PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
Tập 1
Tổ chức và điều hành:
Sa môn Thích Tịnh Hạnh
Với sự cộng tác của:
- Hòa thượng Thích Phổ Tuệ;
- Hòa thượng Giáo sư Thích Quảng Độ;
- Thượng tọa Giáo sư Thích Tuệ Sĩ;
- Giáo sư Tiến sĩ Lê Mạnh Thát (Trí Siêu);
- Giáo sư Tiến sĩ Lý Kim Hoa (Nguyên Hồng);
v.v...
Lời Giới Thiệu
Ngày nay, có thể nói, đại đa số Tăng Ni và Phật Tử Việt Nam đều nhận thấy, một bộ Đại Tạng Kinh bằng chữ Việt là nhu cầu hết sức bức thiết, vì hai lý do:
Thứ nhất, hầu hết các nước Phật giáo châu Á, kể cả Lào và Campuchia, đều đã có Đại Tạng Kinh riêng của họ, lẽ ra Phật Giáo Việt Nam cũng đã phải có từ lâu rồi, nhưng cho đến nay vẫn chưa: điều này chứng tỏ Phật Giáo Việt Nam đã thua kém Phật giáo các nước bạn rất xa. Đó là điều mà giới Phật giáo Việt Nam, đặc biệt giới xuất gia, cần quan tâm suy nghĩ.
Thứ hai, khả năng học tập, nghiên cứu Phật giáo trực tiếp qua Đại Tạng Kinh chữ Hán, có thể sẽ mỗi ngày một sút giảm dần; như vậy, nếu không có được bộ Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh và gấp rút, thì e các thế hệ học Phật tương lai sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc nghiên cứu, học hỏi; và về lâu dài, sự phát huy tinh thần Phật pháp ở Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng, nếu không nói bị hạn chế.
Tôi nhấn mạnh, “Đại Tạng Kinh chữ Việt hoàn chỉnh”, có nghĩa là trước nay ở Việt Nam tuy cũng đã có một số lớn kinh điển Hán văn được dịch sang chữ Việt rồi, nhưng số đó còn rời rạc, lẻ tẻ, chứ chưa được tổ chức thành hệ thống hẳn hoi cho đúng với danh nghĩa Đại Tạng Kinh như tạng chữ Hán, để truyền trì cho đời sau. Hơn nữa, “hoàn chỉnh” còn có nghĩa là Đại Tạng Kinh chữ Việt phải gồm đủ Kinh, Luật, Luận và những tác phẩm chú thích, sớ giải v.v… của các bậc Tổ sư tiền bối cũng như của các học giả cận đại.
Nay, tôi được biết, Hòa thượng Thích Tịnh Hạnh- Tiến sĩ Triết học- hiện đang ở bên Đài Loan, phát nguyện đứng ra tổ chức phiên dịch và ấn hành Đại Tạng Kinh chữ Việt. Hòa thượng đã hoạch định một chương trình phiên dịch và ấn loát quy mô, công việc đang được tiến hành một cách thuận lợi và đều đặn. Tôi vô cùng hân hoan và xin nhất tâm tùy hỷ.
Nhưng đây là sự nghiệp lớn lao, công đức cũng vô lượng, không phải sức của một người có thể chu toàn được, mà phải cần sự hỗ trợ của nhiều
người. Cái khó trước kia là ở chỗ đã chưa có ai đề xướng và đứng ra gánh vác trách nhiệm, cho nên dù có người muốn hỗ trợ cũng không biết hướng về đâu. Thì nay đã có Hòa thượng Tịnh Hạnh, tương đối đủ năng lực và điều kiện, đứng ra cáng đáng công việc to lớn này, nên tôi chí thành tha thiết thỉnh cầu chư tôn Hòa thượng, chư Đại đức Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước, hãy phát tâm hộ trì Phật pháp, giúp đỡ Hòa thượng Tịnh Hạnh bằng hai cách:
- Tích cực tham gia công trình phiên dịch, hiệu đính, chứng nghĩa, góp ý v.v…
- Hỗ trợ tài chính, tùy theo khả năng, cho công trình ấn loát, xuất bản v.v…
Đây là việc chung, có ảnh hưởng rất lớn đối với tiền đồ Phật giáo Việt Nam, tôi ước mong quý vị sốt sắng tham gia, để phúc quả to tát này mau được viên mãn.
Sự nghiệp phiên dịch và xuất bản Đại Tạng Kinh chữ Việt, khi được hoàn thành, sẽ góp phần quan trọng trong việc phát triển nền văn học Phật giáo Việt Nam, đồng thời giúp nâng cao địa vị Phật giáo Việt Nam lên ngang tầm địa vị của các nước Phật giáo trên thế giới.
Nguyện cầu chư Phật, Bồ-tát, Thánh tăng, Hộ pháp thiện thần gia bị cho Hòa thượng Tịnh Hạnh, và toàn thể quý vị Mạnh thường quân hộ trì Chánh pháp mau thành tựu đại nguyện.
Nam mô Hộ Pháp Chư Thiên Bồ-tát tác đại chứng minh.
Làm tại Sài Gòn ngày 16- 12- 1998
Sa môn THÍCH QUẢNG ĐỘ
Lời Nói Đầu
Ba tạng giáo điển là kho tàng của trí tuệ Bát- nhã, là chìa khóa của sự thành tựu đạo nghiệp. Hơn mười ba thế kỷ trước, thấu triệt lẽ này, Đại sư Huyền Trang đã phát đại hùng tâm phiên dịch kiện toàn ba tạng giáo điển, giúp Trung Quốc hồng phước sở hữu Trung văn Đại Tạng Kinh.
Trải năm mươi năm ấp ủ một hoài bão tương tự, mãi đến ngày nay, chúng tôi, mới tạm hội đủ nhân duyên để thực hiện bộ Việt tạng; thành tựu ấy chẳng thể, chẳng phải do một cá nhân: nó là thành quả của một công đức cộng đồng, do nhiều trái tim, bộ óc hợp lại.
Xưa kia, sự hiện diện của Hán tạng đã góp phần to lớn vào sự nghiệp nâng cao đời sống văn hóa, tâm linh của Trung Hoa, giúp nước này đủ sức mạnh gốc rễ để đứng vững trước bao phong ba thử thách. Nhận định về điều này, ông Phùng Hữu Lan, giáo sư Viện đại học Bắc Kinh đã viết:
“Vào thời đại Nam Bắc triều, giới tư tưởng Trung Quốc lại có sự chuyển mình lớn lao. Bởi vì lúc đó tư tưởng Phật giáo truyền vào Trung Quốc có hệ thống, người Trung Quốc đối với Phật Giáo cũng thâm nhập hiểu được những huyền diệu sâu xa. Từ đó cho đến thời sơ diệp nhà Tống, những người có tư tưởng lỗi lạc nhất của Trung Quốc đều là những người nghiên cứu tư tưởng đạo Phật (khoảng năm sáu trăm năm). Tư tưởng Phật giáo vốn là sản vật của Ấn Độ nhưng được người Trung Quốc giảng giải, phần nhiều đem tư tưởng đó thâm nhập vào khuynh hướng tư tưởng người Trung Quốc, biến thành tư tưởng Phật giáo của Trung Quốc.”*
Sự hiện diện của Việt tạng đối với dân tộc ta đương nhiên cũng là như thế.
Về mặt nội dung, Việt tạng tiếp nạp cả Đại tạng Bắc truyền và Đại tạng Nam truyền. Về phần Đại tạng Bắc truyền, quan trọng nhất được chọn
_____________________________
*Trung Quốc Triết Học Sử, trang 661, xb.1970 tại Đài Loan:
“Nam Bắc triều thời, Trung Quốc tư tưởng giới hựu hữu đại biến động. Cái ư thị thời Phật giáo tư tưởng hữu hệ thống đích du nhập, nhi Trung Quốc nhơn đối chi diệc năng hữu thậm thâm liễu giải. Tự thử dĩ hậu, dĩ chí Tống sơ Trung Quốc chi đệ nhất lưu tư tưởng gia, giai vi Phật học gia. Phật học bổn vi Ấn Độ chi sản vật, đản Trung Quốc nhơn giảng chi, đa tương kỳ gia nhập Trung Quốc tư tưởng chi khuynh hướng, dĩ sử thành vi Trung Quốc chi Phật học.”
từ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, Tục Tạng Kinh...; thêm vào những sắc thái đặc biệt của Đại tạng Tây Tạng, Nhật Bổn; những văn bản tư tưởng Phật giáo của các vị Cao tăng học giả Đông, Tây cận đại và hiện đại: tất cả vào khoảng một ngàn tập, mỗi tập dày một ngàn trang khổ 17x24cm, như quý vị đang có trước mắt.
Chỉ nói sơ qua, đã mường tượng được công việc thực hiện Việt tạng là khó khăn như thế nào. Thử liếc nhìn qua nước Nhật Bổn chẳng hạn: chỉ mỗi phần việc biên tập tu đính dành cho bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh (vì toàn bộ Đại Tạng Trung văn và Đại tạng Nhật Bổn đã hoàn thành từ lâu), do hai học giả Phật giáo lỗi lạc của Nhật Bản là Cao Nam Thuận Thứ Lang ( Junjiro Takakusu) và Độ Biên Hải Húc (Watanabe) chủ trì, cùng với sự cộng tác của nhiều học giả Phật giáo và Đông Phương học mà phải cống hiến ròng rã mười ba năm trí tuệ tâm huyết, mới tạm gọi là hoàn chỉnh.
Việc đã đành là khó, ngàn khó vạn khó, nhưng lẽ nào thấy khó mà không làm. Tự lượng sức mình có hạn, nhưng vì mỗi chút lòng thao thức cho sinh mệnh, tiền đồ của Phật giáo và dân tộc Việt Nam, chúng tôi đã mạo muội đứng lên khởi xướng, những mong một gọi nghìn thưa: mỗi Phật tử người Việt, xin ý thức trách nhiệm của mình, tự nguyện góp phần công đức vào sự nghiệp thực hiện bộ Việt tạng này, chẳng những là một phương tiện thù thắng đề hoằng dương Chánh pháp, mà còn là đối với nền văn hóa dân tộc được cống hiến vô cùng sâu rộng, cũng xứng đáng là một tông giáo đã có mặt trên đất nước Việt Nam ngót hai ngàn năm lịch sự.
Hôm nay Việt tạng bắt đầu xuất bản, vì là lần đầu, mặc dầu chúng tôi cố gắng đến mức tối đa, nhưng chắc cũng khó tránh khỏi những khuyết điểm về hình thức lẫn nội dung; hy vọng những vị cao kiến chỉ dạy để kịp thời sửa lại trong những tập sau cũng như lần tái bản. Ở đây chúng tôi xin ghi ơn những vị tiền bối đã âm thầm góp sức, cũng như nhiều vị phụng hiến trí tuệ và mồ hôi qua sáu năm và những ngày sắp tới vào công việc gian lao này. Sau hết, không quên cảm ơn Chính phủ Việt Nam trong thời gian qua, đã dành cho chúng tôi nhiều sự dễ dàng trong khi thực hiện Đại Tạng Kinh chữ Việt.
Kính chúc Quý vị vô lượng cát tường.
Viết tại chùa Pháp Bảo Tp. Hồ Chí Minh
Ngày 06 tháng giêng năm Canh Thìn
P.L: 2544 (2000)
Sa môn THÍCH TỊNH HẠNH
PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
TẬP 1
BỘ A- HÀM
I
KINH
TRƯỜNG A- HÀM
SỐ 1
HỘI VĂN HÓA GIÁO DỤC
LINH SƠN ĐÀI BẮC XUẤT BẢN
MỤC LỤC
VÀI NÉT VỀ BỘ A- HÀM…..............................................................................XI
PHÀM LỆ....................................................................................................... XVII
NHỮNG QUY ƯỚC THỐNG NHẤT TRONG PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH XXI
Số 1: KINH TRƯỜNG A-HÀM............................................................................. 1
PHẦN I................................................................................................................ 3
1.KINH ĐẠI BẢN................................................................................................ 5
2.KINH DU HÀNH..............................................................................................51
3.KINH ĐIỂN TÔN........................................................................................... 139
4. KINH XÀ-NI-SA............................................................................................ 155
PHẦN II............................................................................................................. 167
5.KINH TIỂU DUYÊN....................................................................................... 169
6. KINH CHUYỂN LUÂN THÁNH VƯƠNG TU HÀNH.................................. 181
7. KINH TỆ- TÚ................................................................................................ 195
8. KINH TÁN-ĐÀ-NA....................................................................................... 213
9. KINH CHÚNG TẬP....................................................................................... 225
10. KINH THẬP THƯỢNG................................................................................ 245
11. KINH TĂNG NHẤT..................................................................................... 269
12. KINH TAM TỤ............................................................................................ 277
13. ĐẠI DUYÊN PHƯƠNG TIỆN......................................................................281
14. THÍCH ĐỀ- HOÀN NHÂN VẤN................................................................ 295
15. KINH A- NẬU- DI...................................................................................... 313
16. KINH THIỆN SINH..................................................................................... 329
17. KINH THANH TỊNH................................................................................... 343
18. KINH TỰ HOAN HỶ.................................................................................. 361
19. KINH ĐẠI HỘI........................................................................................... 375
PHẦN III.......................................................................................................... 385
20. KINH A-MA-TRÚ....................................................................................... 387
21. KINH PHẠM ĐỘNG.................................................................................. .417
22. KINH CHỦNG ĐỨC................................................................................... 445
23. KINH CỨU-LA-ĐÀN-ĐẦU............................................... 457
24. KINH KIÊN CỐ................................................................. 479
25. KINH LÕA HÌNH PHẠM CHÍ.......................................... 487
26. KINH TAM MINH............................................................ 497
27. KINH SA-MÔN QUẢ........................................................ 509
28. KINH BỐ TRA-BÀ-LÂU................................................... 525
29. KINH LỘ GIÀ.................................................................... 543
PHẦN IV................................................................................. 551
30. KINH THẾ KÝ................................................................... 551
PHẨM 1: CHÂU- DIÊM-PHÙ-ĐỀ........................................... 553
PHẨM 2: UẤT-ĐAN-VIẾT...................................................... 570
PHẨM 3: CHUYỂN LUÂN THÁNH VƯƠNG......................... 577
PHẨM 4: ĐỊA NGỤC............................................................... 587
PHẨM 5: LONG ĐIỂU............................................................. 611
PHẨM 6: A-TU-LUÂN............................................................ 621
PHẨM 7: TỨ THIÊN VƯƠNG................................................. 626
PHẨM 8: ĐAO-LỢI THIÊN......................................................629
PHẨM 9: TAM TAI................................................................. 654
PHẨM 10: CHIẾN ĐẤU.......................................................... 671
PHẨM 11: BA TRUNG KIẾP.................................................. 684
PHẨM 12: THẾ BỔN DUYÊN................................................ 689
SỐ 2: KINH THẤT PHẬT....................................................... 711
SỐ 3: KINH PHẬT TỲ BÀ THI Q.Thượng.............................. 733
KINH PHẬT TỲ BÀ THI Q. Hạ............................................. 744
SỐ 4: KINH THẤT PHẬT PHỤ MẪU TÁNH TỰ.................. 755
SỐ 5: KINH PHẬT BÁT NÊ HOÀN Q.Thượng...................... 763
KINH PHẬT BÁT NÊ HOÀN Q.Hạ....................................... 806
SỐ 6: KINH BÁT NÊ HOÀN Q. Thượng................................. 849
KINH BÁT NÊ HOÀN Q. Hạ................................................. 893
PHỤ LỤC I .............................................................................933
PHỤ LỤC II........................................................................... 935
PHỤ LỤC III.......................................................................... 939
SÁCH DẪN TỔNG QUÁT..................................................... 941
SÁCH DẪN PĀLI.................................................................. 991
VÀI NÉT VỀ BỘ A- HÀM
Ngay sau khi Phật nhập Niết- Bàn bốn tháng, Tôn giả Đại Ca-diếp (Mahakasyapa) triệu ngay một đại hội để kết tập những giáo pháp và các luật lệ mà Phật quy định cho sinh hoạt của Tăng đoàn. Từ đó, theo thời gian và được truyền bá trong nhiều địa phương khác nhau, kinh điển Phật giáo dần dần được hình thành, gọi chung là Tam tạng. Do Tăng đoàn càng về sau càng chia thành nhiều bộ phái, nên có nhiều bộ Tam tạng khác nhau là điều tất nhiên. Tuy nhiên căn cứ các bản dịch Trung văn về văn học A- Hàm, rồi đối chiếu với các kinh Pali tương đương, thì sự khác biệt của các bộ Tam tạng được truyền thừa trong các bộ phái khác nhau không đáng kể. Ngay cả sự phát triển của Kinh điển Đại thừa thành một hệ thống văn học gọi là Bồ- tát tạng rất đồ sộ, nhưng xét từ những giáo pháp căn bản, thì hầu như không có sự khác biệt nào. Đó là điều được khẳng định trong các kinh điển gọi là Nguyên thủy cũng như Đại thừa. Tức là đều nói rằng tất cả giáo pháp của Đức Thế Tôn có chung một hương vị duy nhất, đó là hương vị giải thoát.
Do hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của Ấn Độ mà đạo Phật dần dần biến mất khỏi đất nước này, và hầu hết kinh điển Phật giáo đều bị tiêu hủy. Cho đến ngày nay, Tam tạng của Thượng tọa bộ (Skt: Sthavira, Pali: Theravada) là nền văn học bộ phái duy nhất còn tồn tại nguyên vẹn. Kinh điển các bộ phái khác nếu còn tồn tại thì đại bộ phận là các bản dịch Trung văn và Tây tạng nhưng không trọn vẹn. Thí dụ, như được thừa nhận bởi phần lớn các học giả Phật giáo hiện đại, thì tồn tại trong Trung văn, Trường A-hàm và luật Tứ Phần là kinh điển của Đàm vô đức bộ; Trung A- hàm, Tạp A-hàm, Thập Tụng luật, Căn Bản Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ Tỷ- nại- da, cùng các luận Lục Túc, Phát Trí là Tam Tạng của Thuyết nhất thiết hữu bộ và Căn bản thuyết nhất thiết hữu bộ. Cho đến gần đây, một vài bản kinh và luật của các bộ phái bằng chữ Sanskrit được phát hiện, nhưng không thể nói là đủ cơ sở để nghiên cứu về tư tưởng cũng như tổ chức và sinh hoạt Tăng đoàn riêng biệt của các bộ phái; nếu không căn cứ phần lớn vào các bản dịch Trung văn.
Mặt khác, các Tam tạng kinh điển của Đại Thừa, tuy được cho là phát triển hậu kỳ nhưng là bộ phận quan trọng mà nếu không nghiên cứu thì không thể có được nhận thức cơ bản về bản chất cũng như các khuynh hướng phát triển của Phật giáo song song với lịch sử phát triển xã hội của phần lớn các dân tộc châu Á.
Vì vậy, tuy nói rằng Tam tạng kinh điển của đạo Phật là văn học riêng biệt của đạo Phật, nhưng nếu muốn nghiên cứu một cách nghiêm túc lịch sử tư tưởng và sự phát triển xã hội của các nước châu Á mà không biết đến các hệ thống kinh điển này thì khó có thể có một nhận thức cơ bản được. Có thể nói, đó là gia tài văn hóa đồ sộ của châu Á.
Kể từ bản kinh đầu tiên được phiên dịch, mà truyền thuyết Trung Hoa cho là dưới triều Hậu Hán Minh đế, niên hiệu Vĩnh bình thứ 10 (TL.67), cho đến được tổng kết bởi Chí nguyên lục, tức bản tổng mục lục kinh điển Phật giáo Trung Hoa được soạn tập bởi Khánh Cát Tường vào thời Nguyên Thế Tổ, niên hiệu Chí nguyên thứ 22 (TL.1285), trong khoảng hơn một ngàn hai trăm năm đó, đã xuất 1.440 bộ, với một trăm bốn mươi chín người. Con số hiện tồn của Đại Tạng Trung văn nhiều hơn thế. Được ấn hành trong Đại Chánh Đại tạng, số đầu sách được phiên dịch lên đến 1692 bộ. Nếu kể luôn các chú giải, luận giải, ký sự, sử liệu v.v…, được biên soạn bởi các tông phái Phật giáo Trung Hoa, và Nhật Bổn, thì số lượng đầu sách lên đến hơn 3.000 bộ. Đó là một gia tài vĩ đại và vô cùng trân quý không chỉ của riêng Phật giáo châu Á, mà chung của cả nhân loại.
Trong những ngày đầu kinh điển Phật giáo được phiên dịch sang Trung văn, sự tham gia và đóng góp của Tăng sĩ Việt Nam không phải nhỏ. Những phát hiện, những nghiên cứu lịch sử gần đây đã chứng minh điều này. Những đóng góp ấy trong một thời gian dài bị bỏ quên. Điều đó có những quan hệ mật thiết với tình hình chính trị của đất nước. Chúng ta biết rằng trong các triều đại Lý Trần, mối bang giao hữu hảo giữa Việt Nam và Trung Quốc thường được đánh dấu bằng những sự thỉnh hay tặng các bản Đại Tạng Kinh. Nhưng những sáng tác của Phật giáo thời Lý Trần vẫn không được đưa vào Đại Tạng như một số tác phẩm của Phật giáo Đại Hàn. Đây là điều mà những nhà nghiên cứu Tam Tạng Trung văn ngày nay không thể quên; cần phải có sự thẩm định và bổ túc. Vì tuy Trung văn được dùng làm ngôn ngữ chuyển tải, nhưng cũng đã phản ánh tư duy và truyền thống Phật giáo cá biệt của mỗi nước trong tài sản chung của Phật giáo thế giới.
Bản Đại Tạng Kinh lưu hành sớm nhất tại Trung Hoa được nói là tạng Khai bảo, tức bộ Đại tạng được ấn hành đời Tống Thái Tổ, niên hiệu Khai bảo thứ 4 (971). Ấn bản này hiện nay thất truyền. Tiếp theo, cũng trong đời Tống, nhiều ấn bản khác liên tục xuất hiện, nhưng phần lớn đều thất truyền. Trong số còn lưu truyền, có bản Đông thiền, và bản Tích sa. Riêng bản Tích sa còn thấy lưu hành ở Việt Nam. Đó là bộ Đại tạng do Đức Bà Đoan Huy Hoàng Thái hậu cúng dường cho Hòa thượng Trí Thủ từ tủ sách của vua Khải Định.
Các triều đại tiếp theo, Nguyên, Minh, Thanh rải rác đều có nhiều ấn bản được lưu hành.
Cho đến niên hiệu Đại chánh thứ 11 (TL 1922, Nhật Bổn), dưới sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, được chủ trì bởi hai nhà học giả Phật giáo lỗi lạc của Nhật Bổn là Cao Nam Thuận Thứ Lang (Junjiro Takakusu), và Độ Biên Hải Húc (Watanabe), cùng với sự cộng tác của nhiều học giả Phật giáo và Đông phương học, bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh hoàn chỉnh nhất thuộc Đại Tạng Trung văn từ trước đến nay. Hiện là cơ sở cho các công trình dịch thuật và nghiên cứu của các nhà Phật học thế giới.
Bộ Đại Tạng Đại Chánh gồm một trăm tập, nếu kể luôn cả mười hai tập đồ tượng, tức các tranh tượng Phật giáo. Mỗi tập suýt soát một ngàn trang, mỗi trang chia làm ba cột, với phông chữ Trung văn cớ 10pt. Phần phiên dịch Kinh- Luật- Luận, các sáng tác Phật giáo Ấn Độ, gồm trong ba mươi hai tập, với số hiệu 1692 đầu sách, chia thành mười chín bộ loại. Phần chú giải và soạn thuật của Trung Hoa gồm từ quyển thứ 33 đến 55. Đặc biệt trong đó có một số tác phẩm không thuộc Phật giáo. Như Số Luận (Sankhya), Thắng Luận (Vaisesika), Ma ni giáo tức Minh giáo, Ba tư giáo, Đại Tần Cảnh giáo tức Gia-tô giáo. Số hiệu từ 1693- 2184, nghĩa là gồm năm trăm chín mươi hai tác phẩm. Từ quyển 56 đến 85 là phần soạn thuật của Phật giáo Nhật Bổn, số hiệu từ 2185- 2920. Còn lại là mười hai quyển đồ tượng và ba quyển mục lục.
Tuy là bộ Đại tạng lấy Trung văn làm ngôn ngữ chuyển tải, nhưng không phải dễ đọc và dễ hiểu cho chính người Trung Hoa. Lý do, phần lớn dịch nghĩa có nội hàm không quen thuộc với tập quán tư duy truyền thống người Hoa. Cấu trúc những dịch ngữ này phần nhiều còn chịu ảnh hưởng của văn phạm Sanskrit, tức là quy luật hình thành tập hợp từ mà ngài Huyền
Tráng gọi là “lục ly hiệp thích”. Đó cũng là điều khó. Ngoài ra, sự ảnh hưởng của cú pháp Sanskrit trong các bản dịch cũng là điều khó. Vì nếu không nắm vững quy tắc, nhiều khi không phân biệt được đâu là hình dung từ, đâu là trạng từ; từ nào là chủ từ; mệnh đề nào là danh mệnh đề, tính mệnh đề vv…, khiến cho rất dễ nhầm lẫn. Vì vậy, để giúp chính người Hoa nghiên cứu Đại Tạng Trung văn hệ, nhiều bản kinh được dịch lại thành tiếng Bạch thoại. Tức dịch tiếng Hoa cổ bằng tiếng Hoa mới. Tiêu biểu cho công việc này, đáng kể là bản dịch A- hàm của Thích Ngộ Từ, và Phật Quang Đại Tạng của Phật Quang sơn. Riêng Phật Quang Đại Tạng không phải là bản dịch, mà khảo chứng. Cũng là một ấn bản Đại Tạng Kinh như Đại Chánh, nhưng phần khảo chứng ở cước chú có nhiều chi tiết hơn. Cũng là những tài liệu rất hữu ích cho công việc phiên dịch và nghiên cứu.
Qua các việc làm của người Nhật, và người Trung Hoa, chúng ta thấy việc phiên dịch Đại Tạng Trung văn thành chữ Việt không phải là việc làm dễ dàng. Nghĩa là, không phải chỉ giỏi Trung văn là có thể dịch được. Mặc dù cho đến nay, chúng ta vẫn là người đi sau, thừa hưởng các công trình của nhiều người đi trước.
Với tâm nguyện góp phần xây dựng nền tảng văn hiến cho Phật giáo Việt Nam, chúng tôi trong nhiều năm qua đã theo đuổi công trình phiên dịch, với sự cộng tác của nhiều vị trong nước. Và hôm nay lần lượt cho ra mắt những tập kinh đầu tiên trong Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh: Bộ A- hàm, do Thượng tọa Giáo sư Thích Tuệ Sĩ phụ trách.
Như đã trình bày ở trên, chúng tôi chọn bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh làm để bản, tức bản gốc để phiên dịch. Bộ loại và số hiệu của Đại Chánh được giữ nguyên. Duy chỉ có quyển số tất nhiên phải thay đổi, vì phông chữ và cú pháp giữa Việt và Trung văn bất đồng, nên dài ngắn khác nhau. Thí dụ, riêng Trường A- hàm, các kinh đơn dịch, biệt dịch thuộc Trường A-hàm, trong bản gốc, số hiệu từ 1->7, gồm hai trăm lẻ sáu trang nhưng trong chữ Việt tương đương với một tập khoảng một ngàn trang theo khổ giấy 17x24 cm, phông chữ VNI-Time 12pt. Như vậy số quyển bản Việt sẽ nhiều hơn bản gốc gấp bốn đến năm lần.
Đặc điểm của bộ A-hàm này là có phần khảo chứng ghi ở cước chú, rất hữu ích cho những nhà nghiên cứu và phiên dịch. Những chữ, những đoạn khác nhau trong các ấn bản lưu hành từ trước đều được khảo chứng ghi ở cước chú. Nhiều từ ngữ, và nhiều câu, mà ý nghĩa đặc biệt hay
không rõ ràng so với các ấn bản khác hay Pali cũng được khảo chứng và ghi ở cước chú.
Mục đích phiên dịch Tam tạng là truyền bá Phật pháp, nhưng cũng giúp những nhà nghiên cứu Phật học Việt Nam có cơ sở dữ liệu đáng tin cậy. Tất nhiên là không ai có thể hy vọng sự hoàn hảo nhưng tính trung thực cần phải cao trong mức độ có thể. Vì vậy, phương thức làm việc được tạm nhận của chúng tôi là không chỉ dịch từ chữ này sang chữ khác mà còn cần phải xử lý văn bản, đối chiếu dịch nghĩa, nghiên cứu giáo nghĩa.
Trước hết xin nói về xử lý văn bản. Chúng ta biết rằng Tam Tạng Thánh giáo đại bộ phận là truyền khẩu.Trong quá trình truyền khẩu, do khẩu âm khác nhau giữa các địa phương, dễ dàng đưa đến sự nhầm lẫn từ ngữ, và từ đó kéo theo cả nội hàm giáo nghĩa. Thí dụ, danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm, cũng được dịch là Quan Thế Âm, hoặc Quán Tự Tại, cho thấy dạng Sanskrit hiện tại, Avalokitesvara không phải là dạng nguyên thủy. Hoặc Phạm động và Phạm võng, nếu dẫn được Sanskrit hay Pali là Brahma- Cala, hay Brahma- Jala, thì có thể xác định được ý nghĩa, và chọn nghĩa nào mà người dịch nhận thức là đáng tin tưởng. Do đó công việc đối chiếu và ghi lại kết quả đối chiếu ở cước chú là việc làm cần thiết.
Thêm nữa, chúng ta biết rằng các dịch giả phần lớn từ Ấn Độ hay các nước phụ cận mới sang Trung Quốc, thời gian học tiếng Hoa chưa lâu đủ để phiên dịch chính xác. Công việc phiên dịch phần lớn nhờ người thông ngôn. Có khi người thông ngôn lại không nắm vững vấn đề, nên không hiểu hết giảng giải của dịch giải. Kết quả là có những từ hay những đoạn không chính xác. Thí dụ, trong định thức về Thiền định, ở bậc Tứ thiền, văn dịch của ngài Huyền Tráng nói như vầy: “xả niệm thanh tịnh”. Nhưng trong bản dịch Trường A-hàm thì nói là “hộ niệm thanh tịnh” khiến cho nhiều dịch giả dựa theo cú pháp Hán mà dịch với ý nghĩa là “hộ (trì) cho niệm được thanh tịnh”. Nghĩa là, coi “hộ” như là động từ, có túc từ là “niệm”.Nếu có thể đối chiếu Pāli: “upekkhā sati parisuddham” thì có thể hiểu tại sao dịch là “xả” và tại sao dịch là “hộ” và nhờ vậy có thể hiểu được đoạn văn. Người dịch không hiểu nổi đoạn văn mình dịch, thì người đọc làm sao hiểu? Do đó, trong trường hợp này sự đối chiếu giữa các văn bản cũng rất cần thiết. Nếu không có văn bản tương đương để đối chiếu, mà ý nghĩa của đoạn văn có phần không rõ, thì điều đó cũng cần ghi lại ở cước chú để người đọc cảnh giác, và nếu cần thì tự mình nghiên cứu bổ túc.
Công việc như vậy thật không phải dễ dàng. Tất nhiên, với một nền văn hiến vĩ đại như vậy trải dài theo thời gian, và trải rộng trên nhiều khu vực địa lý khác nhau, với nhiều xu hướng tư tưởng khác nhau như thế, mà đòi hỏi việc làm cho đơn giản, thì dịch như vậy có nghĩa là phản. Tuy nhiên, khả năng con người vốn hữu hạn, không thể cầu toàn. Chúng tôi cố gắng hết mức, để cho giáo pháp của Phật, và lời giảng giải của chư Tổ được trong sáng. Vì là tài sản chung, chúng tôi mong sự góp sức, góp ý, của các bậc thạc học hiện tại cũng như tương lai, để góp phần vun đắp nền tảng Phật pháp Việt Nam cao lớn ngang tầm thời đại.
Sa môn THÍCH TỊNH HẠNH
Cẩn chí
PHÀM LỆ
1.Bản dịch Việt, Trường A-Hàm, được thực hiện theo bản Hán dịch Trường A-hàm kinh 22 quyển, do Phật-đà-da-xá tuyên đọc thuộc lòng (ám độc) bản Phạm, và Trúc Phật Niệm truyền dịch sang Hán văn.
2.Về để bản, bản dịch Việt căn cứ trên ấn bản “Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh”, 100 tập, mỗi tập hơn 1000 trang chữ Hán cỡ 10pt. Trong đó, “A-hàm bộ” gồm hai tập, 151 kinh (No.1->No.151). Trường A-hàm kinh (No.1), thuộc “A-hàm bộ” I, tập 1, từ trang 1 ->149.
3. “Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh” từ No.2->No.25, là những bản Hán dịch lẻ tẻ các kinh thuộc Trường A-hàm. Đây là những bản kinh thuộc nhiều bộ phái khác nhau, do đó nội dung chứa đựng ít nhiều dị biệt. Trường A-hàm hiện tại được phần đông các nhà nghiên cứu cho rằng thuộc Pháp tạng bộ (Dharmagupta), tức cùng bộ phái với Tứ Phần luật. Công trình Việt dịch trong hiện tại chỉ thực hiện trên bản Hán Trường A-hàm (Đại Chánh, No.1). Các bản Hán dịch lẻ tẻ khác (Đại Chánh, No.2-> 151) được dùng làm tư liệu đối chiếu.
4. Về xử lý văn bản trong khi phiên dịch, phần lớn căn cứ công trình hiệu đính và đối chiếu của Đại Chánh. Ngoài ra, tham khảo thêm các công trình hiệu đính và đối chiếu khác, trong đó chủ yếu:
-Phật Quang Đại Tạng Kinh, A-hàm bộ; Phật Quang xuất bản xã, Đài Bắc, 1993.
-Trường A-hàm kinh, bản dịch bạch thoại, Thích Ngộ Từ (Shi Wu Ci), Đài Nam 1997.
-“Kokuyaku-issaikyô”, A-gom-bu, Chô-a-gon-kyô, bản dịch tiếng Nhật của Shin- Ô Iwano; Tokyo 1969.
5. Giữa các ấn bản có những điểm khác nhau, bản Việt sẽ lựa chọn hoặc hiệu đính theo nhận thức của người dịch.
6.Trong bản Hán, nếu có chỗ nào xét thấy văn dịch hay từ ngữ không phù hợp với giáo nghĩa truyền thống phổ biến, người dịch sẽ tham khảo các Kinh, Luật, Luận cần thiết để hiệu chính. Những hiệu chính này được giải thích ở phần cước chú.
7.Bản Hán dịch thực hiện căn cứ trên sự truyền khẩu. Do đó những từ Pāli phát âm tương tự dễ đưa đến ngộ nhận như: sam hay sama và samyak; cala và jala; muti và muṭṭhi, v.v…
Trong những trường hợp này, người dịch sẽ tham chiếu các kinh tương đương, các bản Hán biệt dịch, suy đoán tự dạng nguyên thủy có thể có trong Phạm bản để hiệu chính, Những hiệu chính này đều được ghi ở phần cước chú.
8. Do các truyền bản khác nhau giữa các bộ phái, để có nhận thức về giáo nghĩa nguyên thủy, chung cho tất cả, cần có những nghiên cứu đối chiếu sâu rộng. Công việc này ngoài khả năng hiện tại của các dịch giả. Tuy nhiên, trong trường hợp có thể, những điểm dị biệt giữa các truyền bản sẽ được ghi nhận và đối chiếu. Những ghi nhận này được nêu ở phần cước chú.
9. Bản Hán dịch được phân thành 22 quyển. Bản dịch Việt không chia số quyển như vậy, nhưng sẽ ghi ở phần cước chú mỗi khi bắt đầu một quyển khác.
10. Nội dung bản Hán dịch được xếp thành bốn phần, mỗi phần gồm số kinh nhiều ít khác nhau. Bản dịch Việt giữ nguyên sự phân chia này.
11. Các bản Hán biệt dịch được dùng làm tài liệu tham chiếu đều là các ấn bản của Đại Chánh Đại Tạng Kinh. Số quyển được dẫn sẽ ghi là “Đại” theo sau là số La-mã chỉ thứ tự số quyển. Thí dụ: Đại XXII, nghĩa là, Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh, tập thứ 22. Mặc dù ấn bản Đại tạng này được tái bản nhiều lần, với nhiều nhà xuất bản khác nhau, nhưng số quyển và số trang mỗi quyển được xem là cố định. Do đó, trong các trích dẫn không cần thiết ghi năm và nơi tái bản.
12. Mỗi trang của ấn bản Đại Chánh chia làm ba phần. Trong trích dẫn, các phần này được ghi là a, b, c ngay sau số trang. Trường hợp cần thiết, có thể ghi cả số dòng. Thí dụ: Đại X, tr.125b, hay Đại X. tr125b24.
13. Vì lý do phải thường xuyên di chuyển trú xứ, mà khi di chuyển không thể mang theo các tài liệu cần thiết, do đó khi tham chiếu các bản Pāli tương đương, người dịch đã phải sử dụng nhiều ấn bản Pāli khác nhau. Chủ yếu là ấn bản La-tinh, ấn bản Devanagari, và bản CD room. Số trang, số đoạn các bản không đồng nhất. Do đó các trích dẫn Pāli đối chiếu thường không thống nhất. Khi nào điều kiện thuận tiện, hoàn cảnh cho phép, những sự bất nhất này sẽ phải được chỉnh lý cho thống nhất.
14. Phần lớn các từ Phật học trong bản Han dịch này không phổ biến. Do đó có thể gây khó khăn cho việc đọc và nghiên cứu. Trong các trường hợp như vậy, tuy vẫn giữ nguyên dịch ngữ của bản Hán, nhưng dịch ngữ tương đương thông dụng hơn sẽ được ghi trong phần cước chú. Trong trường hợp có thể, sẽ ghi luôn dịch giả của những dịch ngữ này và xuất xứ của chúng từ bản dịch nào để tiện việc tham khảo.
15. Theo thói quen, trong các bản dịch Việt từ Hán văn, những từ phiên âm tiếng Phạm đều được viết hoa, không phân biệt từ riêng hay từ chung. Thí dụ, do trang phục dị biệt, trong Hán văn không từ nào chính xác tương đương với uttarāsaṅga của tiếng Phạm, nên phần lớn được phiên âm là uất-đa-la-tăng, và trong các bản dịch Việt, từ phiên âm này luôn luôn viết hoa. Bản dịch Việt Trường A-hàm sẽ cố gắng chuẩn hóa cách viết các từ, phiên âm, cũng như các từ dịch nghĩa, để có thể phân biệt từ riêng và từ chung.
-Vì tiếng Phạm là ngôn ngữ đa âm tiết, trong khi Hán là ngôn ngữ đơn âm. Để phiên âm một tiếng Phạm, cần nhiều từ Hán. Những từ Hán phiên âm này sẽ được liên kết nhau bằng dấu nối. Thí dụ: Xá-lợi-phất. là phiên âm của một từ tiếng Phạm: Sāriputra (skt) hay Sāriputta (Pāli). Nhưng nếu viết Xá-lợi Tử, đó là hai từ ghép với nhau, một từ phiên âm, và một từ dịch nghĩa. Sự phân biệt này rất cần thiết để tránh nhầm lẫn xảy ra như từ đàn việt, được giải thích là bố thí để siêu việt tam giới, do nhận thức rằng từ này ghép một phiên âm Phạm của dāna (bố thí) và một từ nghĩa Hán. Thực tế, nếu đàn- việt được viết với dấu nối, nhất định đó là phiên âm của dāna-pati (thí chủ).
-Những từ phiên âm, nếu là từ riêng, không phân biệt nhân danh
hay địa danh, đều được viết với chữ hoa ở đầu. Các chữ tiếp theo đều viết thường và liên kết với nhau bằng dấu nối. Nếu tên riêng do ghép nhiều từ Phạm, mỗi từ bắt đầu bằng chữ hoa ở phiên âm. Thí dụ: Ni-kiền-đà Nhã-đề Tử, cách viết cho thấy có ba từ Phạm ghép lại với nhau: Nirgrantha-Jñaṭi-putra.
-Những tên riêng được dịch nghĩa, nếu là địa danh, chỉ chữ đầu được viết hoa, và không có dấu nối. Thí dụ: Vương xá thành. Nhưng nếu là tên người, tất cả đều viết hoa, không có dấu nối. Thí dụ : Khánh Hỷ.
16.Cuối cùng là các sách dẫn. Sách dẫn chủ yếu là các từ Hán, bao gồm danh từ Phật học, nhân danh và địa danh. Một số từ không phải là thuật ngữ, nhưng trong Hán dịch tối nghĩa, cần suy đoán nguyên hình tiếng Phạm để xác định ngữ nghĩa. Những từ này cũng được liệt kê trong bảng sách dẫn.
17. Một số câu dịch Hán văn tối nghĩa, cần đối chiếu Pāli để suy đoán cú pháp Phạm bản, tìm ý nghĩa gần chính xác để chuyển thành Việt ngữ. Một số câu như vậy cũng được liệt kê trong phần sách dẫn các từ Hán.
18. Mỗi từ Hán trong bảng sách dẫn đều có phụ chú Pāli và Sanskrit để tiện việc tham chiếu.
19. Tài liệu đối chiếu chủ yếu là Pāli, nếu có phụ chú Skt. Thì phần lớn là suy đoán. Vì vậy, ở đây chỉ đưa ra một sách dẫn Pāli, xem như bổ túc cho sách dẫn từ Hán dịch.
Quảng Hương Già- Lam
Mùa an cư, PL.2543
Tuệ Sỹ cẩn chí
NHỮNG QUY ƯỚC THỐNG NHẤT
TRONG PHÁP BẢO ĐẠI TẠNG KINH
I-Viết hoa toàn bộ:
1.Tên người: (Phật) Vô Lượng, (vua) Tự Đức, (Thiền sư) Vạn Hạnh, (Bồ-tát) Quán Thế Âm…
2.Tên nước: Việt Nam, Trung Hoa, Thái Lan, Đài Loan…
3.Tôn xưng danh hiệu Phật: Đức Như Lai, Bậc Chúng Hựu, Đấng Tối Chánh Giác…
4.Tác phẩm, kinh sách: luận Trung Quán, kinh Diệu Pháp Liên Hoa, kinh Trường A-hàm…
II-Viết hoa chữ đầu:
1.Địa danh: thành Vương xá, chùa Ấn quang, rừng Thi Lợi….
2.Thuật ngữ Phật học được nhấn mạnh: Bát chánh đạo, Tứ thánh đế, Khổ xuất yếu thánh đế…
3.Phẩm bậc, quả vị tôn kính: Hòa thượng, Thanh văn, Duyên giác,….
4.Chủng loại: chư Thiên
5. Phương hướng: phương Đông nam, hướng Tây bắc, phía Đông thành vương xá…
III- Viết hoa chữ đầu+ gạch nối: (những từ được phiên âm từ Pāli)
1.Nhân danh: Mãn-độ-ma, Xà-ni-sa, Xá-lợi-phất…
2. Địa danh: nước Bạt-kỳ, thành Xá-vệ,…
3. Thuật ngữ Phật học được nhấn mạnh: A-lại-da, Tam-phật-đà,…
4. Phẩm bậc, quả vị: Tỳ-kheo, Ưu-bà-di,…
5. Chủng loại: A-tu-la, La-sát,…
IV- Gạch nối: (danh từ chung được phiên âm từ Pāli)
Ví dụ: đàn-việt, na-do-tha, do-tuần…
V- Số:
1.Viết thành chữ: (những số qua lớn nên chú thích thêm số)
Ví dụ: hai trăm năm mươi (giới), ba mươi hai (tướng tốt), mười lăm ức bảy ngàn sáu mươi vạn (1.570.600.000)…
2. Viết thành số: số hiệu kinh, số trang dẫn
Ví dụ: Đại I, trang 15, cht.52…
VI- Đặc biệt:
Âm “y” và “i” dù đứng một mình, đứng đầu từ hoặc ở giữa từ, hoặc sau các phụ âm: K, L, M, T, Q vẫn viết theo thói quen cũ.
Ví dụ: kỷ cương, lý luận,…
梵: viết là “Phạm” không viết là “Phạn”(phát âm theo chữ Brahma)
慧: viết là “Tuệ” không viết là “Huệ”.
Tp. Hồ Chí Minh, ngày 8 tháng 9 năm 2000
Sa môn THÍCH TỊNH HẠNH