Ý NGHĨA PHƯƠNG TIỆN TRONG KINH PHÁP HOA
(Bài giảng tại trường hạ Phổ Đà ngày 25-5-2005)
Trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật dạy có hai cửa vào đạo là Chân thật môn và Phương tiện môn. Chân thật môn là con đường chính, nhưng chỉ có Phật mới đi vào con đường này được. Nói cách khác, theo tinh thần Pháp Hoa, chỉ có Đức Phật thị hiện trên cuộc đời , mang thân phàm phu và xuất gia học đạo, chỉ tu sáu năm mà thành Phật. Từ đó đến nay, biết bao nhiêu người tu trải qua năm mười măn, hay cả mấy chục năm, nhưng không ai thành Phật. Tại sao?
Vì chúng ta là phàm phu, hay Nhị thừa, hoặc Bồ tát, thì cũng chỉ chứng được quả mà chúng ta đã có từ đời trước. Thí dụ các vị Thánh La hán tái sanh trên cuộc đời, tu hành, cũng chỉ chứng đến quả La hán là cao tột. Từ quả La hán mà tiến tu lên được quả vị cao hơn nữa có thể được, nhưng cũng không đơn giản. Người may mắn gặp được Phật, thì sự tu chứng nhanh hơn; chỉ trong một niệm tâm liền chứng được quả A la hán, như ngài Xá Lợi Phất. Với người không gặp Phật, phải trải qua quá trình nương theo giáo lý tu tập, gia công Thiền định cũng chứng được quả A la hán. Như vậy, quả
A la hán họ đã có sẵn, nên đời này mang thân phàm mới chứng được dễ dàng.
Còn những vị chân sư đã trồng căn lành đời trước, nay tái sanh, xuất gia, học đạo. Với quả vị Hòa thượng đã có từ đời trước, các ngài tu hành, từng bước cũng phát triển đạo vị, làm Hòa thượng hay A xà lê, nhưng chưa là Thánh.
Trong chúng ta cũng có vị là Bồ tát, A la hán, Bích chi Phật tái sanh; nhưng đa số là phàm Tăng. Nếu thực lòng tu, cũng chứng được quả thấp nhất là Dự lưu; hay theo Đại thừa, thấp nhất là tam Hiền, tức Thập Trụ Bồ tát. Ở quả vị này, trụ tâm được, không bị hoàn cảnh tác động, không bị vui buồn vinh nhục của cuộc đời làm hoen ố tâm.
Còn hàng Nhị thừa đạt quả vị thấp nhất, không bị lệ thuộc ăn uống, ngủ nghỉ. Ăn uống đạm bạc cũng khỏe mạnh, làm việc liên tục cũng không sao. Nay đau mai yếu, phải ăn kiêng là biết nghiệp còn nhiều, chắc chắn việc làm đạo sẽ bị trở ngại. Ý thức như vậy, phải siêng năng lạy sám hối cho tiêu nghiệp.
Ngài Tối Trừng ở Tỷ Duệ sơn, Nhật Bản, dạy rằng tất cả người tu theo Thiên Thai tông, phát nguyện tu Pháp Hoa, lên núi ở. Không còn buồn phiền, không còn mệt mỏi vì đói khát, nóng lạnh, mới cho xuống núi hành đạo. Có người sống trên núi mười năm, hai mươi năm, vẫn không được xuống núi. Vì còn nghiệp mà đi hành đạo, họ sẽ bị cuộc đời làm ô nhiễm và họ cũng làm cho đàn na mất tín tâm. Người không kính trọng ta, phải tự nghĩ vì ta không đủ đức hạnh. Nghĩ như vậy cũng đúng với tinh thần Phật giáo Nguyên
thủy. Thật vậy, năm anh em Kiều Trần Như chưa gặp Phật đã là những nhà hiền triết quyết tâm tu hành. Phật đến độ họ, chỉ có Kiều Trần Như liền ngộ đạo, đắc quả A la hán; nghĩa là đã vượt qua được sự bức ngặt của đói khát, nóng lạnh và tâm thanh tịnh hoàn toàn. Đức Phật mới cho ngài đi khất thực chung. Bốn vị còn lại phải ẩn tu, vì chưa có hảo tướng, người trông thấy không phát tâm, đôi khi còn chống phá.
Đắc đạo, Đức Phật nghĩ rằng nếu đưa ra Chân thật môn, tức chỉ bày chân lý, mọi người không tiếp thu được, còn bị đọa. Đức Phật muốn vào Niết bàn, vì những điều Ngài hiểu, chứng được, thì không dạy được, vì nghiệp của chúng sanh quá sâu nặng và họ lại không có trình độ. Lúc đó, mười phương Phật hiện ra, ấn chứng cho sự thấy đúng của Phật Thích Ca và tất cả những gì mà Ngài chứng đắc cũng như của Phật mười phương chứng đắc.
Nhưng thấy đúng rồi, có làm được không? Chúng ta phát tâm tu hành thường rơi vô lý tưởng. Lý tưởng luôn luôn quá đẹp, mà thực tế lại phũ phàng. Khoảng cách rất xa giữa thực tế và lý tưởng làm cho chúng ta thất vọng, bất mãn, chán nản, buồn phiền, v.v…; trần lao nghiệp chướng từ đây phát sanh liền.
Đức Phật Thích Ca đắc đạo, tương thông được với mười phương Phật, quả là tuyệt vời. Nhưng Ngài trở lại cuộc đời, thân cận với chúng sanh đầy đủ tham sân si để cảm hóa họ đi theo con đường chân thật giải thoát hoàn toàn, không còn khổ đau sanh tử, là cả vấn đề không đơn giản chút nào. Thấu hiểu sự khó khăn này, chư Phật mười phương khẳng định với Phật Thích Ca rằng tất cả chư Phật hiện thân trên cuộc đời, giáo hóa chúng sanh, đều phải
mở cánh cửa phương tiện cho họ đi vào. Con đường chân thật của Phật đi, chúng sanh không thể nào đi được.
Trên bước đường tu, tôi nhận rõ ý này. Chúng ta phải chấp nhận thực tế là mỗi người có hoàn cảnh khác nhau, không ai giống ai, nên không thể bắt chước được. Từ hoàn cảnh riêng mà tu hành, ý thức về lời Phật dạy là pháp sai biệt dành cho mỗi người khác nhau.
Đức Phật Thích Ca triển khai tám mươi bốn ngàn pháp môn tu, nghĩa là chúng sanh có bao nhiêu phiền não, trần lao nghiệp chướng, thì Phật có bấy nhiêu pháp tương ưng để đối trị. Còn Thánh La hán không có phiền não, trần lao nghiệp chướng; nên không có pháp đối trị dành cho các ngài. Phật dạy tất cả giới luật mà Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di phải tuân thủ; vì họ sẽ phạm những lỗi lầm, nếu không được cấm ngăn, bảo vệ. Đối với hàng Thánh Tăng như Kiều Trần Như, Đức Phật không chế giới. Mới thấy Phật, tâm ông liền thanh tịnh, đắc quả A la hán, thì cần gì giới điều ràng buộc.
Đức Phật triển khai tất cả giới nhằm giúp chúng ta không sanh khởi tâm phiền não, không phạm hành động xấu ác, không làm những việc vô ích, có hại… Vì vậy, khi nương được pháp phương tiện của Phật dạy, chúng ta tu hành, tâm hồn được thoải mái, an vui, bởi nhận chân được sự thật của cuộc đời; chúng ta không lý tưởng hóa mọi việc, không nhận thức sai lầm.
Thuở nhỏ, một vị Hòa thượng dạy tôi tụng Pháp Hoa sẽ hết bực bội, buồn phiền; nếu không thì cứ thắc mắc tại sao thế này mà không thế kia và không bằng lòng ai cả. Hòa thượng dạy rằng phải
nhìn đúng sự thật, con cò phải trắng, con quạ phải đen. Không thể bắt con quạ trắng như con cò. Phải nhìn rõ cốt lõi bên trong của một người là gì. Nếu họ là tiên giáng phàm, không dạy, họ vẫn có cốt cách thần tiên. Trái lại, bắt khỉ mặc áo người, nó cũng chỉ làm được trò khỉ.
Bồ tát, Thánh Tăng tái sanh, tất yếu cốt lõi của họ là Bồ tát, Thánh Tăng. Người làm thuê ở mướn, hay người trốn nợ, trốn tù, cạo đầu vô chùa ở, thì phải cảnh giác họ. Phải nhìn thấy thực, tưởng lầm họ là Thánh thì nguy hiểm vô cùng. Những người nặng về hình thức, tưởng tất cả người mặc áo tu là thực tu, dễ bị lợi dụng, phiền não, thoái tâm.
Phật dạy quán sát thật tướng các pháp; nghĩa là công nhận sự thật, thấy sự thật, không thấy khác và thấy rõ rồi, mới khai phương tiện. Tôi không cho phép anh bị nghiện xuất gia, nhưng dạy anh ta pháp cai nghiện. Từ bi cho họ ở, phải trông chừng cẩn thận; không để ý, họ gây rắc rối liền. Đối với người này, pháp cai nghiện là thích hợp nhất.
Đức Phật đã dạy có nghiệp phải sám hối cho tiêu nghiệp mới tu được; ví như chiếc áo dơ phải giặt sạch mới nhuộm màu được. Giải thích ý này, ngài Trí Giả chia ra ba hạng người tu. Hạng người thứ nhất gọi là hảo tâm xuất gia, đồng chơn nhập đạo. Họ đã trồng căn lành với Phật ở đời trước; nay tái sanh trên cuộc đời, không bị trần lao làm ô nhiễm và tìm đường giải thoát. Điển hình như Hòa thượng Trí Tịnh thuở còn bé, chưa tu, lên núi Ông Cấm, gặp Tổ Vạn Linh đắc đạo. Ngài nói rằng đời trước chú bé này đã là Hòa thượng, mai kia cũng sẽ là Hòa thượng; các ông đừng xem thường. Chưa tu, nhưng cốt cách Hòa thượng đã có rồi.
Tổ Thiên Thai ví những người hảo tâm xuất gia, đồng chơn nhập đạo như cái áo trắng sạch, nhuộm màu đạo dễ thấm lắm. Với những người đầy đủ tư chất trong sạch như vậy, chúng ta phát hiện được căn lành của họ và nuôi lớn căn lành này cho họ. Họ thông minh, nghiệp trần không có, nên phát triển đạo hạnh rất nhanh. Không có nghiệp, nên không bị phiền toái của vật chất đòi hỏi, không bị tình cảm tầm thường chi phối và trí tuệ đã sáng, thâm nhập Phật huệ dễ dàng.
Hòa thượng Trí Tịnh chuyên tụng phẩm Phương tiện thứ hai của kinh Pháp Hoa. Tôi nhận ra pháp phương tiện giúp chúng ta không mắc bệnh cố chấp; vì yếu nghĩa của phương tiện chỉ cho chúng ta nhận chân được sự thật, chúng ta sẽ không phạm sai lầm. Họ không thể là Tăng sĩ, nhưng chúng ta cho xuất gia, cuối cùng cũng hoàn tục mà còn có hại nữa. Có Thầy nói rằng lo cho một đệ tử ăn học xong, lại ra đời, buồn quá. Nhận rõ sự thật, chúng ta sẽ không buồn. Tôi thấy cậu bé thông minh, nhưng không có căn lành, không cho xuất gia; nhưng tôi cho tiền học, để sau họ thành tài, sống lợi ích cho bản thân họ và lợi cho xã hội.
Hạng người thứ hai ví như chiếc áo bẩn; nghĩa là đời trước họ có tu, nhưng tái sanh, gặp Phật pháp hơi muộn. Tuy sống với đời, mà tâm vẫn nghĩ đến đạo; nên khi gặp được chân sư khai ngộ, họ liền xuất gia. Hòa thượng Thiện Hòa tiêu biểu cho mẫu người này. Ngài là Giám đốc Phật học đường Nam Việt, lập gia đình rồi mới đi tu. Ngài gặp Tổ Khánh Hòa, phát tâm tu. Nhờ có căn lành đời trước, nên đời này sống trong gia đình giàu có, khi phát tâm tu, ngài sám hối tội căn ở ba mặt. Một là Hòa thượng sám hối bằng
cách vào Phật học đường sống chung với chư Tăng, ngài nhận làm công việc phục vụ đại chúng.
Mặc dù đã là Giám đốc Phật học đường, ngài cũng quét sân chùa mỗi ngày để tích lũy phước. Sống trong đại chúng, ngài không kiêu căng, buồn phiền; chỉ lo công quả, lập công bồi đức, vì sợ thọ hưởng bị tổn phước. Và xuất thân từ gia đình giàu có, ngài sử dụng tiền của để lo cho đại chúng. Nhờ pháp sám hối này, huynh đệ cảm mến đức độ của Hòa thượng. Tôi nghe các Hòa thượng cả ba miền Bắc, Trung, Nam đều khen ngợi ngài là người tốt, siêng năng nhẫn nại làm việc đạo, không làm mất lòng người.
Pháp sám hối thứ hai của Hòa thượng là ngài thường lạy Hồng danh Phật, lấy Phật đức trang nghiêm thân tâm; vì thế, tâm lần thanh tịnh, thân khỏe mạnh. Lạy Phật đến thấy hảo tướng Phật hiện ra, là chúng ta nhìn đâu cũng thấy Phật, thấy mây bay núi non cũng tưởng như Phật, nên không còn phiền não.
Lạy Phật xong, bước ra khỏi chánh điện, gặp người mình ghét, phiền não nổi dậy, là ác tướng hiện ra, chưa nhuộm màu đạo được, có nhuộm màu gì cũng trở thành lem luốc. Vì vậy, sám hối chưa sạch nghiệp mà thọlãnh giáo pháp Phật, người này khó tiến tu.
Và pháp sám hối thứ ba mà ngài áp dụng là xứng tánh sám hối. Tất cả hiện tướng đều biến mất, để tâm trí hoàn toàn vắng lặng, mới nhuộm màu đạo được. Hạng người này nhờ công quả, lạy Phật, nghiệp sạch lần; nên tâm yên tĩnh, Phật pháp tự hiểu dễ dàng và việc hành trì pháp Phật cũng thành tựu một cách nhẹ nhàng.
Hạng người thứ ba ví như chiếc áo vừa dơ vừa rách; nghĩa là người có tội ngập đầu, cũng phải giặt áo cho sạch, tức tâm sám hối cho sạch nghiệp. Mang nghiệp quá nặng, tâm đau khổ, thân tội lỗi; chỉ còn cách công quả, kiếm chút phước, phục vụ đại chúng để kết duyên lành. Chỉ mong được vậy thôi cũng may lắm rồi và hy vọng đời sau sẽ có được thân khỏe mạnh, trong sạch, không buồn phiền, không tội lỗi, mới dễ tu.
Riêng tôi, thuở nhỏ xuất gia cũng tâm niệm như vậy; vì cuộc đời mình nghèo thiếu, bệnh hoạn, xấu xí thường kèm theo sân si. Nhờ nương pháp phương tiện của Phật tu hành, hoàn cảnh lần đổi khác, được Phật hộ niệm, bổ xứ cho làm một số việc, thành tựu một ít Phật sự. Vì vậy, tôi rất tâm đắc lời tâm sự của Xá Lợi Phất bộc bạch với Đức Phật rằng dù đầu đội và hai vai cõng vác Phật, cũng không bao giờ đền đáp được công ơn vô bờ bến của Đức Thế Tôn.