Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Đại Tập 1 - Bộ A- Hàm I - Kinh Trường A- Hàm Số 1

Đại Tập 1 - Bộ A- Hàm I - Kinh Trường A- Hàm Số 1

Tác giả: Sa Môn Thích Tịnh Hạnh. Năm xuất bản: 2000. Số trang: 1030.

Chương 25: 23. Kinh Cứu- La- Đàn- Đầu (Trang 457 - 478)

23. KINH CỨU-LA-ĐÀN-ĐẦU1
  Tôi nghe như vầy:
  Một thời, Phật ở tại nước Câu-tát-la2, cùng với chúng Đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người du hành trong nhân gian, đến phía Bắc xóm Bà-la-môn Khư-nậu-bà-đề3 ở Câu-tát-la, nghỉ đêm trong rừng Thi-xá-bà4.
   Bấy giờ, có Bà-la-môn tên Cứu-la-đàn-đầu đang nghỉ tại thôn Khư-nậu-bà-đề. Xóm ấy sung túc, nhân dân đông đúc, vườn quán, ao tắm, cây cối, trong xanh, tươi mát. Vua Ba-tư-nặc phong thôn ấy cho Bà-la-môn Cứu-la-đàn-đầu làm phạm phần. Bà-la-môn này từ bảy đời trở lại cha mẹ đều chân chánh  không bị người khinh nhờn, đọc tụng thông suốt ba bộ dị học, có khả năng phân tích các loại kinh thư. Thế điển u vi, không thứ nào không tổng luyện; lại giỏi phép xem tướng đại nhân, dự đoán cát hung, tế tự nghi lễ. Ông có năm trăm đệ tử, dạy dỗ  không hề bỏ phế. Khi ấy, Bà-la-môn muốn thiết lễ đại tế5, chuẩn bị năm trăm con bò đực, năm trăm con bò cái, năm trăm con bê đực, năm trăm con bê
__________________________________
1. Bản Hán, Trường A-hàm, quyển 15, “Đệ tam phần, Cứu-la-đàn-đầu kinh Đệ tứ”. Tương đương Pāli, D. 5, Dig i. 5 Kūṭadanta-sutta.
2.Câu-tát-la俱薩羅(Pāli: Kosala), trong bản Pāli: Phật tại Magadha, cùng với chúng Tỳ-kheo năm trăm người.
3. Câu-tát-la Khư-nậu-Bà-đề Bà-la-môn thôn俱薩羅佉耨婆提婆羅村; Pāli: Khànumataṃ nāma Magadhànaṃ Brāhmaṇa-gamo, một làng Bà-la-môn ở Magadha tên là Khānu-mata.
4. Thi-xá-Bà尸舍婆(Pāli: Siṃsapa). Pāli, sđd.: Khānumate… Ambalaṭṭhikāyaṃ, trong rừng cây Ambalatthika ở Khānumata.
5. Đại tự大祀; Pāli: Mahā-yañña, đại lễ hiến tế sinh vật lớn nhất của Bà-la-môn giáo. Xem mô tả đoạn dưới.

 
 cái, năm trăm con dê và năm trăm con cừu6 để dâng cúng.
       Lúc bấy giờ, các Bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ trong thôn Khư-nậu-bà-đề nghe tin Sa-môn Cù-đàm, con trai dòng họ Thích, đã xuất gia và thành đạo, từ nước Câu-tát-la, du hành trong nhân gian, đến nghỉ ở rừng Thi-xá-bà. Ngài có tiếng tăm lớn, lan truyền khắp thiên hạ, là Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác, mười hiệu đầy đủ, ở giữa chư Thiên, Người đời, Ma hoặc Ma thiên, Sa-môn, Bà-la-môn. Mà tự thân chứng ngộ, rồi giảng pháp cho người, lời nói khoảng đầu, khoảng giữa và khoảng cuối đều chân chánh, đầy đủ nghĩa và vị, phạm hạnh thanh tịnh. “Bậc Chân nhân như vậy, nên đến thăm viếng. Nay chúng ta hãy cùng đi thăm viếng Ngài”. Nói như vậy rồi, họ kéo nhau ra khỏi thôn Khư-nậu-bà-đề, từng đoàn nối tiếp nhau, cùng đến chỗ Phật.
        Khi ấy Bà-la-môn Cứu-la-đàn-đầu đang ở trên lầu cao, từ xa trông thấy từng đồn người nối tiếp nhau, bèn quay lại hỏi người hầu:
       “Những người kia do nhân duyên gì mà từng đồn nối tiếp nhau, muốn đi đâu vậy?”
        Người hầu thưa:
       “Tôi nghe đồn, Sa-môn Cù-đàm, con trai dòng họ Thích, đã xuất gia và thành đạo, từ nước Câu-tát-la, du hành trong nhân gian, đến nghỉ ở rừng Thi-xá-bà. Ngài có tiếng tăm lớn, lan truyền khắp thiên hạ, là Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác, mười hiệu đầy đủ, ở giữa chư Thiên, Người đời, Ma hoặc Ma thiên, Sa-môn, Bà-la-môn. Mà tự thân chứng ngộ, rồi giảng thuyết pháp cho người, lời nói khoảng đầu, khoảng giữa và khoảng cuối đều chân chánh, đầy đủ nghĩa và vị, phạm hạnh thanh tịnh. Những người Bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ trong thôn này, từng đồn nối tiếp nhau, muốn đến thăm viếng Sa-môn Cù-đàm vậy.”
         Rồi Bà-la-môn Cưu-la-đàn-đầu liền ra lệnh cho người hầu rằng:
       “Ngươi hãy nhanh chóng mang lời ta đến với các người ấy rằng: ‘Các khanh hãy dừng lại một lát, hãy đợi ta đến, rồi cùng đi đến chỗ Cù-đàm kia’.”
       Người hầu tức thì mang lời của Cứu-la-đàn-đầu đến nói với các
_______________________________
6. Đặc ngưu特牛; Pāli: usabha, bị đực; đặc độc特犢; Pāli: vacchatara, bê đực; tự độc牸犢; Pāli: vacchatari, bê cái; cổ dương羖羊; Pāli: urabbha, dê đực; yết dương羯羊; Pāli: aja, sơn dương đực. Mỗi thứ bảy trăm con, theo bản Pāli.

 
người ấy rằng: “Các người hãy dừng lại một lát, hãy đợi ta đến, rồi cùng đi đến chỗ Cù-đàm kia”.
     Lúc ấy, mọi người trả lời rằng:
    “Ngươi hãy nhanh chóng trở về thưa với Bà-la-môn rằng, nay thật là phải thời, nên cùng nhau đi.”
     Người hầu trở về thưa:
     “Những người ấy đã dừng rồi. Họ nói: nay thật là phải thời, nên cùng nhau đi.”
     Bà-la-môn liền xuống đài, đến đứng cửa giữa.
     Bấy giờ có năm trăm Bà-la-môn khác đang ngồi bên ngồi cửa giữa, giúp Cứu-la-đàn-đầu thiết lễ đại tự. Thấy Bà-la-môn Cứu-la-đàn-đầu đến, thảy đều đứng dậy nghinh đón, hỏi rằng:
     “Đại Bà-la-môn, ngài muốn đi đâu đây?”
      Cứu-la-đàn-đầu đáp:
      “Có Sa-môn Cù-đàm, con nhà họ Thích, xuất gia và thành đạo, đang ở Câu-tát-la, du hành trong nhân gian, đến rừng Thi-xá-bà, phía Bắc thôn Khư-nậu-bà-đề. Ngài có tiếng tăm lớn, đồn khắp thiên hạ, là Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác, đầy đủ mười hiệu, ở giữa chư Thiên, Người đời, Ma hoặc Ma thiên, Sa-môn, Bà-la-môn, tự thân chứng ngộ, rồi thuyết pháp cho người7, lời nói khoảng đầu, khoảng giữa và khoảng cuối thảy đều chân chánh, đầy đủ nghĩa và vị, phạm hạnh thanh tịnh. Bậc Chân nhân như vậy nên đến viếng thăm. Này các ngài Bà-la-môn, ta lại nghe nói Cù-đàm biết ba loại tế tự8, mười sáu tư cụ tế tự9. Ta tuy là hàng tiên học cựu thức trong chúng, nhưng có chỗ chưa biết rõ. Nay ta muốn cử hành đại tế tự, bị và dê đã đủ. Ta muốn đến Cù-đàm để hỏi về ba pháp tế tự và mười sáu tư cụ tế tự. Nếu chúng ta có được pháp tế tự rồi, công đức đầy đủ, tiếng tăm sẽ đồn xa.”
       Năm trăm người Bà-la-môn liền thưa với Cứu-la-đàn-đầu:
       “Đại sư chớ đi. Vì sao? Kia nên đến đây chứ đây  không nên đến kia. Đại sư có bảy đời cha mẹ đều chân chánh  không bị gièm pha. Nếu đã
___________________________________
7. Xem cht.15 kinh số 20 “A-ma-trú”.
8. Tam chủng tế tự三種祭祀(Pāli: tividha-yañña-sampadam): tế ngựa, tế bò, tế dê; hoặc như kinh giải thích đoạn sau.
9. Thập lục tự cụ十六祀具; Pāli: soḷasa-parikkhāram, sẽ được kể sau.

 
có đủ yếu tố như vậy, thì kia nên đến đây, chớ đây  không nên đến kia. Lại nữa, Đại sư tụng đọc thông suốt ba bộ sách dị học, có thể phân tích các loại kinh thư, thế điển u vi,  không thứ nào là  không tổng luyện. Lại giỏi xem tướng đại nhân, xem tướng tốt xấu, nghi lễ tế tự. Đã thành tựu những pháp ấy, thì kia nên đến đây, chứ đây  không nên đến kia.
    “Lại nữa, Đại sư dung mạo đoan chánh, có sắc tướng của Phạm thiên10. Đã thành tựu pháp ấy thì kia nên đến đây chớ đây  không nên đến kia.
    “Lại nữa, Đại sư có giới đức tăng thượng11, trí tuệ thành tựu. Đã thành tựu pháp ấy, thì kia nên đến đây, chớ đây  không nên đến kia.”
    “Lại nữa, Đại sư có lời nói nhu hòa, biện tài đầy đủ, nghĩa và vị thanh tịnh. Đã có đủ pháp ấy, thì kia nên đến đây chớ đây  không nên đến kia.
    “Lại nữa, Đại sư là vị dẫn đầu đại chúng, có đông đệ tử. Đã có đủ pháp ấy, thì kia nên đến đây, chớ đây  không nên đến kia.
   “Lại nữa, Đại sư thường dạy dỗ năm trăm Bà-la-môn. Đã thành tựu pháp ấy, thì kia nên đến đây, chớ đây  không nên đến kia.
   “Lại nữa, Đại sư có học giả bốn phương đến xin thọ giáo; được hỏi các kỹ thuật, các pháp tế tự, thảy đều trả lời được cả. Đã thành tựu pháp ấy, thì kia nên đến đây, chớ đây  không nên đến kia.
   “Lại nữa, Đại sư được vua Ba-tư-nặc và vua Bình-sa12 cung kính cúng dường. Đã thành tựu pháp ấy thì kia nên đến đây chớ đây  không nên đến kia.
  “Lại nữa, Đại sư giàu có nhiều tài bảo, kho tàng đầy ắp. Đã thành tựu pháp ấy thì kia nên đến đây chớ đây  không nên đến kia.
  “Lại nữa, Đại sư có trí tuệ sáng suốt, nói năng thông lợi,  không hề khiếp nhược. Đã thành tựu pháp ấy, thì kia nên đến đây, chớ đây  không nên đến kia.
  “Đại sư nếu đã đủ mười pháp như vậy, thì kia nên đến đây, chớ đây  không nên đến kia.
____________________________________
10. Hán: hữu Phạm thiên sắc tượng有梵天色像; Pāli: brahma-vaṇṇī brahma-vaccasī: có dung sắc như Phạm thiên, uy nghi như Phạm thiên.
11. Giới đức tăng thượng戒德增上; Pāli: vuddha-sīla đạo đức được trọng vọng.
12. Ba-tư-nặc波斯匿; Pāli: Pasenadi. Bình-sa缾沙; Pāli: Bimbi.

 
Cứu-la-đàn-đầu nói với các Bà-la-môn:
     “Đúng vậy, đúng vậy. Đúng như điều các ông nói. Tôi thật có đủ các đức ấy, chớ  không phải  không có. Nhưng các ông hãy nghe tôi nói. Sa-môn Cù-đàm có công đức để chúng ta nên đến kia chớ kia  không nên đến đây. Sa-môn Cù-đàm từ bảy đời trở lại cha mẹ đều chân chánh  không bị gièm pha. Kia đã thành tựu pháp này, chúng ta nên đến kia, chớ kia  không nên đến đây.
      “Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm có dung mạo đoan chánh, xuất thân từ giai cấp Sát- lỵ. Đã thành tựu pháp này, chúng ta nên đến kia chớ kia  không nên đến đây.
      “Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm sanh chỗ Tôn quý, nhưng đã xuất gia hành đạo13. Thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia  không nên đến đây.
      “Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm sắc sáng đầy đủ14, chủng tánh chân chánh, nhưng đã xuất gia tu đạo. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia  không nên đến đây.
      “Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm sanh vào gia đình giàu có, có uy lực lớn, nhưng đã xuất gia hành đạo. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia  không nên đến đây.
       “Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm có đủ giới Hiền thánh, thành tựu trí tuệ. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia  không nên đến đây.
      “Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm khéo léo nơi ngôn ngữ, dịu dàng hòa nhã. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia  không nên đến đây.
      “Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm là Bậc Đạo Sư của đại chúng, có đông đệ tử. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia  không nên đến đây.
      “Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm vĩnh viễn diệt trừ dục ái,  không có sơ suất thô tháo15, ưu tư và sợï hãi đã trừ, lông tóc không dựng
__________________________________
13. Pāli: mahantaṃ ñati-saṅgaṃ ohāya pabbajito, xuất gia, lìa bỏ gia đình quyến thuộc lớn.
14. Hán: quang minh cụ túc光明具足; kinh Chủng đức: quang sắc cụ túc光色具足.
15. Hán: vĩnh diệt dục ái, vô hữu tốt bạo永滅欲愛無有卒暴; Pāli: khìṇa-kāma-rāgo vigata-cāpallo, đã diệt ái dục, không còn tháo động.

 
đứng16, hoan hỷ, hòa vui; được người17 khen thiện, khéo nói quả báo của hành vi18,  không chê bai đạo khác. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia  không nên đến đây.
      “Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm thường được vua Ba-tư-nặc và vua Bình-sa lễ kính cúng dường. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia, chớ kia  không nên đến đây.
      “Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm được Bà-la-môn Phất-già-la-sa-la19 lễ kính cúng dường; cũng được Bà-la-môn Phạm20, Bà-la-môn Đa- lỵ-giá21, Bà-la-môn Chủng Đức22, Thủ-ca Ma-nạp Đô-da Tử23 thăm gặp cúng dường. Đã thành tựu pháp ấy, thì ta nên đến kia chớ kia  không nên đến đây.
       “Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm được Thanh văn đệ tử tôn thờ, lễ kính cúng dường; cũng được chư Thiên và các chúng quỷ thần khác cung kính. Các dòng họ Thích-ca, Câu- lỵ, Minh-ninh, Bạt-kỳ, Mạt-la, Tô-ma, thảy đều tôn thờ. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia, chớ kia  không nên đến ta.
        “Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm truyền trao cho vua Ba-tư-nặc và vua Bình-sa ba quy y và năm giới. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia  không nên đến đây.
       “Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm truyền trao ba quy năm giới cho Bà-la-môn Phất-già-la-sa-la vân vân. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia  không nên đến đây.
        “Lại nữa, đệ tử của Sa-môn Cù-đàm thọ ba quy năm giới; chư Thiên, dòng họ Thích, Câu- lỵ…, đều thọ ba quy năm giới. Đã thành tựu
______________________________________
16. Hán: y mao bất thụ衣毛不豎.
17. Kiến nhơn見人, Tống-Nguyên-Minh: nhơn kiến人見.
18. Hán: kiến nhân xưng thiện, thiện thuyết hành báo見人稱善善說行報. Tham chiếu Pāli: kamma-vādī kiriya-vàdī, là người chủ trương về nghiệp, chủ trương về hành vi.
19. Phất-già-la-sa-la; Pāli: Pokkharasādi, xem kinh số 20 “A-ma-trú”.
20. Phạm Bà-la-môn (?).
21. Đa-lỵ-giá多利遮; Pāli: Tārukkha.
22. Chủng Đức; Pāli: Soṇadanda, xem kinh số 22 “Chủng Đức”. Trong kinh Chủng Đức, Bà-la-môn này được thay bằng Cư sĩ; Pāli: Kuṭadanta.
23. Thủ-ca Ma-nạp Đô-da Tử; Pāli: Sukhamāṇava-Toddeyaputta.

 
 Pháp này, ta nên đến kia chớ kia  không nên đến đây.
    “Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm khi du hành được hết thảy mọi người cung kính cúng dường. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia  không nên đến đây.
    “Lại nữa, những thành quách, thôn ấp mà Cù-đàm đã đến,  không đâu là  không khuynh động, cung kính cúng dường24.  Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia  không nên đến đây.
     “Lại nữa, những nơi Sa-môn Cù-đàm đi đến, các loài phi nhân, quỷ thần  không dám xúc nhiễu. Đã thành tựu pháp này, ta nên đến kia chớ kia  không nên đến đây.
      “Lại nữa, những nơi Sa-môn Cù-đàm đi đến, nhân dân ở đó đều thấy ánh sáng, nghe âm nhạc trời. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia  không nên đến đây.
      “Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm khi muốn rời khỏi chỗ đã đến. Mọi người đều luyến mộ, khóc lóc mà tiễn đưa. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia  không nên đến đây.
      “Sa-môn Cù-đàm khi mới xuất gia, cha mẹ, Tông thân, khóc lóc, thương nhớ tiếc nuối. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia  không nên đến ta.
     “Sa-môn Cù-đàm xuất gia khi còn trai trẻ, dẹp bỏ các thứ trang sức, voi, ngựa, xe báu, ngũ dục, anh lạc. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia  không nên đến đây.
      “Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm khước từ ngôi vị Chuyển luân vương, xuất gia hành đạo. Nếu Ngài tại gia, sẽ trị vì bốn thiên hạ, thống lãnh dân vật, thì chúng ta đều là thần thuộc. Đã thành tựu pháp ấy, thì ta nên đến kia chớ kia  không nên đến đây.
      “Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm hiểu rõ Phạm pháp, có thể nói cho người khác và cũng nói chuyện trao đổi với Phạm thiên. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia  không nên đến đây.
       “Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm đầy đủ cả ba mươi hai tướng. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia không nên đến đây.
_____________________________________
24. Hán: vô bất khuynh động cung kính cúng dường無不頃動恭敬供養. Kinh Chủng đức dịch hơi khác: vị nhơn cúng dường為人供養(những địa điểm mà Phật từng đến) được người cúng dường.

 
    “Lại nữa, Sa-môn Cù-đàm có trí tuệ thông suốt,  không có khiếp nhược. Đã thành tựu pháp này, thì ta nên đến kia chớ kia  không nên đến đây.
    “Cù-đàm kia nay đến thôn Khư-nậu-bà-đề này, đối với ta là tôn quý, vả lại là khách. Ta nên thân hành đến thăm viếng.”
     Năm trăm Bà-la-môn khi ấy thưa với Cứu-la-đàn-đầu rằng:
    “Kỳ diệu thay, hy hữu thay, công đức của vị kia đến như vậy chăng? Trong các đức, giả sử Cù-đàm chỉ cần có một đức là đã  không nên đến đây rồi, huống hồ nay gồm đủ cả. Vậy ta hãy kéo hết đi thăm hỏi.”
     Cứu-la-đàn-đầu đáp:
    “Các ngươi muốn đi thì nên biết thời.”
     Rồi Bà-la-môn liền thắng cỗ xe báu, cùng với năm trăm Bà-la-môn và các Bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ ở Khư-nậu-bà-đề, trước sau vây quanh, đi đến rừng Thi-xá-bà. Đến nơi, xuống xe, đi bộ, tiến đến chỗ Thế Tôn, chào hỏi xong, ngồi xuống một bên. Trong lúc ấy, trong số các Bà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ, có người lễ Phật rồi ngồi xuống; có người chào hỏi xong rồi ngồi xuống; có người chỉ xưng tên rồi ngồi xuống; có người chắp tay hướng về Phật rồi ngồi xuống; có người im lặng ngồi xuống. Khi mọi người ngồi yên chỗ, Cứu-la-đàn-đầu bạch Phật rằng:
    “Tôi có điều muốn hỏi. Nếu Ngài có rỗi, cho phép, tôi mới dám hỏi.
     Phật nói:
   “Xin cứ hỏi tùy ý.”
    Bà-la-môn bạch Phật:
   “Tôi nghe nói Cù-đàm thông hiểu ba loại tế tự và mười sáu tư cụ tế tự, là những điều mà chúng tôi, tiên túc kỳ cựu,  không hiểu biết. Nay chúng tôi muốn cử hành đại tế tự; đã chuẩn bị đủ năm trăm bị đực, năm trăm bị cái, năm trăm bê đực, năm trăm bê cái, năm trăm con dê, năm trăm con cừu. Hôm nay cố ý đến đây, Tôi muốn hỏi ba pháp tế tự và mười sáu tế cụ.  Nếu tế tự này mà được thành tựu, sẽ được  quả báo lớn, tiếng tăm đồn xa, được trời  và người kính trọng.”
     Bấy giờ, Thế Tôn nói với Cứu-la-đàn-đầu rằng:
     “Nay ông hãy lắng nghe, hãy lắng nghe, hãy suy ngẫm kỹ, tôi sẽ giảng thuyết cho.”
      Bà-la-môn nói:
  “Xin vâng, thưa Cù-đàm, tôi rất muốn nghe.”
   Rồi Phật nói với Cứu-la-đàn-đầu:
  “Vào một thời quá khứ xa xưa, có vị vua Quán đảnh thuộc dòng Sát- lỵ25, muốn thiết lễ đại tự, tập họp đại thần Bà-la-môn26 đến bảo rằng:
    Ta nay rất giàu có, tài bảo dồi dào, ngũ dục thỏa mãn. Tuổi ta đã già yếu. Dân chúng cường thịnh,  không có sự khiếp nhược. Kho tàng đầy ắp. Nay ta muốn thiết lễ đại tự. Theo các ngươi, pháp tế tự cần những gì?”
     Khi ấy, có vị đại thần kia tâu vua rằng:
     “Tâu Đại vương, quả như lời Đại vương, nước giàu, binh mạnh, kho tàng đầy ắp. Nhưng dân chúng phần nhiều ôm ác tâm, tập các phi pháp. Nếu tế tự vào lúc này thì  không thành phép tế tự. Như sai ăn cướp đuổi ăn cướp, thì sự sai khiến chẳng thành.
      “Tâu Đại vương, chớ nghĩ rằng, đây là dân của ta; ta có thể đánh, có thể giết, có thể khiển trách, có thể ngăn cấm. Những kẻ gần gũi vua, nên cung cấp chúng những thứ cần yếu. Những người buôn bán, nên cung cấp chúng tài bảo. Những người chuyên tu điền sản, hãy cung cấp chúng bị, bê, hạt giống. Chúng mỗi người tự mình kinh doanh. Vương  không bức bách dân, thì dân được an ổn, nuôi nấng con cháu, cùng nhau vui đùa.”
       Phật lại nói với Cứu-la-đàn-đầu:
      “Rồi thì, sau khi nghe lời của các đại thần, vua liền cung cấp y phục ẩm thực cho những người thân cận, tài bảo cho những người buôn bán, trâu bị, thóc giống cho những người làm ruộng. Bấy giờ nhân dân mỗi người tự lo công việc của mình,  không xâm hại nhau, nuôi nấng con cháu, cùng nhau vui đùa.”
        Phật lại nói:
__________________________________
25. Hán: Sát-lỵ vương thủy nhiễu đầu chủng剎利王水澆頭種, vua được truyền ngôi, khi đăng quang được rưới nước lên đầu, khác với vua tự lập, như Chuyển luân vương. Pāli
cho biết tên vua: rājā Mahā-vijito nāma ahosi, có ông vua tên Mahāvijita.
26. Bà-la-môn đại thần婆羅門大臣, chỉ người Bà-la-môn làm tư tế cho vua, hoặc làm quốc sư, phụ tướng; Pāli: purohita brāhmaṇa.

 
      “Sau đó, vua lại triệu quần thần đến bảo rằng: ‘Ta nước giàu, binh mạnh, kho tàng đầy ắp. Ta cung cấp cho nhân dân  không thiếu thốn cái gì. Chúng nuôi dưỡng con cháu, cùng nhau vui đùa. Nay ta muốn thiết lễ đại tự. Theo các ngươi, phép tế tự cần có những gì?’
      “Các đại thần tâu:
      “Đúng vậy, đúng vậy, như lời Đại vương nói, ‘Nước giàu, binh mạnh, kho tàng đầy ắp. Ta cung cấp cho nhân dân  không thiếu thốn cái gì. Chúng nuôi dưỡng con cháu, cùng nhau vui đùa.’ Nếu Đại vương muốn tế tự, có thể truyền lệnh cho cung nội biết.
      “Vua làm như lời các đại thần; vào truyền lệnh cung nội: ‘Ta nước giàu, binh mạnh, kho tàng đầy ắp. Ta cung cấp cho nhân dân  không thiếu thốn cái gì. Chúng nuôi dưỡng con cháu, cùng nhau vui đùa. Nay ta muốn thiết lễ đại tự.’
      “Các phu nhân liền tâu vua:
      “Đúng vậy, đúng vậy, như lời Đại vương, nước giàu binh mạnh, kho tàng đầy ắp, tài bảo dồi dào. Nếu muốn tế tự, nay thật đúng lúc.
       Vua trở ra, báo cho quần thần biết:
      “Ta nước giàu, binh mạnh, kho tàng đầy ắp. Ta cung cấp cho nhân dân  không thiếu thốn cái gì. Chúng nuôi dưỡng con cháu, cùng nhau vui đùa. Nay ta muốn thiết lễ đại tự. Ta đã truyền lệnh cung nội. Các  ngươi hãy nói hết cho ta, cần có những thứ gì?
       “Bấy giờ, các đại thần liền tâu vua rằng:
       “Đúng vậy, đúng vậy, như lời Đại vương nói. Đại vương muốn tế tự. Đã truyền cho nội cung biết, nhưng chưa nói cho thái tử, hoàng tử, đại thần, tướng sĩ biết27. Đại vương nên lệnh truyền cho biết. 
       “Vua nghe lời các đại thần, bèn truyền lệnh cho thái tử, hoàng tử, đại thần, tướng sĩ rằng:
      “Ta nước giàu binh mạnh, kho tàng đầy ắp. Nay ta muốn thiết lễ đại tự.
      “Khi ấy, thái tử, hoàng tử, quần thần và các tướng sĩ, tâu vua rằng:
___________________________________
27. Bốn tư trợ của đại tự, theo bản Hán: hoàng hậu, thái tử, quần thần và tướng sĩ. Theo bản Pāli, cattāro anumati-pakkhā (bốn tư trợ thuận tùng): 1. Hoàng tộc (janapade khattiyā); 2. Triều thần (amaccā parisajjā); 3. Bà-la-môn phú hào (brāhmaṇa-mahāsāla); 4. Cư sĩ phú hào (gahapati-necayikā).

 
    “Đúng vậy, đúng vậy, như lời Đại vương, nước giàu binh mạnh, kho tàng đầy ắp, tài bảo dồi dào. Nếu muốn tế tự, nay thật đúng lúc.
    “Vua lại báo cho quần thần biết:
    “Ta nước giàu, binh mạnh, kho tàng đầy ắp. Tài bảo dồi dào. Nay ta muốn thiết lễ đại tự. Ta đã truyền lệnh cung nội, thái tử, hoàng tử, cho đến tướng sĩ. Nay muốn thiết lễ đại tự, cần có những thứ gì?
      Các đại thần liền tâu:
     “Như lời Đại vương. Muốn thiết lễ đại tự, nay chính là lúc.
     “Vua nghe lời, cho dựng những ngơi nhà mới ở thành Đông. Vua đi vào nhà mới. Mình khoác áo da hươu, thoa mình bằng dầu bơ thơm, lại đội sừng hươu lên đầu. Sai trét phân bị lên đất, rồi ngồi nằm trên đó. Rồi đệ nhất phu nhân, đại thần Bà-la-môn, chọn một con bị cái màu vàng. Một phần sữa để vua ăn; một phần sữa để cho phu nhân ăn; một phần sữa để cho đại thần ăn; một phần sữa cúng dường đại chúng, còn lại cho bê. Bấy giờ, nhà vua thành tựu tám pháp, đại thần thành tựu bốn pháp.
      “Những gì là tám pháp nhà vua thành tựu?
      “Nhà vua thuộc dòng Sát- lỵ, từ bảy đời trở lại cha mẹ đều chân chánh,  không bị người khinh chê. Đó là thành tựu pháp thứ nhất. Nhà vua thuộc dòng tộc Sát- lỵ, có dung mạo đoan chánh. Đó là pháp thứ hai.
       “Nhà vua có giới đức tăng thạnh, trí tuệ đầy đủ. Đó là pháp thứ ba. Nhà vua tập đủ các loại kỹ thuật: cưỡi voi, xe ngựa, đao mâu, cung tên, phương pháp chiến đấu;  không thứ nào là  không biết. Đó là pháp thứ tư. Nhà vua có uy lực lớn, thâu nhiếp các tiểu vương;  không ai  không thần phục. Đó là pháp thứ năm. Nhà vua khéo léo về ngôn ngữ, lời nói dịu dàng, đầy đủ nghĩa và vị. Đó là pháp thứ sáu. Nhà vua có tài bảo dồi dào, kho tàng đầy ắp. Đó là pháp thứ bảy. Nhà vua có trí mưu, dũng mãnh, quả cảm,  không hề run sợ. Đó là pháp thứ tám.28 Nhà vua thuộc dòng Sát- lỵ kia thành tựu tám pháp này.
______________________________
28. Tám yếu tố này hơi khác với bản Pāli: 1. Thuần chủng (sujāta); 2. Dung sắc (abhirūpa); 3. Giàu có (aḍḍha); 4. Uy lực (balavā); 5. Tín tâm (saddha); 6. Học rộng (bahussuta); 7. Giỏi ngôn ngữ (bhāsitassa attham janāti); 8. Hiền minh (paṇdta).

 
     “Thế nào là đại thần29 thành tựu bốn pháp? Đại thần Bà-la-môn kia từ bảy đời nay cha mẹ đều chân chánh  không bị người khinh chê; đó là pháp thứ nhất. Đại thần đọc tụng thông suốt ba bộ dị học, có khả năng phân tích các loại kinh thư; thế điển u vi,  không thứ nào  không tổng luyện; lại giỏi phép xem tướng đại nhân, dự đoán tốt xấu, tế tự nghi lễ; đó là pháp thứ hai. Lại nữa, đại thần giỏi về ngôn ngữ, lời nói dịu dàng, nghĩa vị đầy đủ; đó là pháp thứ ba. Lại nữa, đại thần có trí mưu, dũng cảm, quả quyết,  không hề run sợ; thấu hiểu tất cả mọi pháp tế tự; đó là pháp thứ tư.30
      “Bấy giờ, vua thành tựu tám pháp; đại thần Bà-la-môn thành tựu bốn pháp; và vua có đủ bốn viện trợ. Đó là, ba pháp tế tự, với mười sáu tư cụ tế tự.
     “Bấy giờ, đại thần Bà-la-môn ở nơi ngôi nhà mới mở bày tâm ý của vua bằng mười sáu việc, dứt trừ ý tưởng nghi ngờ của vua. Mười sáu việc ấy là gì? Đại thần tâu vua:
      “Hoặc có người nói, nay vua Sát- lỵ muốn cử hành đại tự, nhưng từ bảy đời trở lại cha mẹ vua  không chân chánh, thường bị người khinh chê. Giả sử có lời ấy, Đại vương vẫn  không bị ô uế. Vì sao? Đại vương từ bảy đời nay cha mẹ đều chân chánh.
       “Hoặc có người nói, nay vua Sát- lỵ muốn cử hành đại tự, nhưng dung mạo xấu xí,  không thuộc dòng dõi Sát- lỵ. Giả sử có lời ấy, Đại vương vẫn  không bị ô uế. Vì sao? Đại vương có dung mạo đoan chánh, thuộc dòng dõi Sát- lỵ.
        “Hoặc có người nói, nay vua Sát- lỵ muốn cử hành đại tự, nhưng  không có giới tăng thượng, trí tuệ  không đầy đủ. Giả sử có lời như vậy, Đại vương vẫn  không bị ô uế. Vì sao? Đại vương giới đức tăng thượng, trí tuệ đầy đủ.
        “Hoặc có người nói, nay vua Sát- lỵ muốn cử hành đại tự, nhưng  không giỏi các thuật: cưỡi voi, xe ngựa, các thứ binh pháp cũng  không biết. Giả sử có lời như vậy, Đại vương vẫn  không bị ô uế. Vì sao? Đại vương giỏi các kỹ thuật, binh pháp chiến trận,  không thứ nào  không biết.
_________________________________
29. Đây chỉ đại thần Bà-la-môn, tức vị tư tế của vua (purohita-brāhmaṇa).
30. Bốn đức tính theo bản Pāli: 1. Huyết thống (sujāta); 2. Tụng đọc (ajjhāyaka); 3. Có giới đức (sīlavā); 4. Hiền minh (paṇḍita).

 
    “Hoặc có người nói, nay vua Sát- lỵ muốn cử hành đại tự, nhưng  không có uy lực lớn để thống nhiếp các tiểu vương. Giả sử có lời như vậy, Đại vương vẫn  không bị ô uế. Vì sao? Đại vương có uy lực lớn, thống nhiếp các tiểu vương.
      “Hoặc có người nói, nay vua Sát- lỵ muốn cử hành đại tự, nhưng  không giỏi ngôn ngữ; lời nói thô lỗ,  không đủ nghĩa vị. Giả sử có lời như vậy, Đại vương vẫn  không bị ô uế. Vì sao? Đại vương giỏi ngôn ngữ, lời nói dịu dàng, đầy đủ nghĩa và vị.
       “Hoặc có người nói, nay vua Sát- lỵ muốn cử hành đại tự, nhưng  không có nhiều tài bảo. Giả sử có lời như vậy, Đại vương vẫn  không bị ô uế. Vì sao? Đại vương có nhiều tài bảo, kho lẫm tràn đầy.
        “Hoặc có người nói, nay vua Sát- lỵ muốn cử hành đại tự, nhưng  không có trí mưu, ý chí khiếp nhược. Giả sử có lời như vậy, Đại vương vẫn  không bị ô uế. Vì sao? Đại vương có trí mưu, dũng mãnh và quả cảm,  không hề khiếp nhược.
         “Hoặc có người nói, nay vua Sát- lỵ muốn cử hành đại tự, nhưng  không nói với nội cung. Giả sử có lời như vậy, Đại vương vẫn  không bị ô uế. Vì sao? Đại vương muốn tế tự, trước đã nói cho nội cung.
         “Hoặc có người nói, nay vua Sát- lỵ muốn cử hành đại tự, nhưng  không nói với thái tử và các hoàng tử. Giả sử có lời như vậy, Đại vương vẫn  không bị ô  uế. Vì sao? Đại vương muốn tế tự, trước đã nói với thái tử và các hoàng tử.
         “Hoặc có người nói, nay vua Sát- lỵ muốn cử hành đại tự, nhưng  không nói với quần thần. Giả sử có lời như vậy, Đại vương vẫn  không bị ô uế. Vì sao? Đại vương muốn tế tự, trước đã nói với quần thần.
        “Hoặc có người nói, nay vua Sát- lỵ muốn cử hành đại tự, nhưng  không nói với tướng sĩ. Giả sử có lời như vậy, Đại vương vẫn  không bị ô uế. Vì sao? Đại vương muốn tế tự, trước đã nói với tướng sĩ.
        “Hoặc có người nói, nay vua Sát- lỵ muốn cử hành đại tự, nhưng Bà-la-môn đại thần từ bảy đời trở lại cha mẹ  không chân chánh, bị người khinh chê. Giả sử có lời như vậy, Đại vương vẫn  không bị ô uế. Vì sao? Tôi bảy đời trở lại cha mẹ chân chánh,  không bị người khinh chê.
        “Hoặc có người nói, nay vua Sát- lỵ muốn cử  hành đại tự, nhưng Bà-la-môn đại thần  không đọc tụng thông suốt ba bộ dị học,  không có
 khả năng phân tích các thứ kinh thư, thế điển u vi  không hề lão luyện,  không giỏi phép xem tướng đại nhân, dự đoán cát hung, tế tự nghi lễ. Giả sử có lời như vậy, Đại vương vẫn  không bị ô uế. Vì sao? Tôi đọc tụng thông suốt ba bộ dị học, có khả năng phân tích các thứ kinh thư, thế điển u vi  không thứ nào  không lão luyện, lại giỏi phép xem tướng đại nhân, dự đoán cát hung, tế tự nghi lễ.
      “Hoặc có người nói, nay vua Sát- lỵ muốn cử hành đại tự, nhưng Bà-la-môn đại thần  không giỏi ngôn ngữ; nói năng thô lỗ, nghĩa vị  không đủ. Giả sử có lời như vậy, Đại vương vẫn  không bị ô uế. Vì sao? Tôi khéo léo nơi ngôn ngữ; nói năng dịu dàng, đầy đủ nghĩa và vị.
       “Hoặc có người nói, nay vua Sát- lỵ muốn cử hành đại tự, nhưng Bà-la-môn đại thần  không đủ mưu trí, ý chí khiếp nhược,  không hiểu rõ phép tế tự. Giả sử có lời như vậy, Đại vương vẫn  không bị ô uế. Vì sao? Tôi đủ mưu trí, ý chí  không khiếp nhược,  không phép tế tự nào mà không hiểu rõ.”
       Phật bảo Cứu-la-đàn-đầu:
      “Nhà vua có mười sáu chỗ ngờ vực, mà đại thần kia cởi mở ý vua bằng mười sáu việc như thế.”
       Rồi Phật nói tiếp:
     “Bấy giờ, vị đại thần ở nơi ngơi nhà mới, bằng mười sự hành31, chỉ bày, khuyến khích, khiến cho được ích lợi, hoan hỷ cho nhà vua. Những gì là mười?
      “Vị đại thần nói: Khi Đại vương tế tự, những kẻ sát sanh hay những kẻ  không sát sanh cùng tụ hội đến. Hãy bố thí cho họ một cách bình đẳng. Nếu có những kẻ sát sanh đến, cũng bố thí cho và kia sẽ tự biết lấy. Kẻ  không sát sanh đến, cũng bố thí cho, vì lý do ấy mà bố thí; bố thí với tâm như vậy32. Nếu có những kẻ trộm cắp, tà dâm, hai lưỡi, ác khẩu, nói dối, ỷ ngữ, tham lam, tật đố, tà kiến, cùng tụ hội đến, hãy
__________________________________
31. Sự hành事行; Pāli: dasa-ākārā, mười hành tướng: pubbe va yaññā das’ ākārehi  paṭigghàhakesu vippaṭisāraṃ paṭivinodetuṃ, trước khi tế tự, bằng mười phương pháp để loại trừ những sự hối tiếc.
32. Tham chiếu Pāli: pāṇātipātā paṭiviratā te ārabha yajatam bhavam modatam bhavaṃ cittam eva bhavaṃ antaraṃ pasādetu, những người không sát sanh, đối với họ, bố thí, cúng dường, hoan hỷ, nội tâm sanh khởi tịnh tín.

 
 bố thí cho họ. Kia sẽ tự biết lấy. Nếu những kẻ  không trộm cắp, cho đến, có chánh kiến, cùng đến, cũng hãy bố thí cho họ, vì sự ấy mà bố thí, bố thí với tâm như vậy.
    Phật lại nói với Bà-la-môn:
    “Vị đại thần kia, bằng mười sự hành này, chỉ bày, khuyến khích, khiến cho được lợi ích, hoan hỷ.”
    “Rồi thì, vua Sát- lỵ kia ở nơi ngơi nhà mới sanh ba tâm hối tiếc. Vị đại thần khiến cho được dứt trừ. Ba tâm hối là gì?
    “Nhà vua sanh tâm hối tiếc rằng: Ta nay tổ chức đại tự, đã làm đại tự, sẽ làm đại tự, đang làm đại tự. Tốn nhiều tài bảo. Đại thần tâu vua: Đại vương đã tổ chức đại tự, đã bố thí, sẽ bố thí, đang bố thí. Không nên sanh hối tiếc đối với tế tự có phước này.
     “Như thế, nhà vua khi ở ngôi nhà mới có ba sự hối tiếc, đã được đại thần dứt trừ.”
      Phật lại nói với Bà-la-môn:
      “Bấy giờ, vua Quán đảnh dòng Sát- lỵ, vào ngày rằm, khi trăng tròn, ra khỏi ngơi nhà mới, tại khoảng đất trống trước nhà, đốt lên một đống lửa lớn. Tay vua cầm bình dầu rót lên ngọn lửa, xướng lên rằng: ‘Hãy cho! Hãy cho!’33
       “Khi ấy phu nhân của vua hay tin nhà vua, vào ngày rằm trăng tròn, ra khỏi nhà mới, tại khoảng đất trống trước nhà, đốt lên một đống lửa lớn, tay cầm bình dầu rót lên ngọn lửa, xướng lên rằng:
       ‘Hãy cho! Hãy cho!’ Bà cùng với thể nữ cầm nhiều tài bảo, đi đến chỗ vua, tâu vua rằng:
      “Các tạp bảo này, giúp Đại vương làm tế tự.
      “Này Bà-la-môn, nhà vua liền nói với phu nhân và thể nữ rằng:
      “Thôi, đủ rồi. Các ngươi như thế là đã cúng dường rồi. Ta có sẵn tài bảo riêng mình, đủ để tế tự.’
       “Phu nhân và các thể nữ suy nghĩ: ‘Chúng ta  không nên mang các bảo vật này trở về nội cung. Nếu khi đức vua thiết lễ đại tự ở phương Đông, chúng ta sẽ dùng để hỗ trợ.
        “Này Bà-la-môn, sau đó nhà vua ở phương Đông thiết lễ đại tự, khi ấy phu nhân và các thể nữ liền đem các bảo vật ấy trợ giúp thiết lễ đại tự.
__________________________________
33. Bản Pāli không có chi tiết này.

 
    “Bấy giờ, thái tử, hoàng tử, hay tin nhà vua, vào ngày rằm trăng tròn, ra khỏi nhà mới, tại khoảng đất trống trước nhà, đốt lên một đống lửa lớn, tay cầm bình dầu rót lên ngọn lửa, xướng lên rằng: ‘Hãy cho! Hãy cho!’ Thái tử, hoàng tử cầm nhiều tài bảo, đi đến chỗ vua, tâu vua rằng:
     “Các tạp bảo này, giúp Đại vương làm tế tự.
     “Này Bà-la-môn, nhà vua liền nói với thái tử và hoàng tử.
     “Thôi, đủ rồi. Các ngươi như thế là đã cúng dường rồi. Ta có sẵn tài bảo riêng mình, đủ để tế tự.
     “Thái tử, hoàng tử suy nghĩ: ‘Chúng ta  không nên mang các bảo vật này trở về. Nếu khi đức vua thiết lễ đại tự ở phương Nam, chúng ta sẽ dùng để hỗ trợ.’
      “Này Bà-la-môn, sau đó nhà vua ở phương thiết lễ đại tự, khi ấy thái tử, hoàng tử liền đem các bảo vật ấy trợ giúp thiết lễ đại tự. 
     “Cũng vậy, đại thần cầm tài bảo đến, hỗ trợ vua tế tự ở phương Tây. Tướng sĩ cầm tài bảo đến hỗ trợ vua tế tự ở phương Bắc34.”
     Phật lại nói với Bà-la-môn:
    “Nhà vua kia khi cử hành đại tự  không giết bị, dê và các chúng sanh; chỉ dùng bơ, sữa, dầu mè, mật, đường đen35, đường thẻ để tế tự.”
     Phật lại nói với Bà-la-môn:
     “Vua Sát- lỵ kia khi cử hành đại tự, khoảng đầu hoan hỷ, khoảng giữa hoan hỷ, khoảng cuối hoan hỷ. Đó là phép tổ chức tế tự.”
      Phật lại nói với Bà-la-môn36:
     “Vua Sát- lỵ kia, sau khi cử hành đại tự, cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, xuất gia hành đạo, tu Bốn vô lượng tâm. Khi thân hoại mạng chung, sanh lên cõi Phạm thiên.
      “Phu nhân của vua, sau khi cử hành đại tự, cũng cạo tóc, mặc ba pháp y, xuất gia hành đạo, hành bốn phạm hạnh. Khi thân hoại mạng chung, sanh lên cõi Phạm thiên.
___________________________________
34. Bốn tư trợ, đã nói đoạn trên. Xem cht.25. Bản Pāli nói bốn tư trợ của đại tự tổ chức tùy hậu tế (anuyāgino homā).
35. Hán: tô酥, nhũ乳, ma du麻油, mật蜜, hắc mật黑蜜, thạch mật石蜜; Pāli: sappi tela navanīta dadhi madhu phāṇita: bơ, dầu mè, bơ sống (sanh tô), sữa đông, mật, đường cát.
36. Các chi tiết kể sau đó không có trong bản Pāli.

 
    “Đại thần Bà-la-môn sau khi chỉ dẫn vua tế tự bốn phương, cũng tổ chức đại thí, sau đó cạo bỏ râu tóc, mặc ba pháp y, xuất gia hành đạo, hành bốn phạm hạnh. Khi thân hoại mạng chung, sanh lên cõi Phạm thiên.”
      Phật lại nói với Bà-la-môn:
      “Bấy giờ, nhà vua bằng ba pháp tế tự, mười sáu tư cụ tế tự, đã tổ chức thành công đại tự. Ý ông nghĩ sao?”
       Cứu-la-đàn-đầu nghe Phật nói, im lặng  không trả lời. Lúc ấy, năm trăm Bà-la-môn hỏi Cứu-la-đàn-đầu:
      “Những điều Sa-môn Cù-đàm nói thật vi diệu, sao Đại sư im lặng  không trả lời?”
       Cứu-la-đàn-đầu đáp:
      “Những điều Sa-môn Cù-đàm nói thật là vi diệu.  Không phải tôi không thừa nhận. Lý do mà tôi im lặng,  là vì có điều suy nghĩ. Sa-môn Cù-đàm nói sự việc này,  không nói là nghe từ người khác. Tôi thầm nghĩ: Há Sa-môn Cù-đàm  không phải là vua Sát- lỵ kia chăng? Hoặc giả là vị đại thần Bà-la-môn kia chăng?”
      Bấy giờ Thế Tôn nói với Cứu-la-đàn-đầu:
     “Lành thay, lành thay. Ngươi quán sát Như Lai, thật sự là thích hợp. Vua Sát- lỵ cử hành đại tự lúc ấy há phải là ai khác chăng? Chớ nhận xét như thế. Người ấy chính bản thân Ta vậy. Ta lúc bấy giờ đã huệ thí rất lớn.”
     Cứu-la-đàn-đầu bạch Phật rằng:
    “Chừng ấy thôi, ba loại tế tự và mười sáu tư cụ tế tự, là được quả báo lớn, hay còn có cái gì37 hơn thế nữa  không?”
    Phật nói: “Có”.
    Hỏi: “Đó là cái gì?”
    Phật nói:
    “So với ba tế tự và mười sáu tế cụ, nếu thường cúng dường chúng Tăng,  không để gián đoạn, công đức còn hơn nhiều.”
     Lại hỏi:
    “So với ba tế tự và mười sáu tế cụ, nếu thường cúng dường chúng
__________________________________
37. Tham chiếu Pāli: Atthi (…) añño yañño (…) mahapphalataro: có loại tế tự nào khác có kết quả lớn hơn?

 
Tăng,  không để gián đoạn, do thế công đức tối thắng. Nhưng còn có cái tối thắng nữa  không?”
Phật nói: “Có”.
Lại hỏi: “Đó là cái gì?” Phật nói:
“Nếu bằng ba tế tự và mười sáu tế cụ và thường cúng dường chúng Tăng  không để gián đoạn, chẳng bằng vì Chiêu-đề tăng38 mà dựng tăng phòng, nhà cửa, lầu gác. Thí ấy tối thắng.”
Lại hỏi:
“Bằng ba tế tự và mười sáu tế cụ và thường cúng dường chúng Tăng  không để gián đoạn và vì Chiêu-đề tăng mà dựng tăng phòng, nhà cửa, lầu gác; phước ấy tối thắng. Những có cái gì hơn thế chăng?”
Phật nói: “Có”.
Lại hỏi:
“Đó là cái gì?”
Phật nói:
“Nếu bằng ba tế tự và mười sáu tế cụ và thường cúng dường chúng Tăng không để gián đoạn và vì Chiêu-đề tăng mà dựng tăng phòng, nhà cửa, lầu gác; chẳng bằng khởi tâm hoan hỷ, miệng tự phát thành lời rằng: Tôi quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Phước này tối thắng.”
Lại hỏi:
“Chừng ấy ba pháp quy y được quả báo lớn, hay còn có cái gì hơn nữa?”
Phật nói: “Có”.
Hỏi: “Đó là cái gì?”
Phật nói:
“Nếu với tâm hoan hỷ thọ và hành năm giới, suốt đời  không giết,  không trộm, không tà dâm, không dối,  không uống rượu; phước này tối thắng.”
Lại hỏi: “Chừng ấy ba pháp tế tự (…), cho đến năm giới, được quả báo lớn hay còn có cái gì hơn nữa?”
Phật nói: “Có”.
_____________________________________
38. Chiêu-đề tăng招提僧, Hán dịch Tứ phương tăng四方僧, chỉ cộng đồng các Tỳ-kheo không thường trú tại một nơi; Pāli: Catudisa-saṅgha (Skt.: Caturdiza).

 
Lại hỏi: “Đó là cái gì?”
 Phật nói:
“Nếu có thể bằng Từ tâm nhớ nghĩ chúng sanh bằng khoảnh khắc vắt sữa bị; phước ấy tối thắng.”
Lại hỏi: “Chừng ấy ba pháp tế tự, cho đến Từ tâm, được quả báo lớn, hay còn có cái gì hơn nữa?”
Phật nói: “Có”.
Lại hỏi: “Đó là cái gì?”
Phật nói:
 “Nếu Như Lai, Chí Chân, Đẳng Chánh Giác xuất hiện ở đời, có người theo Phật pháp xuất gia tu đạo, mọi đức đều hoàn bị, cho đến, đầy đủ ba minh, diệt các sự tối tăm, đầy đủ tuệ minh. Vì sao? Vì  không buông lung, ưa sống nơi thanh vắng; phước này tối thắng.”
Cứu-la-đàn-đầu bạch Phật:
    “Thưa Cù-đàm! Tôi vì tế tự mà chuẩn bị bị, dê mỗi thứ năm trăm con. Nay sẽ thả hết, mặc chúng tùy ý đi tìm cỏ, nước. Tôi nay quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, xin nhận tôi làm Ưu-bà-tắc trong chánh pháp. Từ nay về sau, cho đến hết đời,  không giết,  không trộm,  không tà dâm,  không dối,  không uống rượu. Cúi mong Thế Tôn cùng đại chúng nhận lời mời sáng mai của tôi.”
    Bấy giờ, Thế Tôn im lặng nhận lời. Bà-la-môn thấy Phật im lặng nhận lời, liền đứng dậy lễ Phật, đi quanh ba vòng, rồi lui ra.
Trở về nhà, ông sửa soạn đủ các loại hào soạn. Sáng hôm sau, khi đến thời, Thế Tôn khoác y, cầm bát, cùng với chúng Đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người, đi đến nhà Bà-la-môn, ngồi trên chỗ dọn sẵn. Khi ấy Bà-la-môn tự tay châm chước, cúng Phật và Tăng. Ăn xong, thâu y bát, dùng nước rửa xong, Phật đọc cho Bà-la-môn nghe một bài tụng:
Tế tự, lửa là nhất.
Đọc tụng, thô là nhất.
Loài người, vua là nhất.
Các sông, biển là nhất.
Các sao, trăng là nhất.
Ánh sáng, mặt trời nhất.
Trên, dưới và bốn phương,
Phàm sanh vật hiện hữu,
Chư Thiên và Người đời,
Duy chỉ Phật tối thượng.
Ai muốn cầu đại phúc,
Hãy cúng dường Tam bảo.
    Bấy giờ Cứu-la-đàn-đầu lấy một cái ghế nhỏ ngồi trước Phật. Thế Tôn thuyết pháp cho  ông theo thứ tự, chỉ bày, khuyến khích, khiến được lợi ích, hoan hỷ. Ngài nói về thí, về giới, về sanh thiên; nói dục là tai họa, phiền não là chướng ngại39, xuất ly là tối thượng, phân bố, hiển thị các hạnh thanh tịnh.
     Rồi Thế Tôn quán sát Bà-la-môn, ý chí đã mềm dịu, ấm cái đã vơi nhẹ40, dễ được điều phục. Như thường pháp của chư Phật, Ngài giảng thuyết cho ông về Khổ thánh đế, phân biệt hiển thị, thuyết Tập thánh đế, Tập diệt thánh đế. Cứu-la-đàn-đầu ngay trên chỗ ngồi mà xa lìa trần cấu, đắc pháp nhãn tịnh. Cũng như tấm lụa trắng rất dễ nhuộm màu. Bà-la-môn Cứu-la-đàn-đầu cũng vậy, thấy pháp, đắc pháp, thành tựu đạo quả, quyết định an trú, tự tín  không do ai, đắc vô sở úy41, bèn bạch Phật rằng:
     “Nay con ba lần xin quy y Phật, Pháp, Thánh chúng. Nguyện Phật chấp thuận con là một Ưu-bà-tắc ở trong Chánh pháp. Từ nay về sau, cho đến trọn đời,  không giết,  không trộm,  không tà dâm,  không dối,  không uống rượu.”
    Rồi lại bạch Phật tiếp rằng:
    “Cúi mong Thế Tôn nhận lời mời của con trong bảy ngày.”
    Thế Tôn khi ấy im lặng nhận lời.
______________________________
39. Hán: thượng lậu vi ngại上漏為礙. Tham chiếu Pāli: kāmànaṃ ādinavaṃ okāraṃ saṃkilesam, sự nguy hiểm, sự thấp hèn và sự ô nhiễm của dục.
40. Hán: ấm cái khinh vi蔭蓋輕微; Pāli: vinīvaraịna-cittam, tâm đã diệt trừ các triền cái (có năm triền cái).
41. Hán: kiến pháp, đắc pháp, hoạch quả, định trú, bất do tha tín, đắc vô sở  uý見法得法獲果定住不由他信得無所畏. Tham chiếu Pāli: diṭṭha-dhammo patta-dhamma vidita-dhammo pariyogāḷha-dhammo tiṇṇna-vicikiccho vigata-kathaṃkatho vesārajjappatto aparapaccayo satthu sāsane, thấy pháp, đắc pháp, ngộ pháp, thâm nhập pháp, diệt nghi, trừ hoặc, được vô úy, duy y giáo pháp của Đạo Sư.

 
    Trong bảy ngày ấy, Bà-la-môn tự tay châm chước, cúng Phật và Tăng. Qua bảy ngày, Thế Tôn du hành trong nhân gian.
    Phật đi chưa bao lâu, Cứu-la-đàn-đầu mắc bệnh mà mạng chung. Khi ấy, số đông Tỳ-kheo nghe tin Cứu-la-đàn-đầu sau khi cúng dường Phật bảy ngày và khi Phật đi chưa lâu, ông lâm bệnh mà mạng chung. Các Tỳ-kheo này bèn nghĩ thầm rằng: “Người kia nay mạng chung, sẽ sanh về đâu?” Rồi các Tỳ-kheo đi đến chỗ Phật,  lễ dưới chân Phật xong, ngồi xuống một bên, bạch Phật rằng:
    “Cứu-la-đàn-đầu nay mạng chung, sẽ sanh về đâu?”
    Phật nói với các Tỳ-kheo:
     “Người ấy tịnh tu phạm hạnh, thành tựu pháp và tùy pháp và cũng  không bị xúc nhiễu bởi pháp42, do đã đoạn trừ năm hạ phần kết, hiện Bát-niết-bàn ở nơi kia,  không trở lại cõi này nữa43.”
     Bấy giờ, các Tỳ-kheo sau khi nghe những lời Phật dạy, hoan hỷ phụng hành.





_________________________________________
42. Hán: diệc bất ư pháp hữu sở xúc nhiễu亦不於法有所觸擾.
43. Chỉ trường hợp Thánh giả Bất hoàn (Pāli: Anāgāmin), sanh lên Tịnh cư (Pāli: Suddhāvāsa) và nhập Niết-Bàn tại đó.

 
/53
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »