện trú善晝; Pāli: cittapāṇali?
54. Trú độ (đạc)晝度, Huyền Tráng: viên sanh thọ園生樹; Skt.: pārijātaka (hoặc pāriyātra); Pāli: pāricchattaka.
55. Già-đà-la伽陀羅, đoạn dưới nói là Khư-đà-la. Có lẽ nhầm lẫn tự dạng khư佉với già伽; Huyền Tráng: Du-kiện-đạt-la踰健達羅; Skt., Pāli: Yugandhara.

 
ma, hoa Câu-vật-đầu, hoa Phân-đà- lỵ56, lau, tùng, trúc mọc trong đó, tỏa ra các loại hương, mùi thơm lan khắp. Cách núi Khư-đà-la57  không xa, có núi tên là Y-sa-đà-la58, cao hai vạn một ngàn do-tuần, ngang dọc hai vạn một ngàn do-tuần, hai bên rất rộng nhiều màu đan xen, bảy báu tạo thành; cách núi Khư-đà-la bốn vạn hai ngàn do-tuần, khoảng giữa mọc toàn hoa Ưu-bát-la, hoa Bát-đầu-ma, hoa Câu-vật-đầu, hoa Phân-đà- lỵ; lau, tùng, trúc mọc trong đó, tỏa ra các loại hương, mùi thơm lan khắp. Cách núi Y-sa-đà-la  không xa, có núi tên là Thọ-cự-đà-la59, cao một vạn hai ngàn do-tuần, ngang dọc một vạn hai ngàn do-tuần, hai bên rất rộng, nhiều màu đan xen, bảy báu tạo thành; cách núi Y-sa-đà-la hai vạn một ngàn do-tuần, khoảng giữa mọc thuần bốn loài hoa tạp; lau, tùng, trúc cũng mọc trong đó, tỏa ra các loại hương, mùi thơm lan khắp. Cách núi Thọ-cự-đà-la  không xa, có núi tên là Thiện kiến60, cao sáu ngàn do-tuần, ngang dọc sáu ngàn do-tuần, hai bên rất rộng, nhiều màu đan xen, bảy báu tạo thành, cách núi Thọ-cự-đà-la một vạn hai ngàn do-tuần, khoảng giữa mọc toàn bốn loại tạp hoa; lau, tùng, trúc cũng mọc trong đó, tỏa ra các loại hương, mùi hương xông khắp.
     “Cách núi Thiện kiến  không xa, có núi tên là Mã thực61, cao ba ngàn do-tuần, ngang dọc ba ngàn do-tuần, hai bên rất rộng, nhiều màu đan xen, bảy báu tạo thành; cách núi Thiện kiến sáu ngàn do-tuần, ở khoảng giữa mọc toàn bốn loại tạp hoa; lau, tùng, trúc cũng mọc trong đó, tỏa ra các loại hương, mùi thơm lan khắp. Cách núi Mã thực  không
__________________________________
56. Ưu-bát-la優鉢羅, Skt.: Utpala, Pāli: Uppala. Bát-đầu ma鉢頭摩, Skt.: Padma, Pāli: Paduma. Câu-vật-đầu拘物頭, Skt.: Kumuda. Phân-đà-lỵ分陀利, Skt., Pāli: Puṇḍarīka.
57. Khư-đà-la, ở trên nói là Già-đà-la. Có lẽ do lẫn lộn tự dạng. Xem cht. 55.
58. Y-sa-đà-la伊娑陀羅, Huyền Tráng: Y-sa-đà-la伊沙馱羅; Skt.: Īṣādhara; Pāli: Īsadhara.
59. Thọ-cự-đà-la樹巨陀羅, Huyền Tráng: Kiết-địa-lạc-ca羯地洛迦, Skt.: Khadiraka, Pāli: Karavīka.
60. Thiện kiến善見; Huyền Tráng: Tô-đạt-lê-xá-na蘇達梨舍那, Skt.: Sudarzana; Pāli: Sudassana.
61. Mã thực馬食; Huyền Tráng: A-thấp-phược-kiết-noa阿濕縛羯駑. Skt.: Azvakarṇa, Assakaṇṇa.

 
 xa, có núi tên là Ni-dân-đà-la62, cao một ngàn hai trăm do-tuần, ngang dọc một ngàn hai trăm do-tuần, bảy báu tạo thành; cách núi Mã thực ba ngàn do-tuần, ở khoảng giữa mọc toàn bốn loại tạp hoa; lau, tùng, trúc cũng mọc trong đó, tỏa ra các loại hương, mùi thơm lan khắp. Cách núi Ni-dân-đà-la  không xa, có núi tên là Điều phục63, cao sáu trăm do-tuần, ngang dọc sáu trăm do-tuần, hai bên rất rộng, nhiều màu đan xen, bảy báu tạo thành;
cách núi Ni-dân-đà-la một ngàn hai trăm do-tuần, khoảng giữa mọc toàn bốn loại tạp hoa; lau, tùng, trúc cũng mọc trong đó, tỏa ra các loại hương, mùi thơm lan khắp. Cách núi Điều phục  không xa, có núi tên là Kim cang vi64, cao ba trăm do-tuần, ngang dọc ba trăm do-tuần; hai bên rất rộng, nhiều màu đan xen, bảy báu tạo thành; cách núi Điều phục sáu trăm do-tuần, khoảng giữa mọc toàn bốn loại tạp hoa; lau, tùng, trúc cũng mọc trong đó, tỏa ra các loại hương mùi thơm lan khắp.
      “Cách núi Đại kim cang65  không xa, có biển lớn, bờ phía Bắc của biển lớn có cây đại thọ vương tên là Diêm-phù66, vòng thân bảy do-tuần, cao một trăm do-tuần, cành lá tỏa ra bốn phía năm mươi do-tuần, khoảng đất trống hai bên lại có khu rừng tên là Am-bà-la67, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Diêm-bà68, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Sa-la69, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Đa-la70,
ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Na-đa-la71, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu
_______________________________
62. Ni-dân-đà-la尼民陀羅; Huyền Tráng: Ni-dân-đạt-la尼民達羅, Skt.: Nimindhara; Pāli: Nemindhara.
63. Điều phục調伏; Huyền Tráng: Tỳ-na-đát-ca毗那怛迦; Skt., Pāli: Vinataka.
64. Kim cang vi金剛圍, đoạn dưới ghi là Đại kim cang. Huyền Tráng: Thiết luân vi鐵輪圍, Skt.: Cakravàđa, Pāli: Cakkavāḷa.
65. Đoạn trên nói là Kim cang vi. Xem cht. 64.
66. Đại thọ vương Diêm-phù大樹王閻浮, Huyền Tráng: Thiệm-bộ lâm thọ贍部林樹;
Skt., Pāli: Jambu.
67. Am-Bà-la-lâm菴婆羅林.
68. Diêm-Bà閻婆.
69. Sa-la娑羅, các bản khác: Bā-la婆羅.
70. Đa-la多羅.
71. Na-đa-la那多羅.

 
 rừng tên là Nam72, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Nữ73, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Tán-na74, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Chiên-đàn75, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Khư-châu-la76, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Ba-nại-bà-la77, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Tỳ-la78, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Hương nại79, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Lê80, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là An-thạch-lưu81, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Cam82, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Ha-lê-lặc83, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Tỳ-hê-lặc84, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là A-ma-lặc85, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là A-ma-lê86, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Nại87, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Cam-giá88, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Vi89, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Trúc90, ngang dọc năm mươi do-
________________________________
72. Nam男.
73. Nữ女.
74. Tán-na散那.
75. Chiên-đàn旃檀.
76. Khư-châu-la佉詶羅.
77. Ba-nại-Bà-la波奈婆羅.
78. Tỳ-la毗羅.
79. Hương nại香奈.
80. Lê梨.
81. An-thạch-lưu安石留.
82. Cam甘.
83. Ha-lê-lặc呵梨勒.
84. Tỳ-hê-lặc毗醯勒.
85. A-ma-lặc阿摩勒.
86. Am-ma-lê阿摩犁.
87. Nại奈.
88. Cam-giá甘蔗.
89. Vi葦.
90. Trúc竹.

 
tuần; lại có khu rừng tên là Xá-la91, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Xá-la-nghiệp92, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Mộc qua93, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên Đại mộc qua94, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Giải thoát hoa95, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Chiêm-bà96, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Bà-la-la97, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Tu-ma-na98, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Bà-sư99, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên Đa-la-lê100, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Già-da101, ngang dọc năm mươi do-tuần; lại có khu rừng tên là Bồ-đào102, ngang dọc năm mươi do-tuần.
     “Qua khỏi đó thì đất trống. Trong khoảng đất trống ấy lại có ao hoa, ngang dọc năm mươi do-tuần. Lại có ao hoa Bát-đầu-ma, ao hoa Câu-vật-đầu, ao hoa Phân-đà- lỵ; rắn độc đầy trong đó. Mỗi ao ngang dọc năm mươi do-tuần.
       “Qua khỏi đó, đất trống. Trong khoảng đất trống ấy có biển lớn tên là Uất-thiền-na103. Dưới biển này có con đường của Chuyển luân thánh vương, rộng mười hai do-tuần; sát hai bên đường có bảy lớp tường, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây. Các trang hoàng chung quanh đều do bảy báu tạo thành. Khi Chuyển luân thánh vương ra đời trên cõi Diêm-phù-đề thì nước tự nhiên rút đi, đường ấy hiện ra.
__________________________________
91. Xá-la舍羅.
92. Xá-la-nghiệp舍羅業.
93. Mộc qua木瓜.
94. Đại mộc qua大木瓜.
95. Giải thoát hoa解脫花.
96. Chiêm-Bà瞻婆.
97. Bā-la-la婆羅羅.
98. Tu-ma-na修摩那.
99. Bā-sư婆師.
100. Đa-la-lê多羅梨.
101. Già-da伽耶.
102. Bồ-đào莆萄.
103. Uất-thiền-na鬱禪那.

 
    “Cách biển  không xa, có núi tên là Kim bích104. Trong núi có tám vạn cái hang. Tám vạn tượng vương sống ở trong hang ấy. Thân chúng thuần trắng; đầu có nhiều màu; miệng có sáu ngà, giữa các răng có trám vàng.
      “Qua khỏi núi Kim bích rồi, có núi tên là Tuyết sơn105, ngang dọc năm trăm do-tuần, sâu năm trăm do-tuần, phía Đông và Tây nhập vào biển. Ở giữa núi Tuyết có núi báu, cao hai mươi do-tuần.
       “Doi đất núi Tuyết trồi lên một trăm do-tuần, trên đảnh núi ấy có ao A-nậu-đạt106, ngang dọc năm mươi do-tuần; nước ao trong mát, lóng sạch  không cáu bẩn; có bảy bậc bờ thềm,  bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây, nhiều loại màu sắc khác lạ, do bảy báu tạo thành. Lan can thì trụ vàng, tay nắm bạc; trụ bạc, tay nắm vàng; trụ lưu ly, tay nắm thủy tinh; trụ thủy tinh, tay nắm lưu ly; trụ xích châu, tay nắm mã não; trụ mã não, tay nắm xích châu; trụ xa cừ, tay nắm bằng các báu. Lưới vàng, linh bạc; lưới bạc, linh vàng; lưới lưu ly, linh thủy tinh; lưới thủy tinh, linh lưu ly; lưới xa cừ, linh bằng bảy báu. Cây Đa-la107 vàng, gốc vàng, nhánh vàng, lá bạc, quả bạc; cây Đa-la bạc, gốc bạc, nhánh bạc, lá vàng, quả vàng; cây thủy tinh, gốc, nhánh thủy tinh, hoa, quả lưu ly; cây xích châu, gốc, nhánh xích châu, lá mã não, hoa, quả mã não; cây xa cừ, gốc, nhánh xa cừ, hoa, quả bằng các báu. Bên cạnh ao A-nậu-đạt có vườn cảnh, ao tắm, các hoa tích tụ, các loại cây lá hoa quả đều tốt tươi; các loại hương thơm, lan tỏa bốn phương, các loài chim lạ cùng cất tiếng hót họa nhau buồn bã. Dưới đáy ao A-nậu-đạt cát vàng đầy ắp, bốn phía ao đều có thềm bậc; bậc vàng, thềm bạc, bậc bạc, thềm vàng; bậc lưu ly, thềm thủy tinh, bậc thủy tinh,  thềm lưu ly; bậc xích châu, thềm mã não, bậc mã não, thềm xích châu; bậc xa cừ, thềm bằng các báu, bao bọc chung quanh đều có lan can, có bốn loài hoa: xanh, vàng, đỏ, trắng nhiều màu đan xen;
________________________________
104. Kim bích金壁.
105. Tuyết sơn雪山; Skt.: Himavat; Pāli: Himavà hay Himavanta, tức Himalaya.
106. A-nậu-đạt阿耨達; Huyền Tráng: Vô nhiệt trì無熱池, Skt.: Anavatapta; Pāli: Anotatta.
107. Đa-la thọ多羅樹.

 
hoa như bánh xe, rễ như ổ trục xe; rễ hoa ra nhựa màu trắng như sữa, vị ngọt như mật. Phía Đông ao A-nậu-đạt có sông Hằng-già108, từ miệng trâu chảy ra, dẫn theo năm trăm con sông, chảy vào biển Đông. Phía Nam ao A-nậu-đạt, có sông Tân-đầu109, từ miệng sư tử chảy ra, dẫn theo năm trăm dòng sông chảy vào biển Nam. Phía Tây ao A-nậu-đạt có sông Bà-xoa110, từ miệng ngựa chảy ra, dẫn theo năm trăm dòng sông nhập vào biển Tây. Phía Bắc ao A-nậu đạt có sông Tư-đà111, từ miệng voi chảy ra, dẫn theo năm trăm dòng sông chảy vào biển Bắc. Trong cung A-nậu-đạt có nhà năm cột, Long vương A-nậu-đạt112 thường ở trong đó.”
   Phật nói:
   “Vì sao gọi là A-nậu-đạt? A-nậu-đạt nghĩa là gì? Các Long vương ở Diêm-phù-đề này có đủ ba hoạn nạn, chỉ có A-nậu-đạt  không có ba hoạn nạn. Những gì là ba? Một là, toàn thể Long vương ở Diêm-phù-đề đều bị gió nóng, cát nóng chạm vào thân, thiêu đốt da thịt và thiêu đốt xương tủy làm cho khổ não; chỉ có Long vương A-nậu-đạt  không có hoạn này. Hai là, toàn thể long cung ở Diêm-phù-đề bị gió dữ thổi mạnh, thổi vào trong cung, làm mất y báu phục sức, thân rồng lộ ra, làm cho khổ não; chỉ có Long vương A-nậu-đạt  không có hoạn nạn như thế. Ba là toàn thể Long vương ở Diêm-phù-đề, khi ở trong cung vui chơi đều bị chim lớn cánh vàng bay vào cung dắt đi, hoặc mới nghĩ cách muốn bắt rồng để ăn thịt; các rồng sợ hãi, thường ôm lòng lo sầu; chỉ có Long vương A-nậu-đạt  không bị hoạn này; nếu chim cánh vàng khởi niệm muốn ở thì liền mạng chung, cho nên gọi là A-nậu-đạt.”
    Phật bảo Tỳ-kheo:
    “Bên phải núi Tuyết có thành tên là Tỳ-xá-ly113, phía Bắc của thành ấy có bảy núi đen114. Phía Bắc của bảy núi đen có núi
__________________________________
108. Hằng-già恆伽; Huyền Tráng: Căng-già殑伽, Skt.: Gaṅgā.
109. Tân-đầu新頭; Huyền Tráng: Tín-độ信度, Skt.: Sindhu.
110. Bà-xoa婆叉; Huyền Tráng: Phược-sơ縛芻, Skt.: Vakwu.
111. Tư-đà斯陀; Huyền Tráng: Tỉ-đa徙多; Sītā.
112. A-nậu-đạt Long vương阿耨達龍王.
113. Tỳ-xá-li毗舍離; Skt.: Vaizāli; Pāli: Vesāli.
114. Hắc sơn黑山, Skt.: Kìṭādri, núi con kiến; Chân Đế: Nghị sơn蟻山.

 
Hương115, núi ấy thường có tiếng âm nhạc, ca xướng, kỹ nhạc. Núi có hai hang116, một hang tên là Trú117, hang thứ hai tên là Thiện trụ118, do bảy báu trời tạo thành, mềm mại thơm sạch, giống như áo trời. Diệu âm Càn-thát-bà119 vương cùng năm trăm Càn-thát-bà ở trong hang Trú đó. Phía Bắc hang Thiện trú có cây đại thọ vương Ta-la, tên là Thiện trụ120, có bốn ngàn thọ vương vây quanh bốn phía. Dưới Thiện trụ thọ vương có tượng vương, cũng tên là Thiện trụ121, ở dưới cây này, thân thể toàn trắng, bảy chỗ đầy đặn122, có thể bay đi; đầu nó màu đỏ, lông có nhiều màu; sáu ngà đều thon, giữa được trám vàng, có tám ngàn voi vây quanh tùy tùng. Dưới tám ngàn thọ vương ấy, có tám ngàn voi, cũng lại như thế.
    “Phía Bắc thọ vương Thiện trụ có ao tắm lớn, tên là Ma-đà-diên123; ngang dọc năm mươi do-tuần; có tám ngàn ao tắm bao bọc chung quanh, nước ao trong mát,  không có cáu bẩn, được bao quanh các bờ lũy đắp bằng bảy báu. Ao có bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây đều do bảy báu tạo thành: tay nắm vàng thì trụ bạc, tay nắm bạc thì trụ vàng; tay nắm thủy tinh thì trụ lưu ly, tay nắm lưu ly thì trụ thủy tinh; tay nắm xích châu thì trụ mã não, tay nắm mã não thì trụ xích châu; tay nắm xa cừ thì trụ bằng các báu; dưới lưới vàng treo linh bạc, dưới lưới bạc treo linh vàng; lưới thủy tinh treo linh lưu ly, lưới lưu ly treo linh thủy tinh; lưới xích châu treo linh mã não, lưới mã não treo linh xích châu; lưới xa cừ treo linh các báu. Cây vàng thì rễ vàng, nhánh vàng, lá hoa quả bạc; cây bạc thì rễ bạc, nhánh bạc, lá hoa quả vàng; cây thủy tinh thì rễ, nhánh thủy
_____________________________
115. Hương sơn; Huyền Tráng: Hương túy sơn香醉山, Skt.: Gandhamādana.
116. Truyền thuyết Pāli, trong núi Gandhamādana có ba hang: Suvaṭṭa-gūha (hang vàng), Maṭi-gūha (hang ngọc), Rajata-gūha (hang bạc).
117. Trú晝(hang Ban ngày).
118. Thiện trú善晝.
119. Diệu âm Càn-thát-Bà vương妙音乾闥婆王, thủ lãnh thần âm nhạc.
120. Thiện trụ Ta-la thọ vương善住娑羅樹王.
121. Thiện trụ tượng vương善住象王.
122. Thất xứ bình trụ七處平住. Bảy chỗ: lòng hai Bàn chân, hai bàn tay, hai vai và chỏm đầu.
123. Ma-đà-diên摩陀延.

 
 tinh, hoa quả lưu ly; cây lưu ly thì rễ, nhánh lưu ly, hoa quả thủy tinh; cây xích châu thì rễ, nhánh xích châu, hoa quả mã não; cây mã não thì rễ, nhánh mã não, hoa quả xích châu; cây xa cừ thì rễ nhánh xa cừ, hoa, quả các báu.
     “Lại nữa, dưới đáy ao ấy, cát vàng rải khắp, bọc chung quanh ao có đường thềm cấp bằng bảy báu; thềm vàng cấp bạc, thềm bạc cấp vàng; thềm thủy tinh cấp lưu ly, thềm lưu ly cấp thủy tinh; thềm xích châu, cấp mã não, thềm mã não, cấp xích châu; thềm xa cừ, cấp các báu. Sát hai bên thềm có lan can báu. Lại trong ao ấy, sanh bốn loài hoa: xanh, vàng, đỏ, trắng nhiều màu đan xen; hoa như bánh xe, rễ như ổ trục xe. Rễ hoa ra nhựa màu trắng như sữa, vị ngọt như mật. Vòng quanh bốn phía ao có vườn cảnh, rừng, ao tắm, mọc đủ các loại hoa; cây cối xanh tươi, hoa quả dồi dào, vô số các loài chim cùng nhau ca hót, cũng giống như trước. Tượng vương Thiện trụ khi nghĩ muốn dạo chơi vào ao tắm thì liền nghĩ đến tám ngàn voi khác. Khi ấy tám ngàn voi lại tự nghĩ: “Tượng vương Thiện trụ đang nghĩ đến  chúng ta, chúng ta nên đến chỗ tượng vương”. Bầy voi liền đi đến đứng trước tượng vương.
       “Bấy giờ, tám ngàn voi theo tượng vương Thiện trụ đến ao Ma-đà-diên. Trong bầy voi ấy, có con cầm lọng che tượng vương, có con cầm quạt báu quạt tượng vương; trong đó có con tấu xướng kỹ nhạc đi trước mở đường. Tượng vương Thiện trụ vào ao tắm rửa, tấu xướng kỹ nhạc, cùng nhau vui chơi; có con rửa vòi cho tượng vương, có con rửa miệng, gội đầu; rửa ngà, rửa tai, rửa bụng, kỳ lưng, rửa đuôi, rửa chân; trong đó có con nhổ gốc hoa rửa sạch dâng voi ăn, có con lấy bốn loại hoa rải trên voi.
      “Tượng vương Thiện trụ tắm rửa, ăn uống, cùng nhau vui chơi xong, liền lên bờ, đi đến đứng ở cây Thiện trụ. Tám ngàn con voi, sau đó, mới vào ao tắm rửa, ăn uống, cùng nhau vui chơi, xong rồi trở ra, đến chỗ tượng vương.
       “Khi ấy, tượng vương cùng tám ngàn voi tùy tùng sau trước, đến chỗ thọ vương Thiện trụ; trong đó có con cầm lọng che tượng vương; có con cầm quạt quạt tượng vương; trong đó có con tấu xướng kỹ nhạc đi trước mở đường. Khi tượng vương Thiện trụ đến chỗ thọ vương rồi, ngồi nằm đi đứng tùy ý, tám ngàn voi khác ở dưới các cây, tự do ngồi

 
 nằm đi đứng tùy ý. Trong rừng cây ấy, có cây chu vi tám tầm, có cây chu vi chín tầm, cho đến mười tầm, mười lăm tầm, chỉ có thọ vương Ta-la của voi chúa Thiện trụ chu vi mười sáu tầm. Khi cành lá của tám ngàn cây Ta-la rơi rụng thì có luồng gió mát thổi bay xa ra ngoài khu rừng. Lại khi tám ngàn voi đại tiểu tiện thì các quỷ Dạ-xoa hốt bỏ ngoài rừng.”
    Phật bảo các Tỳ-kheo:
    “Tượng vương Thiện trụ có đại thần lực, công đức như thế; tuy là loài súc sanh mà hưởng phước như vậy.”
/53
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »