Tìm kinh sách
Vần A-Z:
Phật Giáo Nhập Thế Và Phát Triển (Quyển I)

Phật Giáo Nhập Thế Và Phát Triển (Quyển I)

Tác giả: Hòa thượng Thích Trí Quảng. Năm xuất bản: 2008. Số trang: 535.

Chương 42: Ý nghĩa vu lan (Trang 353 - 358)

Ý nghĩa Vu Lan  
Trong mùa Vu Lan báo hiếu, chúng ta thường tụng kinh Vu Lan Bồn để cầu siêu cho cửu huyền thất tổ. Theo tôi, điều quan trọng là không phải chúng ta tụng kinh cho người chết nghe. Đức Phật không dạy tụng kinh cho vong nghe để họ được siêu sanh như nhiều người vẫn hiểu lầm. Kinh Vu Lan Phật dạy cho Tăng Ni và Phật tử là người sống cần làm như thế nào để hồi hướng cho người quá vãng được siêu sanh. Chủ yếu Đức Phật dạy chúng ta hiểu ý nghĩa Vu Lan và cách thức tổ chức lễ Vu Lan. Làm đúng như tinh thần Phật dạy, người quá cố được siêu sanh.
Lễ Vu Lan để cứu người chết bị tội nặng, đọa vào ba đường ác, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Duyên khởi của lễ này phát xuất từ việc mẹ của ngài Mục Kiền Liên bị đọa vào đường ngạ quỷ, nên ông xin Phật dạy phương cách cứu mẹ thoát khỏi đường ngạ quỷ, tức những người đói khát, khổ sở. Nguyên nhân của sự đói khát, khổ sở của họ phát xuất từ lòng tham lam, ích kỷ. Vì thế, Đức Phật dạy phương cách thoát khỏi đường

ngạ quỷ không gì khác hơn là tu phước, tức bố thí, cúng dường. Và người có phước rồi, sanh bất cứ nơi nào cũng được sống trong hoàn cảnh tốt đẹp. Thực tế cho thấy có người sanh con, gia đình họ làm ăn phát đạt, đó là phước của đứa bé. Kinh Hoa Nghiêm nói rằng khi Thiện Tài chào đời, tự nhiên trong nhà có nhiều của báu và cả vùng nơi ông sống cũng có nhiều của báu. Nghe nói như vậy, người mê tín nghĩ rằng đào đất lên được của báu.
Người có phước sanh ra có của báu, có thể hiểu theo hai cách. Một là họ may mắn, phát hiện được của báu. Của báu này có sẵn, nhưng không ai biết, không ai thấy; nay họ khám phá ra và sử dụng được. Hai là khi có phước, nên làm ăn phát đạt, tạo được nhiều của báu. Đứa bé đời trước đã tạo phước, nên sanh trong gia đình giàu có, hoặc sanh ra nó thì gia đình tạo được của báu. Người tham lam, keo kiết do không có phước, nên họ sanh ra là cha mẹ đã nghèo khổ và tệ hơn nữa, làm ăn luôn thất bại.
Riêng chúng ta tu hành, phần lớn không sanh trong nhà giàu, không phải chúng ta không có phước. Phải có phước mới xuất gia được, nhưng vì người tu thật thì không tham giàu sang, sợ tiền của, họ e ngại sống trong cảnh giàu có, dễ bị nhiễm, sẽ khó tu. Do nhân tu như thế, chúng ta mới sanh vào nhà nghèo và từ đó đi tu. Ý này thường được diễn tả bằng câu "xả phú, cầu bần”. Thực sự người tu giàu có, nhưng không cần của cải vật chất thế gian, mới hiện thân trong cảnh nghèo, mà Phật thường nói các vị Bồ tát tu hạnh Đại thừa, gọi là "nội bí ngoại hiện”, thường giấu những việc tốt của họ, không khoe khoang thành quả có được, mà lại phô bày ra những việc tầm thường, thậm chí dưới mức tầm thường.
Người có phước báo thực sự, sợ của cải mà đi tu, sanh trong gia đình nghèo, nhưng nghèo mà không hèn. Có người giàu mà hèn, nghĩa là họ coi trọng của cải, nên tâm trở thành hèn mọn. Người tu nghèo, tiền không nhiều, nhưng thường bố thí. Thật vậy, Bồ tát hiện thân trên cuộc đời, sanh trong hoàn cảnh nghèo, nhưng có tâm bố thí rộng lớn. Họ xuất gia hành đạo, làm được những việc rất lớn mà người thế gian không sánh nổi. Điển hình như Ni sư Chánh Nghiêm xuất thân từ gia đình nghèo, tu hành có nhiều tiền của không ai bằng. Một trong rất nhiều hoạt động từ thiện của Ni sư là đã xây dựng một bệnh viện ở Đài Loan lớn hơn cả bệnh viện quốc gia và còn xây nhiều bệnh viện ở một số nước khác.
Người nghèo khổ thật, không có phước báo, thì đến đâu cũng bị xua đuổi, đi lang thang mà không ai thương, không ai cho; đó là người nghèo có nhiều ham muốn, lòng tham quá lớn, nên người ta sợ, không muốn giúp. Người có phước báo không tham, đến nơi nào cũng lo xây dựng. Ở Việt Nam có Ni trưởng Huỳnh Liên nhiều phước báo, hành đạo đến đâu, tịnh xá được xây dựng đến đó. Người khôn giữ phước báo, không giữ tài sản; vì có phước báo thì đến đâu, phước báo theo đến đó. Đến với hai tay không, nhưng ở ít lâu, chùa tự thành hình. Và lo giữ phước báo, không khởi lòng tham, nên xây dựng được chùa cho người tu, phước báo liền tăng thêm, tiếp tục hành đạo nơi khác lại có chùa khác hình thành.
Người khởi vọng tâm, xây được tịnh xá liền tham chấp, nghĩ rằng chùa là của họ. Chùa xây dựng được quả thực là nhờ phước báo đời trước của họ, mới khiến Phật tử đóng góp xây chùa. Nhưng chùa xây
xong trở thành tài sản cố định thì phải ở đó giữ, hưởng, đi sợ mất. Mà cũng không thể giữ mãi được, vì chết làm sao giữ được tài sản vật chất; nhưng tiếc ở lại giữ thì thành quỷ giữ chùa. Như vậy, phước báo đời trước của họ đã được đổi thành của cải vật chất và của cải này lại tự ràng buộc họ, nên chết không đi đầu thai được. Một số người tu như vậy, không dám rời xa chùa, sợ đi thì không người trông coi, sợ trộm cắp, sợ thất thoát, rất khổ sở.
Trên bước đường tu, chúng ta cần chuyển đổi phước báo hữu lậu thành phước báo vô lậu. Phước báo hữu lậu ta hưởng được ở thế gian, nhưng không mang theo được. Chỉ có phước báo vô lậu mang theo được, Phật gọi là vô tận tạng công đức trong Pháp giới. Ta ở đâu thì công đức theo đến đó, không thể khác. Ta ở thế giới Cực Lạc, công đức theo ta về Cực Lạc; ta ở thiên đường, thì công đức cũng theo về thiên đường.
Bao nhiêu tài sản cố định ở thế gian, chúng ta chuyển đổi sang phước báo vô lậu. Chuyển bằng cách nào? Tâm chúng ta không kẹt vật chất. Thông thường, người ta chọn lựa kỹ lưỡng để giao tài sản. Riêng tôi, không giao cho người nào, vì ai cũng có điểm yếu; chưa có tài sản thì họ tốt, có rồi, họ lại sanh ra tham lam, ích kỷ là bị đọa, lúc ấy, tài sản chúng ta giao sẽ bị mất trắng. Vì vậy, chúng ta không giữ tài sản cho riêng mình đã đành, nhưng cũng không giao cho ai, vì họ phá hư chúng ta cũng khổ. Cách tốt nhất là ký thác tài sản cho Tam Bảo, trực tiếp là Giáo hội. Đối với tôi, đầu tư vào tổ chức chung là chính yếu, vì cúng dường cho Giáo hội làm Phật sự chung, không của riêng ai, cả nước đều được nhờ và cả thế
giới nghĩ đến Phật giáo chúng ta cũng nhớ đến những hoạt động thành công của Giáo hội.
Đóng góp vào của chung, của Tam Bảo, của Giáo hội, xóa bỏ được tâm chấp trước của ta, nên phước lần sanh ra. Có bao nhiêu người được thụ hưởng công đức này thì ta có bấy nhiêu công đức theo liền. Công đức tạo được cho Tam Bảo quý lắm. Thực tế trước mắt là Giáo hội ghi nhận công đức của chúng ta. Nhưng công đức vô hình quan trọng hơn, đó chính là tình cảm quý mến mà những bậc tôn đức trong Giáo hội nói riêng và Tăng Ni, Phật tử cả nước luôn dành cho những người làm được nhiều việc lợi ích cho đạo pháp.
Từ khi tu hành cho đến ngày nay, làm bao nhiêu việc tôi đều đổi thành công đức, không còn tài sản trong tay, nên không ai lấy được; nhưng công đức tuy vô hình, vẫn luôn hiện hữu trong cuộc sống tôi. Trên bước đường hành đạo từ trong nước cho đến ra nước ngoài, tôi luôn được an lành, được tiếp đãi thân thương. Tôi tâm đắc ý Phật dạy vô tận tạng công đức, một kho báu vô cùng tận mà chỉ người tu hành thực sự mới có.
Thiết lễ Vu Lan, Phật dạy ngài Mục Kiền Liên tìm người tu có kho tàng vô tận mà cúng dường, nhờ cầu nguyện; không phải chỉ lo sắm sửa lễ vật theo hình thức. Ý này được ghi rõ trong kinh Vu Lan Bồn: "… Hoặc người thọ hạ kinh hành, chẳng ham quyền quý, ẩn danh lâm tòng. Hoặc người đặng lục thông tấn phát và những hàng Duyên giác, Thanh văn. Hoặc chư Bồ tát mười phương hiện hình làm Sãi ở gần chúng sanh, đều trì giới rất thanh, rất tịnh, đạo đức dày, chánh định chơn tâm…”.
Điều này ngầm dạy chúng ta tổ chức lễ Vu Lan, phải thỉnh chư Tăng có công đức, cúng dường thì công đức chúng ta mới sanh ra nhiều hơn. Và chúng ta nhờ các ngài chú nguyện, nghĩa là gởi công đức ấy cho ông bà, cha mẹ, bà con, bạn bè của chúng ta đã quá vãng. Người thân của chúng ta nhận được công đức rồi, liền trở thành giàu sang, tự tại. Thí dụ cho dễ hiểu, chúng ta nghèo mà có được bạn bè, bà con ở nước ngoài gởi tặng thì giàu có liền. Người chết cũng vậy, không thể hưởng vật chất thế gian được; Mục Kiền Liên phải nhờ Thánh Tăng chú nguyện và cúng dường xong, mẹ ngài liền sanh lên cung trời Đao Lợi. Nếu hiểu là vong hồn từ địa ngục sanh lên trời cũng được. Hiểu thực tế là người ở trong tình trạng ngạ quỷ, nghèo đói, mà đồng một lúc nhận được nhiều tiền của người thân cho, trở thành giàu có, phước báo ngang với chư Thiên. Vì phước báo vô lậu, hay công đức của Thánh Tăng chuyển đổi sang của cải chư Thiên nhiều gấp trăm lần.
Tóm lại, lễ Vu Lan, Phật dạy cách cúng dường cầu phước và phải cúng dường người có khả năng chuyển phước hữu lậu thành phước vô lậu. Và chủ yếu là nhờ chư Tăng cầu nguyện, vì sau ba tháng cấm túc, an cư, tu hành, vị nào cũng thanh tịnh, tâm hồn trong sáng, đời sống nội tâm vững chãi có thể cảm hóa những người đau khổ.
Tôi nhắc nhở quý vị cần lắng tâm cho thật trong sáng, sẽ tác động cho người sống và người quá vãng đều phát tâm được. Đó là thành quả mà tất cả chúng ta dâng lên cúng dường Phật trong mùa Vu Lan báo hiếu.
/58
 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
🙏 Trợ Lý Phật Pháp AI »