An trụ tịch diệt tướng
(Bài giảng trường hạ Vĩnh Tràng, Tiền Giang 15-6-2005)
Từ khi xuất gia cho đến ngày nay, tôi may mắn được thân cận các bậc thiện tri thức và được học hỏi, nương theo thiện tri thức để phát triển đạo lực của chính mình. Nhờ đó, tôi làm được một số việc trên bước đường hoằng pháp độ sanh. Sau đây là một số kinh nghiệm mà tôi đã thành tựu, xin được trao đổi, góp phần cho việc tiến tu đạo nghiệp của quý vị. Thực tế cho thấy có nhiều vị xuất gia tu học, nhưng thành quả không cao; có vị không tiến bộ còn bị lùi; ít người gặt hái được kết quả tốt. Hòa thượng Thiện Hoa thường nhắc kết quả tu hành của chúng ta ví như trứng cá, bông xoài; nghĩa là người tu rất nhiều, nhưng số người đạt được thành quả lại ít. Từ đó, tôi suy nghĩ tại sao kết quả ít, hay không có kết quả tốt đẹp. Theo tôi, muốn khắc phục tình trạng này, cần phải gần gũi thiện tri thức để học hỏi, nhất là những vị đã đạt thành quả cao trên bước đường tu. Vì thế, nghe có vị đạo cao đức trọng, tôi liền tìm đến tham vấn để nghe lời chỉ dạy và áp dụng trong
cuộc sống mình. Nhờ đó, từng bước cuộc sống của tôi cũng an lành và phát triển đạo nghiệp. Đặc biệt tôi gặp Hòa thượng Trí Tịnh, hoàn toàn khác với Hòa thượng Thiện Hoa. Tôi có duyên được thân cận Hòa thượng Thiện Hoa và tâm đắc với con đường hoằng pháp của ngài hơn, nên đã chọn hướng đi theo Hòa thượng Thiện Hoa.
Hòa thượng Thiện Hoa nổi tiếng với hạnh nguyện "Nơi nào chúng sanh cần thì đến, nơi nào đạo pháp cần thì đi, không ngại gian lao, không từ khó nhọc”. Lập trường này của ngài hoàn toàn khác với Hòa thượng Trí Tịnh chỉ ở yên một chỗ. Điều đó đã khiến tôi suy nghĩ có nên đi hay không. Có lúc tôi thấy nên đi, có lúc lại nghĩ không nên. Từ sự phân vân như vậy, sau nhiều năm An cư, Thiền hành, tôi đã nhận ra rằng cả hai vị Hòa thượng đều đúng. Tôi cũng nhớ lời Phật dạy rằng chúng ta phải áp dụng đúng pháp, nghĩa là đúng theo từng người, từng hoàn cảnh, không phải đúng với tất cả mọi người. Hòa thượng Trí Tịnh và Hòa thượng Thiện Hoa dạy đều đúng với hoàn cảnh của các ngài. Vì thế, Phật bảo chúng ta phải "Trạch pháp”, tức lựa chọn pháp thích hợp với mình để gặt hái kết quả tốt; không biết lựa chọn, mà chỉ bắt chước theo, kinh Pháp Hoa gọi đó là uống lầm thuốc, biến chất bổ thành chất độc, làm cho người không bệnh trở thành người bệnh.
Ngài Nhật Liên dạy "đúng” là phải đúng lúc, đúng việc, đúng người, đúng chỗ. Có việc bây giờ đúng, nhưng ngày mai đã thành khác, nhiều năm sau còn khác nữa. Nếu chúng ta cứ đinh ninh đúng và đem ra áp dụng, sẽ thất bại. Để nhắc nhở
chúng ta cần thấu hiểu giá trị của "cái đúng”, Đức Phật đã phải khẳng định rằng trong suốt bốn mươi chín năm thuyết pháp, Ngài chưa nói một lời nào. Sự thật Ngài có nói, nghĩa là Phật đã nói cho chúng hiện tiền; tinh thần này thường được diễn tả là "ứng cảm, tùy cơ”.
Chúng ta tu không kết quả và chỉ dạy người cũng không kết quả; vì không ứng với "cái cảm”, nghĩa là người muốn nghe, nhưng ta không nói, lại nói cho người không muốn nghe. Đức Phật đắc đạo rồi, trên bước đường giáo hóa độ sanh, Ngài luôn quán sát kỹ xem dân chúng vùng nào muốn nghe, Ngài mới đến dạy. Đó chính là pháp ứng cảm tùy cơ của Đức Phật. Tùy cơ hay tùy trình độ có thượng, trung, hạ khác nhau. Pháp cốt lõi là Thiền quán, chỉ hàng thượng căn, thượng trí mới tiếp thu được, dạy cho người trình độ trung bình hay kém cỏi, họ phải khởi tâm nghi ngờ. Vì vậy, Bồ tát Duy Ma Cật trách Phú Lâu Na đã sai lầm khi dạy pháp yếm thế cho các thanh niên đầy nhiệt huyết, muốn làm nhiều việc lớn lao thì sao họ nghe theo được. Áp dụng pháp không đúng người, không đúng lúc, không đúng chỗ, pháp trở thành phi pháp.
Hòa thượng Trí Tịnh quanh năm không đi đâu, chỉ ở trong Thiền thất; nhưng càng về lâu dài, chúng ta thấy quả tình ngài đã đóng vai trò rất quan trọng. Hòa thượng không đi thăm các tỉnh thành, thậm chí Đại hội Phật giáo của các tỉnh, ngài cũng không đi. Về sau, tôi mới nhận ra rằng Hòa thượng Hiển Pháp và tôi đã thay mặt ngài đi thăm viếng, thuyết pháp, giảng dạy, nghĩa là nhờ nương với đức hạnh của ngài mà chúng tôi làm được việc. Nhìn kỹ thấy rằng trong đạo cần có những vị ở yên
một chỗ để làm trụ cột cho đại chúng nương theo và cũng cần có người thuyết pháp, giảng dạy, làm từ thiện, v.v... Đừng nghĩ mình làm được, người khác không làm được. Có người không làm, nhưng đối với Phật, họ đã làm thật nhiều. Nhiều khi mình làm, nhưng không khéo, trở thành phá. Trong mùa tu, tôi nhắc quý vị cùng suy nghĩ.
Pháp Phật muốn dạy chúng ta là tịch diệt tướng, hay thật tướng các pháp, đó là tướng vắng lặng xa lìa ngôn ngữ, không thể dùng tâm duyên, vọng tưởng mà hiểu được. Những gì Phật nói ra, Ngài sợ chúng ta chấp vào đó sẽ phạm sai lầm, nên Phật mới phủ định rằng Ngài không nói lời nào. Những điều Phật nói theo kinh Pháp Hoa, đó là phương tiện; còn pháp chân thật thì vắng lặng, chỉ có Phật biết, chúng sanh không thể biết. Vì muốn độ chúng sanh, Phật mới dùng phương tiện nói rất nhiều điều khác nhau, để giúp cho họ nhận ra pháp chân thật.
Ngày nay, đi theo dấu chân Phật, chúng ta thành lập Giáo hội, Ban Hoằng pháp, thuyết giảng, An cư, hay tất cả Phật sự của chúng ta cũng đều là phương tiện để dẫn đến kết quả cuối cùng là tịch diệt tướng, tức giải thoát sanh tử là việc quan trọng nhất của đạo Phật. Đôi khi chúng ta lo làm nhiều thì điên đảo vọng tưởng lại nhân đó phát sanh nhiều hơn. Điên đảo vọng tưởng là phi Phật pháp, nên có người khen ngợi, cũng có người chê trách. Tuy nhiên, dù cho người bằng lòng hay không, chúng ta hãy coi đó là phương tiện làm đạo mà thôi. Vì thế, chúng ta chỉ nói cho người bằng lòng, người cần, người chấp nhận được.
Trên bước đường tu, quan trọng nhất là sống được với tịch diệt tướng. Tôi thấy Hòa thượng Trí Tịnh lúc nào cũng an trụ tinh thần tịch diệt; suốt buổi sáng ngài dịch kinh, viết sách, buổi chiều, ngài tham thiền, niệm Phật. Ngài ít khi tiếp xúc với mọi người. Hòa thượng nói với tôi rằng tiếp xúc nhiều thì vọng tưởng điên đảo nhiều. Thật vậy, tu hành mà cứ đem điên đảo vọng tưởng của người khác đặt vào tâm mình, trong khi tâm mình còn sẵn điên đảo vọng tưởng, nên vọng tưởng của mình càng tăng thêm. Vì thế, người nào làm nhiều mà bị phiền phức nhiều, tự biết bên trong mình có nghiệp không giải được, lại cõng thêm nghiệp của người khác. Các Thầy Trụ trì có dư kinh nghiệm này. Riêng tôi, những người tìm đến, tôi chưa nghe ai nói rằng họ được sung sướng an lành. Một trăm người đến đều có vấn đề, gia đình, con cái, việc làm ăn… Thử tiếp xúc, đem tất cả thứ này vào tâm thức là thấy ngộp. Đâu có ai đem sung sướng đến cho người tu, gần nhất là gia đình họ có người qua đời với đủ thứ cách chết, đó là sự mất mát, đau khổ nhất mà người ta thường san sẻ cho Thầy tu. Và chúng ta gom tất cả nghiệp của chúng sanh biến thành nghiệp của mình. Căn tánh chúng ta nhỏ hẹp mà tu pháp Đại thừa thì phải gẫy gánh giữa đường. Một số Thầy chỉ tu một thời gian, rồi hoàn tục, vì phiền não không hết, nghiệp chướng lại tăng, là do tiếp nhận phiền não của mọi người đem tới.
Hòa thượng Trí Tịnh ngồi yên trong thất để đỡ nghe. Nghe nhiều, tâm chúng ta dễ xúc động, nghe việc thương tâm, thường hay lạc lòng và đến khi tĩnh tâm, những hình ảnh khổ đau ấy lại tự động hiện ra trong cuộc sống chúng ta. Vì vậy, mùa An cư, ít nhất quý Thầy cũng có lý do khóa bớt cánh cửa lại, vì mùa này
là mùa tu. Đức Phật dạy suốt mùa nắng hành đạo, cứu nhân độ thế, đến mùa mưa, chúng ta ngồi yên để gạn lọc tâm, loại trừ nghiệp và phiền não, mới mong giữ được cuộc sống tu hành.
Thuở nhỏ, đọc kinh Hoa Nghiêm, tôi rất thích pháp Phật dạy cho các Bồ tát và muốn làm theo. Phật dạy rằng chúng sanh, chúng sanh nghiệp, chúng sanh phiền não là chất liệu để hành Bồ tát đạo, tạo nên quả vị Vô thượng Bồ đề. Bồ tát hành đạo mà lìa chúng sanh chẳng khác nào hạt giống Bồ đề gieo trên hư không. Bồ tát không chấp nhận nghiệp và phiền não chúng sanh mà hành Bồ tát đạo chẳng khác nào hạt giống gieo trên đá. Phải gieo trên đất có phiền não và nghiệp; phiền não ví là phân, nghiệp ví như nước và chúng sanh ví như đất, có đủ ba thứ này, Bồ đề mới lên được. Phật dạy rõ các Bồ tát phải cần chúng sanh, nghiệp và phiền não để mau đến Vô thượng Bồ đề. Nhưng ngược lại, chúng sanh, phiền não và nghiệp rất đáng sợ đối với Thanh văn. Điều này chúng ta cần suy nghĩ. Bồ tát đi vào đời khác với hàng Thanh văn tu hạnh viễn ly. Riêng chúng ta, tự biết mình tài kém đức mỏng, đang đi theo con đường của Thanh văn, chắc chắn cần gạn lọc thân tâm cho sạch nghiệp và phiền não, mới có thể lóng nghe tiếng nói khổ đau của chúng sanh giống như Bồ tát Quan Âm. Đức Quan Âm lóng nghe chúng sanh than khóc cầu cứu, để làm vơi phiền não của người, mà tâm ngài vẫn hoàn toàn thanh tịnh, không phải đem phiền não của họ vào tâm ngài.
Những điều Phật dạy Bồ tát, Thanh văn không làm được và những pháp tu của Thanh văn, Bồ tát không thích hợp. Như vậy, phải chọn pháp thích hợp với mình là điều quan trọng.
Khi chúng ta tu Thanh văn, giữ cho tâm mình được thanh tịnh thì vô lượng công đức sanh ra. Tôi hoằng pháp được nhờ công đức của Hòa thượng Trí Tịnh, vì công đức sanh ra từ tâm thanh tịnh của ngài.
Người hành đạo Bồ tát mà phiền não và nghiệp không sanh ra thì nên làm. Nhưng người ở yên một chỗ, tu hành được thanh tịnh, còn làm mà phiền não phát sanh thì không nên làm. Nghiệp và phiền não không phải tư chất của Thầy tu. Là Sa môn, chúng ta không nên mang phiền não và nghiệp vào đời gieo rắc. Tấm gương giáo hóa độ sanh của Đức Phật đã thể hiện rõ ý này. Khi sơ chuyển pháp luân, Phật đến độ năm anh em Kiều Trần Như. Lúc ấy, chỉ một mình Kiều Trần Như đắc quả vị A la hán, nghĩa là tâm ngài hoàn toàn thanh tịnh, tự tại, mới được phép đi khất thực với Phật để độ sanh. Còn bốn vị kia phải ẩn tu cho tâm thanh tịnh. Tâm không thanh tịnh mà đến với người, sẽ làm nhiễm ô của ta và người tăng lên gấp đôi. Bản chất của Sa môn phải thanh tịnh; lắng được nghiệp và phiền não rồi, dù không làm, nhưng tâm thanh tịnh của ta tác động cho cuộc đời không nhỏ. Chưa tu, không nhận ra ý này; thâm nhập tinh thần Phật dạy mới thấy được tâm thanh tịnh quan trọng như thế nào.
Khi tâm chúng ta an vui, thanh tịnh, người trông thấy hoặc nghe ta nói đều phát tâm Bồ đề, thậm chí không cần nói, người cũng quy ngưỡng. Thật vậy, nhiều vị Hòa thượng chân tu không thuyết pháp, nhưng độ được nhiều người, vì tâm các ngài giải thoát. Trong khi một số Giảng sư nói hay, nhưng làm cho người rối thêm, vì cái hay của ngôn ngữ phát xuất từ phiền
não trí, từ suy luận phải trái hơn thua, hoặc không làm cho người an vui vì thiếu tịch diệt pháp bên trong. Mã Thắng độ được Xá Lợi Phất một cách nhẹ nhàng, đã nói lên sự tác động mãnh liệt của tâm thanh tịnh. Xá Lợi Phất nổi danh là nhà hùng biện bậc nhất ở Ma Kiệt Đà, là đại luận sư bẻ gẫy các luận thuyết đương thời, nhưng lòng ngài bất an vì phải lo đối phó để bảo vệ cái danh số một của mình. Đức Phật đã bảo Mã Thắng là người ít nói nhất đến độ Xá Lợi Phất. Không nói, không khởi vọng niệm, chỉ duy nhất giữ tâm thanh tịnh, mà Mã Thắng đã cảm hóa nhà hùng biện Xá Lợi Phất một cách dễ dàng. Hình ảnh giải thoát của Mã Thắng và Đức Phật đã nhẹ nhàng khiến cho Xá Lợi Phất thức tỉnh và phát tâm theo Phật, buông bỏ mọi hơn thua trên cuộc đời, tâm thanh tịnh, liền chứng quả vị A la hán.
Riêng tôi, trên bường đường hành đạo, luôn tâm niệm rằng nói pháp trong tâm thanh tịnh, trong tinh thần từ bi, trong sự cảm thông của mình. Thành quả này tôi xin chia sẻ để giúp quý Thầy làm đạo sau này được tốt đẹp. Chúng ta là Tỳ kheo tuyên dương chánh pháp của Phật là làm cho tâm ta thanh tịnh, tác động cho người thanh tịnh theo. Ngoài chánh pháp này, chúng ta có thể sử dụng các phương tiện khác để giúp người tiếp cận chánh pháp. Tuy nhiên, các phương tiện mà chúng ta tạo ra phải dẫn được người về với chánh pháp, không được đi xa chánh pháp. Nói đến việc tạo phương tiện, chúng ta nhớ đến Tổ Tiên Giác Hải Tịnh ở chùa Giác Viên. Ngài sống ở miền Nam,
nhưng làm Tăng Cang chùa Thiên Mụ, Huế. Chùa này là chùa sắc tứ, ảnh hưởng triều đình thời bấy giờ và đã ứng dụng lễ nhạc trong nghi lễ của chùa, kinh thơ đều được phổ thành nhạc. Nhận thấy đây là phương tiện làm cho người phát tâm theo đạo Phật, nên Tổ Tiên Giác cũng đã sử dụng nhạc cung đình ở chùa Giác Viên và mở ứng phú đạo tràng. Tổ chọn người có ngoại hình dễ coi và âm thanh tốt là ngài Minh Duy để chuyên việc ứng phú đạo tràng và ngài Minh Khiêm Hoằng Ân thì chuyên thuyết pháp.
Việc đưa lễ nhạc vào Phật giáo đã làm cho đạo Phật phát triển được, vì cúng bái có lễ nhạc tạo không khí vui vẻ, thu hút nhiều người tập trung đến chùa. Sử dụng phương tiện này để nhân có đông người, mới giảng kinh và dạy họ tu học là việc chính yếu. Tuy nhiên, có những thời kỳ mà giới tu sĩ chỉ lo phát triển việc cúng kiến, quên hẳn việc phát huy đạo lực. Và khi cội gốc bên trong của người tu suy yếu, cốt lõi của Phật giáo là tịch diệt tướng không thể hiện được, tất nhiên Phật giáo phải bị suy đồi. Các bậc Thầy của tôi đã sớm nhận ra con đường sai lầm của việc chú trọng nhiều đến hình thức, đánh mất bản tâm thanh tịnh, nên các ngài đã cổ động cho phong trào chấn hưng Phật giáo. Và tôi may mắn được các ngài đào tạo, hướng dẫn theo con đường chánh pháp của Phật là phát huy trí tuệ và đạo hạnh của người xuất gia.
Tóm lại, trong mùa An cư, chúng ta cố gắng cắt bỏ ngoại duyên, đừng để hoàn cảnh bên ngoài chi phối tâm thức chúng ta. Dành thì giờ tụng kinh, lễ sám, tĩnh tâm, tham Thiền nhằm
thanh tịnh hóa thân tâm, để sau này chúng ta sử dụng được phương tiện độ thế một cách hữu ích, mới giữ được bản chất của Thầy Tỳ kheo và làm cho Phật pháp được trường tồn trên thế gian, làm lợi lạc cho chúng hữu tình.